LỜI
ĐẦU SÁCH
Quyển
“MỚI VÀO CỔNG CHÙA” ra đời trước, chúng tôi hướng
dẫn độc giả vừa mới làm quen với mùi tương dưa, còn
ngỡ ngàng khi bước chân vào cổng chùa. Đến quyển “VÀO
CỔNG CHÙA”, chúng tôi nhắm đến những độc giả đã quen
thuộc với những chiếc mái vốn cong, từng nghe tiếng mộc
ngư nhịp đều buổi tối và tiếng chày kình ngân nga buổi
khuya. Tuy nhiên vẫn còn là khách thấy nghe thân cận nhà chùa,
chưa phải là người sống trong chùa.
Mục
đích chúng tôi cho ra đời những quyển sách nầy cốt nhằm
vào người sơ cơ. Bởi vì bước đầu đạo tuy dễ mà khó.
Dễ là hướng đâu đi đó, không có sự nghi ngờ tranh luận.
Khó là một bước đầu mà đi sai thì trăm bước, ngàn bước
đều sai. Cho nên người có trách nhiệm hướng dẫn phải
dè dặt và quan trọng ngay bước đầu. Những đề tài chúng
tôi viết trong hai quyển “MỚI VÀO CỔNG CHÙA” và “VÀO
CỔNG CHÙA”, đều nhằm sáng tỏ tinh thần học Phật và
tu Phật. Chúng tôi cố vạch trần những điều đúng và sai
trong hiện tượng Phật giáo hiện nay, để người Phật tử
phân biệt rành rõ. Chúng tôi cố làm như thế, không gì khác
hơn để hướng Phật tử “bước đầu khỏi lầm”.
Trong
quyển sách nầy, bài sau chót là bài giảng ngày lễ Vu Lan,
chúng tôi giảng vào năm 1977 được ghi lại. Đã là ghi lại
nên tính chất của nó là văn nói, mong độc giả chỉ cần
hiểu ý đừng nệ lời. Vì đề tài “Tinh thần giác ngộ
của đạo Phật” cần thiết để kết thúc quyển sách, nên
chúng tôi ghép lại ở sau. Chủ yếu muốn độc giả dùng
con mắt trí tuệ vào đạo.
Kính
ghi
THÍCH
THANH TỪ
Tu
viện CHÂN KHÔNG
Mùa
An Cư năm Tân Dậu
1981
BÀI
I
MÊ
TÍN – CHÁNH TÍN
I.
MỞ ĐỀ
Đạo
Phật chủ trương giác ngộ mang ánh sáng trí tuệ soi rọi
cho thế gian. Mọi lẽ thật đều hiện bày dưới ánh sáng
giác ngộ, nhận lấy lẽ thật rồi mới khởi lòng tin đó
là “chánh tín”. Ngược lại, bày những điều mê hoặc
làm mù quáng người đời, lừa bịp thế gian, ấy là “mê
tín”. Hoặc không hiểu rõ, không có lý lẽ, mà tin càng tin
bướng là “mê tín”. Tin bướng là họa hại đưa con người
đến đường mù tối. Thấy rõ biết đúng mới tin là sức
mạnh vô biên khiến người thành công trên mọi lãnh vực.
Thế nên trong kinh Hoa Nghiêm có câu “Tin là nguồn của đạo,
là mẹ của mọi công đức. Tin hay nuôi lớn các gốc lành”.
Vì thế người học đạo cần có lòng tin, song lòng tin đã
qua sàng lý trí gạn lọc kỹ càng. Tuyệt đối không được
tin càng, tin bướng là băng hoại tinh thần giác ngộ của
đạo Phật. Chính trong kinh Di giáo Phật dạy: “... Xem tướng
lành dữ, trông xem sao hạn, xem xét thạnh suy, coi ngày đoán
số đều không được làm ...”
I.
MÊ TÍN
Mê
tín là lối tin mù quáng khiến con người mất hết trí thông
minh. Những kẻ chủ trương mê tín là người làm hoặc loạn
thế gian, đưa dân tộc lùi lại bán khai. Một tôn giáo chân
chính, một dân tộc văn minh, không cho phép mê tín len lỏi
trong tín đồ mình, trong dân tộc mình. Thế mà, đồng bào
chúng ta, trong Phật giáo chúng ta, tệ đoan mê tín vẫn còn
nhiều:
a.
Đồng cốt
Đồng
cốt là hiện tượng mê hoặc khủng khiếp. Những kẻ làm
ông đồng, bà cốt đều là người sống trong trạng thái
bất bình thường. Bản thân họ đã mất hết khả năng tự
chủ, họ bị sai sử bởi một ma lực quyền bí nào đó. Khi
ma lực ấy dựa vào họ, liền lạm dụng các danh hiệu thánh,
những bậc vĩ nhân của thưở xưa dùng mạo xưng để lừa
bịp người đời. Những kẻ yếu vía dễ tin nghe xưng danh
hiệu Phật, Bồ tát hay những vị tiên thánh liền khiếp đảm
kính tin. Họ không dám phê phán đó là tà hay chánh. Thế rồi,
họ một mực quì mọp để được phong chức, hoặc nhận
phép lành. Họ bị gạt bằng những bùa tà phép lạ, những
huyền hoặc về quá khứ vị lai. Từ đây sống bằng ảo
vọng mơ huyền, mất hết lý trí thực tại.
Chúng
ta phải khám phá dẹp tan những lối mê hoặc ấy. Riêng về
nhà Phật trong kinh đã dạy rõ, khi chứng đến quả Phật,
Bồ tát, A La Hán đều có đủ lục thông, tam minh... Vì thế,
Bồ tát hay A La Hán muốn hóa độ kẻ hữu duyên liền dùng
thần thông hiện giáo hóa, như Bồ tát Quán Thế Âm trong phẩm
Phổ Môn của kinh Pháp Hoa chẳng hạn. Không khi nào các bậc
Thánh phải gá vào thân kẻ phàm tục khác làm việc giáo hóa.
Vì các ngài đầy đủ thần thông biến hóa vô ngại. Như
thế, những ma lực tựa vào đồng cốt đều là sức của
quỉ thần. Vì sợ người đời không tin, nên chúng mạo xưng
những danh hiệu cho to để gây uy tín. Biết rõ tính cách ma
mị của chúng, người Phật tử phải tránh xa, tuyệt đối
không được phụ họa với chúng, huống là qui kính. Có thế
mới tỏ ra là người Phật tử chân chánh.
b.
Lịch số, sao hạn
Thời
gian không thật do khái niệm con người đặt ra, huống là
trên thời gian lại đặt ra ngày tốt ngày xấu, năm lành năm
dữ ... Thử đặt ra một thí dụ, chúng ta đốt một ngọn
đèn đặt ở bên phải, lấy một cái gương tròn nhỏ để
ở bên trái, cách nhau năm tấc tây, khoảng giữa đặt một
quả bóng (trái banh). Chúng ta dùng tay xoay tròn quả bóng, phía
nằm bên ngọn đèn là sáng, phí khuất ngọn đèn là tối.
Cứ xoay mãi, quả bóng đổi chiều sáng tối liên tục. Trục
quay ấy có lúc tiến đến trước ngang ngọn đèn làm khuất
ánh sáng soi vào mặt gương, ánh sáng mặt gương không phản
chiếu lại quả bóng, phía khuất ngọn đèn. Có những con
kiến ở trên quả bóng, thấy quả bóng mặt sáng gọi là
ngày, mặt tối gọi là đêm, những lúc mặt gương không phản
chiếu ánh sáng vào quả bóng gọi là 30, những lúc mặt gương
phản chiếu ánh sáng vào quả bóng đầy đủ gọi là rằm...
Lại đặt mặt sáng của quả bóng vòng một là ngày tốt,
vòng hai là ngày xấu... Cảm thông được điều đó, chúng
ta có tức cười cho loài kiến hay không? Quả thực chúng bày
biện một cách vô lý. Ngọn đèn, quả bóng, mặt gương đều
là vô tri, động lực quay nó thì cứ quay vậy thôi, có gì
là linh thiêng huyền diệu, mà chúng ta lại đặt là ngày tốt
ngày xấu.
Cũng
thế, nhật cầu, nguyệt cầu và địa cầu đều là vô tri,
chúng quay gần nhau theo cái trục cố định, mặt địa cầu
hướng về nhật cầu thì sáng, mặt khuất thì tối. Cái trục
quay ấy có khi địa cầu xê tới che khuất ánh sáng nhật
cầu không soi đến nguyệt cầu, có khi sụt lại, ánh sáng
nhật cầu soi đầy đủ vào nguyệt cầu, ánh sáng nguyệt
cầu phản chiếu lại mặt tối của địa cầu. Thế rồi,
con người sống trên địa cầu trông vào sự sáng tối tùy
khái niệm đặt thành ngày đêm, giờ phút, theo sự phản chiếu
của nguyệt cầu đặt ra rằm, ba mươi, thành tháng, năm. Thời
gian là do tưởng tượng của con người đặt ra không thật.
Phương chi trên thế gian ấy lại còn đặt thêm lành dữ tốt
xấu... Quả thực con người quá bày biện, quá rối ren. Đã
bày biện ra rồi, tự cột trói mình. Khi đã có ngày tốt
mới dám đi, làm gì phải đợi ngày tốt mới làm. Thậm chí
cất nhà xây bếp cũng phải lựa ngày chọn tháng, định đôi
gã lứa cũng phải coi tuổi hạp, không hạp. Con người bị
bao phủ trong ổ tơ rối nùi ấy, rồi than khóc, khổ đau.
Chính vì ngày tháng tuổi tác tạo ra cho con người không biết
bao nhiêu đau khổ. Chúng ta hãy nghe người nông dân miền Nam
nguyền rủa họ qua bài hát:
Cọp mà vật mấy ông thầy địa
Yêu mà nhai mấy chú coi ngày
Trớ trêu họ khéo đặt bày
Hai đứa mình thương thiệt, ông trời rày bảo thương.
c.
Coi Tay, xem tướng
Coi
tay, xem tướng cũng có khi trúng, song ông thầy ấy luôn luôn
nói câu thòng: “Tay hay tướng của ông có hiện điều xấu,
có thể đến tháng đó sẽ mắc nạn, nếu ông biết làm lành
làm phước có thể qua”. Thế thì đến tháng đó, nếu người
ấy mắc nạn thì khen ông thầy xem trúng, bằng không mắc
nạn thì ông thầy đổ tại làm lành làm phước. Như thế,
mặt nào ông thầy cũng hay hết. Nhưng chúng ta thử kiểm điểm
xem, cả hai mặt mắc nạn và không, có lợi gì cho người
đi coi không? Nếu coi tay tốn một số tiền, đến khi mắc
nạn cũng phải tự chịu, ông thầy có cứu giúp cho mình được
gì đâu. Nếu đến tháng thọ nạn, người coi tay không thọ
nạn cho là làm lành làm phước được qua thì, mình tự cứu
mình, ông thầy cũng không làm gì cho mình. Như vậy đi coi
chi cho uổng tiền. Hơn nữa ở đầu quyển sách tướng có
bài kệ:
Hữu tâm vô tướng
Tướng tự tâm sanh
Hữu tướng vô tâm
Tướng tùng tâm diệt.
Dich:
Có tâm tốt không tướng tốt
Tướng tốt theo tâm tốt sanh
Có tướng tốt không tâm tốt
Tướng tốt theo tâm xấu mất.
Thế
thì, chúng ta cần phát tâm tốt làm việc tốt thì điều tốt
sẽ đến. Chúng ta chứa chấp những tâm niệm xấu xa thì
mọi điều dữ sẽ đến. Điều căn bản là chúng ta làm tốt
hay làm xấu, quả tốt xấu sẽ đến với chúng ta. Không phải
quan trọng ở bàn tay hay tướng mạo. Thế mà, chúng ta không
ứng dụng ngay cội gốc, lại chạy theo ngọn ngành, hao phí
tiền bạc một cách vô ích, đó gọi là mê tín.
d.
Xin xâm, bói quẻ
Xin
xâm bói quẻ là một việc làm cầu may. Rủi may là điều
xảy ra không có duyên cớ. Phó thác hành động của mình,
cho đến phó thác cả đời mình vào chổ không có duyên cớ,
thật là tệ hại. Thánh, Thần có rảnh đâu mà ngồi sẳn
trên bàn để ứng hiện trong xâm quẻ cho quí vị. Nếu người
xin xâm bói quẻ có trúng, chẳng qua phước nghiệp, lành dữ
của mình mà hiện ra. Như sách nói: “Phước chí tâm linh,
họa lai thần ám”. Nghĩa là người gặp lúc phước đến
thì giở quẻ ra đều tốt, khi họa lại thì rút lá xâm nào
cũng xấu. Thế là tốt xấu tại mình, không phải tại xâm
quẻ. Chúng ta cứ sửa mình cho tốt thì mọi việc đều tốt,
đi xin xâm bói quẻ làm gì? Xin xâm bói quẻ chỉ khiến chúng
ta lo sợ thêm. Cao dao Việt Nam có câu:
Tay cầm tiền quí bo bo
Đem cho thầy bói mang lo vào mình
Làm
việc không lợi ích, lại tốn hao tiền bạc, mang lo sợ vào
lòng, không phải mê tín là gì?
e.
Cúng sao, xem tướng
Lệ
cúng sao hạn, thật là lạc hậu lỗi thời. Sao là những hành
tinh cách xa chúng ta bao nhiêu ngàn cây số. Nó là cái gì mà
chúng ta phải cúng. Tục lệ các chùa quê vào ngày mùng chín
tháng giêng là cúng sao hội. Người Phật tử nào không gởi
tên cúng sao, xem như năm ấy không được bảo đảm an ninh.
Song người chủ cúng sao cho quý vị có bảo đảm an ninh chưa?
Có lẽ quí vị ấy quên ghi tên mình trong bài sớ cúng sao
chớ gì? Thật là vô lý, đạo lý nhơn quả đức Phật
dạy rành rành trong kinh, mà người ta bất chấp. Thân tổng
báo của chúng ta có lẫn lành với dữ, khi nhơn lành đến
thì hưởng quả lành, khi nhơn dữ đến thì chịu quả dữ,
không thể chạy trốn được. Chỉ có tạo nhơn lành nhiều,
khi quả dữ đến sẽ nhẹ đi hoặc giảm bớt. Ví như trước
kia chúng ta đã làm khổ một người, vì lúc đó họ thiếu
khả năng trả thù nên dường như thông qua. Đến lúc nào
đó, họ đủ điều kiện trả thù, nếu chúng ta không được
nhiều người thương che chở thì, quả đó sẽ đúng với
nhơn kia. Ngược lại, nếu chúng ta quá được nhiều
người ủng hộ che chở, quả phải trả sẽ nhẹ hoặc giảm
mất cũng có. Bởi thế nên, sợ quả khổ không gì hơn, chúng
ta phải tạo nhơn vui. Cúng sao cúng hạn để cầu được an
vui là điều phi lý.
Xem
hướng cất nhà, xây bếp cũng là một lối mê tín. Có lắm
người trong nhà vợ chồng bất hòa, con cái ngỗ nghịch, liền
rước thầy đến xem hướng sửa cửa, đổi bếp. Nếu cửa
và bếp biết nói, sẽ cãi lại với bà chủ nhà rằng: “Cải
lẩy tại ông bà không biết nhường nhịn nhau, chúng tôi có
tội lỗi gì mà phải dời chỗ nầy đổi chỗ kia”. Những
việc làm nầy đủ nói lên người ta trốn tránh trách nhiệm,
không bao giờ dám nhìn thẳng những cái quấy lỗi lầm của
mình, tìm cách đổ lỗi cho cái gì mà không thể cải lý được
với họ. Như thế, dù họ có sửa đỗi trăm ngàn lần, lộn
xộn vẫn lộn xộn, bất an vẫn bất an. Vì cái chủ động
trong việc bất an ấy, có chịu sửa đổi đâu. Thế nên,
người học đạo phải thấy rõ chỗ vô lý nầy, không nên
lầm lẫn một cách tối dốt như vậy.
g.
Đốt giấy tiền, vàng mã
Việc
đốt giấy tiền vàng mã là việc vô lý trên vô lý. Không
thể người có đôi chút nhận xét, lý luận mà chấp nhận
việc ấy được. Chính trên thế gian này, đồng tiền của
nước này sang nước khác còn khó được chấp nhận, huống
là nhơn gian in, xuống âm phủ xài, có lý lẽ gì tin được.
Những chiếc lầu bằng giấy, quần áo bằng giấy, làm xong
đốt gởi xuống âm phủ cho thân nhân dùng, quả là việc
làm phí của vô ích. Thử hỏi thân nhân họ là cái gì mà
chờ đốt quần áo gửi xuống. Họ đều là đồ vô chủ
cô hồn hết sao? Hay họ đã theo nghiệp lành dữ mà sanh nơi
khác? Nếu là Phật tử còn không ai biết rõ Phật dạy: “Chúng
sanh tùy nhgiệp thiện ác, theo đó thác sanh nơi cõi lành cõi
dữ”. Thân nhân chúng ta chết cũng theo nghiệp thọ sanh, chớ
đâu ngồi chờ chúng ta gởi nhà cửa áo quần xuống xài.
Như thế, việc làm ấy, vừa trái đạo lý, vừa phí tổn
tiền bạc vô ích. Người Phật tử không bao giờ chấp nhận
việc làm mù quáng ấy.
III.
TAI HẠI MÊ TÍN
a.
Quàng xiêng khờ khạo
Người
mê tín theo quỉ thần là tin một cách quàng xiêng không có
căn cứ không có lý luận tin bướng tin càng, mất hết lý
trí, trở thành con người khờ khạo. Đó là hình ảnh những
người tin vào ông đồng bà bóng, xác cô xác cậu tạo nên.
Tại sao họ như thế? Bởi vì họ gởi gấm tâm hồn vào sự
huyền bí, vào thế giới vô hình, họ mất hết trí thông
minh thực tế. Có khi họ gần như người điên nói lảm nhảm
một mình, hoặc nói những việc đâu đâu vô căn cứ...
b.
Bị cột trói, ích kỷ, tàn nhẫn
Người
mê tín vào lịch số, ngày giờ, là kẻ bị cột trói một
cách thảm hại. Họ không bao giờ dám quyết định, một việc
làm thích hợp với thời biểu hiện tại. Họ đợi giở lịch
xem giờ tốt hay xấu, ngày lành hay dữ. Thế rồi họ bị
chết khổ trong cái rọ ngày giờ. Bởi quen lựa ngày giờ
tốt xấu, nên họ trở thành con người ích kỷ dễ sợ. Có
những việc đáng làm ngay lúc đó để giúp người, họ lại
sợ giờ xấu rồi không chịu làm. Cho đến những việc ma
chay cha mẹ họ vẫn lựa ngày tốt giờ tốt để lợi cho
con cháu họ, không nghĩ gì đến người chết. Có khi còn dùng
thuật trấn ếm nếu cha mẹ họ chết nhằm ngày trùng. Thật
là tàn nhẫn, họ không còn tình thương đối với người
chết. Mọi việc ma chay chọn lựa ngày giờ, họ đều một
bề vì họ. Những người ấy lúc nào cũng nơm nớp lo sợ,
trên đầu trên cổ họ đã cột sẵn trăm ngàn mối dây năm
tháng ngày giờ, không cho họ thông thả một phút giây nào.
c.
Khiếp nhược, mất tự tín
Người
tin vào bói, xâm, sao, hạn... là con người khiếp nhược mất
tự tin. Bởi không tự tin nên làm việc gì họ cũng phải
đi hỏi thần, hỏi thánh. Họ lo âu, sợ hãi năm nào gặp
sao La Hầu, Kế Đô. Nhơn lành họ không chịu tạo, nhơn dữ
không chịu tránh, mà một bề sợ sao sợ hạn, quả là những
con người mù mịt, tối tăm. Họ sợ những cái không đáng
sợ, họ cầu những điều không thể cầu, thực là quái quăm
vô lý. Người Phật tử thấy rõ lẽ tà chánh ấy, can đảm
quăng đi những tệ tục sai lầm, mới có thể sống với tinh
thần đạo giác ngộ.
IV.
CẦU NGHUYỆN LÀ CHÁNH TÍN HAY MÊ TÍN?
Trong
nhà chùa mỗi khi tụng kinh, mọi Phật tử đều có cầu nguyện.
Sự cầu nguyện này là chánh tín hay mê tín? Câu hỏi này
không thể trả lời một chiều, tùy chỗ hiểu biết của
mỗi người, sự cầu nguyện là mê tín, cũng là chánh tín.
a.
Mê tín
Nếu
chúng ta khẳng định rằng mọi sự cầu nguyện đều được
toại nguyện, đó là mê tín. Vì sao? Bởi vì nếu cầu nguyện
mà được thì không cần nói đến nhơn quả nghiệp báo. Nếu
mọi sự kiện xảy ra đều do nhơn quả thì sự cầu nguyện
khó mà toại nguyện. Bởi lẽ, thế gian có kẻ tạo nghiệp
lành, người tạo nghiệp dữ. Người tạo nghiệp lành, khi
phước báo đến thì được như nguyện. Kẻ tạo nghiệp dữ
khi nghiệp báo đến, dù có nguyện cầu cũng khó thoát khỏi
quả khổ. Thế thì làm sao dám cố định cầu nguyện là được
như ý. Người chấp cố định, là sai lầm, không hợp lý,
nên thuộc mê tín.
b.
Chánh tín
Chúng
ta chỉ xem cầu nguyện như những lời chúc lành là chánh tín.
Vì quí kính cha mẹ, quí kính người thân, chúng ta hằng cầu
nguyện cho những vị ấy, song có được như nguyện hay không
còn tùy thuộc phước duyên dày mỏng của những vị ấy.
Mặc dù không được như nguyện, cũng nói lên được lòng
hiếu thảo chân thành của chúng ta. Cũng như vì hiếu kính
những người trưởng thượng, những bạn bè thân hữu, đầu
năm mọi người chúc lành cho nhau. Những lời chúc lành này
không hẳn thể hiện được, nhưng cũng nói lên được lòng
quí mến nhau.
Hơn
nữa, người tu Phật cầu nguyện với mục đích phá tan tâm
niệm vị kỷ của mình. Bất cứ một Phật sự nào, chúng
ta đều hồi hướng nguyện cầu cho tất cả chúng sanh đều
thành Phật đạo. Mới nghe qua dường như những lời nguyện
suông, không thể thực hiện được. Song trên tinh thần phá
ngã, cứ lập tới, lập lui mãi tâm niệm vì tất cả chúng
sanh, khiến người ta quên bẳng bản ngã riêng tư của mình.
Mọi việc làm đều không phải vì mình, không được nghĩ
lợi ích riêng cho mình, mà phải vì nhơn loại, vì tất cả
chúng sanh. Hàng ngày cứ huấn tập mãi tâm niệm này, đến
một khi nào đó, chúng ta không còn thấy bản ngã riêng, đồng
hóa mình và chúng sanh không khác. Thế là chúng ta phá được
chấp ngã và phát tâm đại từ bi, xem mọi khổ vui của người
như của chính mình. Hiểu cầu nguyện và ứng dụng cầu nguyện
như vậy, quả thật là chánh tín.
V.
CHÁNH TÍN
a.
Tin nhơn quả
Đứng
về chiều thời gian, vạn vật đều có trong vũ trụ này,
không một vật nào thoát ngoài nhơn quả mà được hình thành.
Trên tiến trình sinh diệt, quyết hẳn vạn vật từ nhơn tiến
đến quả, từ quả trở lại nhơn. Nhơn quả, quả nhơn xoay
vần không dứt. Đó là hiện tượng sinh hóa trên cõi nhơn
gian. Nghiệm xét thấu đáo, chúng ta không thấy có một vật
gì không nhơn mà có, ngẫu nhiên mà thành. Thấy rõ lý nhơn
quả, chúng ta khéo uyển chuyển cái xấu trở thành tốt, cái
dở trở thành hay. Thấy rõ lý nhơn quả, chúng ta nắm chắc
quyền tự chủ, tạo dựng tương lai tươi đẹp cho chính mình.
Lý nhơn quả vừa là khoa học, vừa là sức mạnh chuyển tiến
của con người. Tìm hiểu tường tận lý nhơn quả là người
thông minh. Biết ứng dụnh lý nhơn quả là con người tiến
bộ. Khảo sát theo nhơn quả là lý luận chặc chẽ, là hiểu
biết thấu đáo. Cho nên nghiệm xét lý nhơn quả tường tận
rồi, chúng ta tin tưởng là chánh tín.
b.
Tin nhơn duyên
Đứng
về mặt không gian, vạn vật trong vũ trụ đều do nhơn duyên
hợp thành. Không một vật nào do một đơn vị mà làm nên,
mà phải nhiều đơn vị hợp lại mới thành hình. Chính thế,
lý nhơn duyên thích ứng với tinh thần phân tích của khoa
học hiện nay. Nếu sự vật do một đơn vị làm nên thì,
còn gì phân tích. Bởi nhiều đơn vị hợp thành một vật
thể, người ta mới phân tích chia ra nhiều đơn vị, nhiều
loại. Nhỏ nhất như một nguyên tử, người ta phân tích trong
đó vẫn có nhiều phần hợp thành, huống là những vật thể
to tát. Do đó chúng ta thấy rõ lý nhơn duyên nhà Phật nói,
là một lẽ thực, đúng với tinh thần khoa học hiện thời.
Hiểu được lý nhơn duyên, chúng ta phá tan cái chấp lầm
vô nhơn và nhất nhơn. Hiểu được lý nhơn duyên, chúng ta
thấy rõ muôn vật trên thế gian có sự liên quan chằng chịt
với nhau. Chúng ta không thể tách một cá thể đứng ngoài
tập thể, một cá nhơn đứng ngoài nhơn loại. Đây là lý
do khiến dẹp được quan niệm cá nhơn ích kỷ. Chúng ta tích
cực xây dựng nên hạnh phúc chung cho nhơn loại, không riêng
của một cá nhơn. Tin lý nhơn duyên là tin bằng trí tuệ,
bằng khoa học, cho nên chánh tín.
VI.
LỢI ÍCH CHÁNH TÍN
a.
Trí tuệ
Nhận
rõ lý nhơn quả, lý nhơn duyên là tác dụng của trí tuệ.
Chính do nhận xét thấu đáo, phân tích rành mạch khiến trí
tuệ ngày càng phát triển. Nếu một đối tượng trước mắt,
chúng ta cứ thầm nhận là tự nhiên nó có, do tạo hóa làm
nên, thế là còn gì phải nhận xét phải phân tích. Cứ thế
mãi trí tuệ sẽ cùn mằn, không thể nào bén nhạy được.
Đó là cái cớ khiến người ta lười suy xét, lâu ngày trở
thành tâm trí ù lì chay cứng. Người Phật tử phải sống
bằng trí tuệ, nên thấy rõ vạn vật sinh thành hoại diệt
đều nằm trong hệ thống nhơn quả, nhơn duyên. Sự vật hiện
có mà không do nhơn quả, nhơn duyên là phi lý luận, phản
khoa học. Vì thế người chánh tín là người thực tế, khoa
học, nhận xét bằng trí tuệ.
b.
Chịu trách nhiệm
Thâm
đạt lý nhơn quả nhơn duyên, người ấy sẽ nhận lấy trách
nhiệm nên hư, hay dở, tốt xấu đều do mình. Mình là chủ
động gây thành nhơn tốt, tạo ra duyên lành. Mọi việc đều
không được tốt lành là do mình không chịu gây tạo, đây
là lỗi tại mình nào phải tại ai. Biết thế, chúng ta không
trốn tránh, không kêu than, trái lại can đảm chấp nhận để
rồi xoay chuyển. Bởi nhận rõ nhơn quả nhơn duyên, chúng
ta xét tột sự kiện xảy ra tốt xấu, phát xuất từ nhơn
nào, hội đủ nhơn duyên gì mới xảy ra như thế. Thế thì
dù có việc dở việc hay, chúng ta đều thấy rõ không lầm.
Chúng ta nỗ lực cố gắng tạo điều kiện để chuyển đổi
nó. Chịu trách nhiệm để chuyển đổi, không phải chịu
trách nhiệm để thông qua, đó là tinh thần của người chánh
tín.
c.
Tự tín
Biết
rõ dở hay do mình, quả thực mình là chủ nhơn của mọi sự
thành bại. Đau khổ, an vui, chính mình là người tạo ra. Ngày
mai tươi sáng, ngày mai tối tăm, ta là người chủ động.
Do thấu hiểu lý nhơn quả nhơn duyên, con người sẽ có sức
tự tính mãnh liệt. Nhờ sức tự tín, con người mới cố
gắng chuyển đổi, vươn lên trong mọi lãnh vực. Một dân
tộc có đức tự tín, không bao giờ cam chịu khuất phục,
chậm tiến. Có tự tín, là có một sức mạnh phi thường.
Có tự tín, sự tu hành mới không thối chuyển.
VII.
KẾT LUẬN
Mê
tín và chánh tín là hai con đường tối sáng khác nhau. Nếu
đi bên tối là không thấy bên sáng, nếu đi bên sáng thì
không kẹt trong tối. Đạo Phật chủ trương chánh tín, không
bao giờ chấp nhận mê tín. Do vì người truyền đạo không
thông lý đạo, nên ghép những tập tục thế gian vào trong
đạo, khiến người ta hiểu lầm đạo Phật mê tín. Bản
chất của đạo Phật là trí tuệ, là giác ngộ, làm sao dung
nạp được mê tín. Nếu người ta thấy trong chùa chiền hiện
nay còn những hiện tượng mê tín, vội phê bình đạo Phật
mê tín. Đấy là những oan tình của đạo Phật. Tất cả
những kinh Phật không có nói những việc mê tín ấy, chẳng
qua một số người vì tùy tục, vì thiếu hiểu Phật pháp
vẽ bày ấy thôi. Người học Phật phải gan dạ loại bỏ
những tập tục sai lầm ấy, can đảm dứt khoác đập tan
mọi tệ đoan làm suy giảm giá trị Phật pháp. Có khi dẹp
bỏ những điều đó, có thể thiệt thòi chút ích quyền lợi
của mình. Song chúng ta cương quyết vì chánh pháp, chớ khôg
vì lợi dưỡng, vì đưa người ra khỏi đường mê, không
vì sợ mất mát bổn đạo. Được thế, chúng ta mới xứng
đáng là người lãnh đạo tín đồ, mới không hổ thẹn là
hàng Tăng bảo.
BÀI
II
TỘI
PHƯỚC
I.
MỞ ĐỀ
Nói
đến tu hành là nói đến tội phước, nếu không rõ tội
phước tức là không rõ sự tu hành. Nếu người tu mà cứ
lao mình trong tội lỗi, ấy là người tạo tội cho không phải
là người tu hành. Mọi sự an vui và đau khổ gốc từ tội
phước mà sanh ra. Vì thế muốn thấu hiểu sự tu hành chúng
ta phải thấu hiểu tội phước. Tội phước là những hành
động thiết thực trong cuộc sống nầy, không phải là chuyện
siêu huyền mờ ảo đâu đâu. Thế nên người tu hành phải
thấu đáo, phải phân rành vấn đề tội phước.
II.
THẾ NÀO LÀ TỘI?
Tội
là hành động làm cho mình và người đau khổ trong hiện tại
và vị lai. Người làm tội cũng gọi là người dữ, người
xấu. Tội, có tội ngoài đời và tội trong đạo. Tội ngoài
đời là những kẻ phạm luật pháp nhà nước, bị tù đày
đau khổ. Tội trong đạo có hai loại : tội do hứa nguyện
gìn giữ mà không giữ, tội làm đau khổ chúng sanh. Tội do
hứa nguyện gìn giữ mà không giữ, như trước nhận giữ
năm giới hoặc mười giới là điều cao cả quí báu, ở trước
tam bảo nguyện trọn đời gìn giữ, mà sau nầy không giữ
được một hoặc nhiều điều, gọi là tội phạm giới. Tại
sao phạm giới gọi là tội? Bởi vì trước mình đã nhận
định những giới luật đó là hay là đúng, nếu giữ được
sẽ lợi ích cho mình và chúng sanh, nên nguyện gìn giữ. Sau
nầy mình không gìn giữ, thế là đã phá hoại sự lợi ích
của mình và của chúng sanh nên phạm tội. Thí dụ như giới
ăn trộm chẳng hạn. Bất cứ một hành động nào làm khổ
cho người hiện tại hoặc mai kia đều là tội. Bởi mình
đã gây ra nhơn đau khổ thì quả đau khổ mình phải lãnh
lấy. Do làm khổ mình, khổ người nên gọi là tội. Tội
có tội nhẹ và tội nặng.
A.
Tội nhẹ
Những
điều làm đau khổ cho người, cho chúng sanh, do thân miệng
chúng ta gây ra mà không cộng tác tới ý là tội nhẹ. Bởi
vì việc ấy là vô tâm, hoặc không có ý thức. Việc làm
vô tâm, khi nạn nhân cảm thông được, họ sẽ bớt thù hận,
nếu họ đại lượng có thể tha thứ luôn. Thí dụ chúng
ta đi đường, có đứa bé cầm hòn đất ném chơi, lại trúng
vào chúng ta. Nếu chúng ta biết nó không cố ý ném mình, tuy
đau điếng mà chúng ta không giận nó. Thế nên mọi hành động
bằng thân bằng miệng làm đau khổ người mà không có ý
thức là tội nhẹ, xin lỗi hoặc xám hối sẽ hết. Việc
làm đau khổ chúng sanh chút cũng là tội nhẹ.
B.
Tội nặng
Những
người làm đau khổ cho người cho chúng sanh, do thân miệng
cộng tác với ý chúng ta gây ra là tội nặng. Bởi vì việc
làm ấy là cố tâm, là hữu ý, khiến người oán giận không
thể tha thứ. Thí như có người cố tình đánh chúng ta, dù
cái đánh ấy bị cản trở không chạm đến thân chúng ta,
song biết kẻ ấy cố tình đánh mình, chúng ta cũng giận họ
đời đời. Vì thế hành động cố tâm, hữu ý là hành động
quan trọng nên tạo thành tội nặng.
Thế
nên tội phát xuất từ ba nghiệp chúng ta. Nơi thân : giết
người, trộm cắp, tà dâm. Nơi miệng : nói dối, nói hai lưỡi,
nói thêu dệt, nói hung ác. Nơi ý : tham, sân và tà kiến. Sự
hợp tác chặt chẻ của ba nghiệp nầy là tội nặng.
III.
THẾ NÀO LÀ PHƯỚC?
Phước
là những hành động đem lại sự an vui cho mình, cho người
ở hiện tại và mai kia. Người làm phước cũng gọi là người
lành, người tốt. Bởi vì những hành động đem lại sự
an vui cho người, người sẽ quí mến. Chính sự quí mến ấy
nên gặp vui vẻ và sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau. Chúng ta giúp
đỡ hoặc an ủi khiến người được an vui, người thù đáp
lại chúng ta bằng cử chỉ biết ơn vui vẻ quí mến, đó
là làm phước gặp phước. Vì thế người biết làm phước
hiện tại được an vui, mai sau vẫn an vui. Làm phước có hai
thứ : phước hữu lậu và phước vô lậu.
A.
Phước hữu lậu
Làm
cho mình cho người an vui tương đối trong vòng sanh tử là
phước hữu lậu. Do ba nghiệp chúng ta hoạt động đem lại
sự an vui cho người, chính hành vi ấy là sanh diệt giới hạn,
còn trong vòng sanh tử hiện tại cũng như mai sau. Chúng ta phải
nổ lực tạo điều kiện cho mình và mọi người thường
được an vui. Muốn thực hiện được việc đó, ngay nơi ba
nghiệp chúng ta phải ứng dụng các điều nầy :
1.
Về thân
a.
Cứu mạng
Chúng
ta phải sẵn sàng cứu giúp bảo vệ sinh mạng của người.
Nếu người gặp tai nạn sắp mất mạng, theo khả năng của
mình, chúng ta tận tâm cứu giúp. Giải cứu cho người thoát
chết, hoặc ngừa đón những sự việc có thể làm nguy hiểm
đến sinh mạng người, đó là việc làm phước của bản
thân. Bởi vì sinh mạng đối với con người là tối thượng
cho nên ai giải cứu họ khỏi chết, lòng an vui và biết ơn
vô kể.
b.
Bố thí
Kế
đến, sẵn sàng cứu giúp người khi gặp cảnh cơ hàn nguy
khốn. Nỗi khổ đói rét cũng đe dọa đến sinh mạng, người
đang lâm vào cảnh khổ nầy nếu được cứu giúp, họ cũng
vui mừng vô hạn. Chúng ta muốn được an vui thì phải sẵn
sàng mang sự an vui bủa khắp mọi người, đó là nền tảng
phước đức. Hạnh phúc không phải đến riêng với chúng
ta, mà do sự thù đáp từ hạnh phúc của mọi người mang
lại. Chúng ta đừng dại khờ cứ bo bo giữ lấy tài sản
vô thường làm của riêng mình, cần phải ban bố cho những
người đang thiết ta cần nó. Những cái vô thường mà cứ
giữ, có ngày sẽ khổ đau khi nó không còn ở trong tầm tay
mình nữa. Mượn của cải vô thường làm phương tiện an
vui cho người, nguồn an vui ấy sẽ trở về với chúng ta một
cách bền vững lâu dài.
c.
Trinh bạch
Cần
phải giữ hạnh trung thành trinh bạch. Người biết đạo lý
đã không dám xâm phạm đến danh giá và hạnh phúc của gia
đình người, còn phải trung thành trinh bạch với gia đình
mình. Tinh thần trung trinh ấy giúp cho người trong gia đình
tin cẩn lẫn nhau. Do sự tin cẩn nhau nên trong gia đình được
an ổn vui tươi. Trong gia đình đã thế, chúng ta cần nhắc
nhở chỉ dạy cho mọi người chung quanh đều tập hạnh trung
trinh này. Được thế sự an vui không những chỉ ở trong phạm
vi gia đình, mà tràn lẫn đễ xã hội.
2.
Về miệng
Tu
phước ở miệng phải tập bốn điều này:
a.
Nói chơn thật
Nói
chân thật để đem lại niềm tin tưởng an ổn cho người.
Bất cứ ở trường hợp nào, chúng ta cũng cố gắng nói lên
những lẽ thật. Luôn luôn tôn trọng và yêu chuộng lẽ thật.
Chơn thật là nguồn gốc tin yêu nhau, do đó mọi sự mến
thương được bền bỉ.
b.
Nói đúng lý
Nói
đúng lý để giúp mọi người nhận được lẽ chánh. Trong
cuộc sống phức tạp này khiến mọi người khó tìm được
con đường chánh. Cho nên chúng ta cố gắng nói ra lời đúng
lý, hầu làm sáng tỏ mọi chỗ ngờ vực của người. Sống
đúng, nói đúng, thực là sự hi hữu trong cuộc sống hổn
độn hiện nay. Chúng ta mãi tôn trọng câu “mặc người phi
pháp, chúng ta vẫn giữ đúng pháp”.
c.
Nói hòa thuận
Nói
hòa thuận để đem lại tình đoàn kết cho mọi người. Tất
cả việc làm phân ly chia rẽ đều là tạo nên thống khổ
cho con người. Chúng ta đã không làm thế, mà luôn luôn dùng
lời hòa thuận để hàn gắn lại những mối tình đã rạn
nứt. Ngôn ngữ chúng ta phát ra đều đem lại tình thương
gắn bó cho mọi người. Thấy đâu có sự rạn nứt, có mầm
tan rã, chúng ta đều nổ lực dùng lời hòa thuận làm chất
keo hàn gắn lại. Tận dụng ngôn ngữ mình để đem lại tình
đoàn kết an vui cho nhân loại.
d.
Nói nhã nhặn
Nói
nhã nhặn để đem lại sự ôn hòa vui vẻ cho người. Mọi
sự căm phẩn, bực tức đều làm cho con người đau khổ.
Chúng ta tập nói nhã nhặn khiến người dễ mến và vui vẻ.
Trọn đời chúng ta đem lại sự an vui cho chúng sanh, không
có lý do nào lại dùng lời thô ác. Chúng ta phải thực hiện
lời nhã nhặn mãi mãi với mọi người.
3.
Về ý
Chúng
ta phải tập từ bi, nhẫn nhục và chánh kiến. Mang lại tình
thương cho chúng sanh là tiêu diệt mầm tham lam độc ác. Nỗi
khổ của chúng sanh ngập trời đều do lòng tham ác của con
người tạo nên. Chúng ta tận lực gầy dựng tình thương
để giảm thiểu đau khổ cho chúng sanh. Tập lòng nhẫn nhục
để chịu đựng mọi cảnh ngang trái mà không sanh sân hận.
Có nhẫn nhục được, chúng ta mới giữ được tình thương
lâu dài với chúng sinh. Chánh kiến là nhận định đúng đắn,
đưa chúng ta đi đúng hướng, sáng suốt vui tươi. Do chánh
kiến mới có nói đúng, làm đúng. Ba nghiệp tạo phước,
chánh kiến là đội binh tiên phong. Tóm lại, ba nghiệp làm
mười điều trên là tu phước hữu lậu. Phước nầy khiến
chúng ta qua lại trên con đườn an vui tươi đẹp. Mặc dù
còn tương đối sanh tử, song đến đâu cũng là hài lòng mãn
ý.
B.
Phước vô lậu
Phước
vô lậu là sự an vui tuyệt đối không giới hạn. Do thoát
ly sanh tử nên an vui miên viễn. Bởi sự an vui nào mà còn
sanh tử đều tạm bợ đối đãi. Chỉ có tiêu diệt hết
mầm sanh tử, an trụ vô sanh, mới là an vui viên mãn. Tu phước
vô lậu là chúng ta nhắm hướng vô sanh làm mục đích, hằng
ngày buông xả cái chủ động sanh diệt và dùng trí thấy
rõ các tướng giả dối sanh diệt, không lầm, không kẹt nó.
Cứ thế tiến mãi, cho đến bao giờ viên mãn mới thôi. Mình
làm như vậy là tu phước vô lậu.
IV
CẦN TRÁNH TỘI, LÀM PHƯỚC
a.
Tránh tội
Đã
biết tội là nhơn khổ đau bất như ý, chúng cố gắng tránh
đừng gây nên tội. Cuộc đời đã khổ đau lắm rồi,
chúng ta không thể nào làm cho nó tươi đẹp, ít ra cũng đừng
tô thêm cho đậm nét khổ đau. Tránh gây khổ đau cho người
tức là tránh tạo khổ cho mình. Có ai ngu dại đến nỗi lấy
dây tự trói, lấy roi tự đánh, để rồi kêu khóc thở than.
Mầm khổ đau không gieo thì cây khổ đau làm sao đâm chồi
nẩy lộc. Biết thế, chúng ta dè dặt tối đa trong việc gieo
nhân đau khổ. Dù một tội nhỏ, tránh được, chúng ta cũng
cố gắng tránh. Như trong Luật nói: “Giot nước tuy nhỏ,
rơi mãi cũng đầy chậu lớn”. Người biết sợ tội là
người biết sẽ khỏi tội. Chỉ có kẻ liều mạng xem thường
tội lỗi, càng lún sâu trong tội lỗi. Đã có tội lỗi là
có khổ đau, như có hình thì có bóng, có tiếng thì có vang.
Người học đạo phải sáng suốt thấy rõ lý lẽ ấy, để
không lầm, làm đau khổ mình khổ người.
b.
Làm phước
Hạnh
phúc an vui là điều ai cũng ước mơ, mong mõi. Người học
đạo không ước mơ mong mõi suông, phải thực tế gây dựng
hạnh phúc cho người tức là gây dựng hạnh phúc cho mình.
Hạnh phúc không thể ngẩu nhiên đến với chúng ta, mà do
công phu bồi đắp. Một hành động, một lời nói, một ý
nhiệm mầu đem an vui lại cho người, chính là gây dựng hạnh
phúc cho ta. Trong cuộc đời tương phản, kẻ buông xả hết
lại là người được nhiều nhất. Ngược lại, người cố
giữ gìn lại là người mất mát nhất. Tạo hạnh phúc cho
mình không phải bo bo gìn giữ những cái gì của mình, mà
phải xả bỏ cái của mình, tạo cho người an vui. Chúng ta
làm cho trăm ngàn người an vui, quả thực đã tạo trăm ngàn
điều an vui cho chúng ta. Vì thế làm phước không bao giờ
thấy đủ, chúng ta làm mãi đến suốt đời, mà vẫn thấy
chưa xong. Có một lần đức Phật đang ngồi trong một tịnh
xá, ở phòng khác ngài A Nan Luật đang xỏ kim vá y, vì mắt
không tỏ, Ngài xỏ hoài mà chẳng được. Ngài buộc miệng
than: “Có ai mắt sáng làm phước xỏ kim hộ tôi”. Đức
Phật nghe, Ngài đi đến chỗ A Nan Luật bảo: “A Nan Luật,
đưa kim ta xỏ hộ, để ta làm phước”. A Nan Luật hoảng
hốt thưa: “Thế Tôn đã đầy đủ vô lượng phước đức,
còn làm phước chi nữa?” Đức Phật dạy: “Thế Tôn đầy
đủ vô lượng phước đức, mà còn mót từ cái phước xỏ
kim”. Thử hỏi chúng ta là người gì mà không cố gắng làm
phước? Phước càng to thì an vui càng lắm, có thiệt thòi
gì đâu mà không chịu làm.
V.
KẾT LUẬN
Tội
phước là điều thực tế trên cõi nhơn gian. Cổ động khuyến
khích người tránh tội là hành động giảm thiểu khổ đau
cho nhân loại. Tán thán ca ngợi làm phước là mang lại hạnh
phúc an vui cho chúng sanh. Lý đáng mọi người chúng ta đều
tận lực làm điều này. Vô lý những kẻ đã không làm, lại
công kích người khác làm. Còn ai không xót xa khi thấy con
người sát phạt con người. Người có lương tâm, đầy lòng
trắc ẩn không thể ngó lơ trước huynh đệ tương tàn. Cho
nên tránh tội làm phước là điều mỗi con người chúng ta
phải ứng dụng. Biết tội phước là cội nguồn của đạo
đức. Song chúng ta đừng bị phỉnh gạt bằng những tội
phước rỗng. Tội là cấy mầm đau khổ nơi con người, phước
là gieo hạt hạnh phúc cho chúng sanh. Có thể thực tế như
vậy, không phải việc huyền hoặc viễn vong.
BÀI
III
NGHIỆP
BÁO
I.
MỞ ĐỀ
Mọi
việc khổ vui trong kiếp hiện tại của chúng ta đều do nghiệp
quá khứ và hiện tại chi phối. Nghiệp lành thì được vui,
nghiệp ác thì chịu khổ, chúng ta chỉ biết sợ khổ, cầu
vui mà không biết tránh nghiệp ác, tạo nghiệp lành. Thế
chẳng khác nào kẻ sợ bóng mà cứ đứng ngoài trời nắng,
muốn nghe nhạc mà bịt lỗ tai. Một khi nghiệp quả đến,
chúng dù muốn dù không, tất nhiên cũng phải chịu. Bởi nó
là kết quả do hành động của chính mình đã tạo. Mình làm,
rồi mình chịu, đó là lẽ công bằng hợp lý của kiếp người.
II.
ĐỊNH NGHĨA
Nghiệp
báo nói đủ là nghiệp quả báo ứng. Bởi vì nghiệp
nhơn chúng ta đã gây thì nghiệp quả phải đến. Sự báo
thù ứng cân xứng nhau giữa nghiệp nhơn và nghiệp quả. Trước
tiên chúng ta cần biết chữ nghiệp.
a.
Nghiệp là dịch nghĩa chữ Karma tiếng Phạn, chỉ hành động
tạo tác theo thói quen của mỗi người. Nghiệp có nghiệp
thiện, nghiệp ác, định nghiệp, bất định nghiệp ... Nghiệp
thiện là hành động lành đem lại sự an lạc cho chúng sanh.
Nghiệp ác là hành động dữ làm đau khổ chúng sanh. Định
nghiệp là hành động hoặc lành hoặc dữ có cộng tác với
ý thức tạo thành nghiệp quyết định. Bất định nghiệp
là hành động hoặc lành hoặc dữ không cộng tác với ý
thức nên thành nghiệp không quyết định.
b.
Báo là đền trả một cách công bằng, không sai chạy, không
tiêu mất. Chúng ta có hành động lành hay dữ, kết quả của
hành động ấy sẽ đến, hoặc sớm hay muộn thôi. Thí dụ
chúng ta mắng chưỡi người là hành động dữ, người ấy
sẽ mắng chưỡi lại ngay khi đó, hoặc thời gian khác, khó
tránh khỏi. Sự thù đáp cân xứng gọi là báo. Báo có chia
ba thứ: hiện báo, sanh báo và hậu báo. Hiện báo là quả
báo hiện tại, những hành động lành hay dữ ngay trong đời
này chịu quả báo. Sanh báo là quả báo đời sau, hành động
tốt xấu của ba nghiệp, để đời sau mới chịu quả báo.
Hậu báo là về sau lâu xa mới chịu quả báo. Ví như vào
đầu mùa mưa, chúng ta đồng thời gieo trồng hạt đậu phọng,
trồng cây chuối, trồng cây mít. Đến 3 tháng sau chúng ta
được kết quả có đậu phọng. Sang năm, chúng ta mới kết
quả có chuối. Song ba bốn năm sau, chúng ta mới được kết
quả có mít. Như thế, hành động đồng thời mà kết quả
sai biệt, tùy loại khác nhau. Nếu chúng ta đòi hỏi ba thứ
phải kết quả đồng thời là ngu xuẩn.
III.
TỪ ĐÂU TẠO THÀNH NGHIỆP?
Nghiệp
từ thân, miệng, ý chúng ta tạo nên. Bởi thân miệng ý chúng
ta làm lành nên tạo thành nghiệp lành. Thân miệng ý chúng
ta làm dữ, nói dữ, nghĩ dữ tạo thành nghiệp dữ. Thế nên,
chúng ta chủ nhân tạo nghiệp cũng chính chúng ta là chủ nhân
thọ báo. Ngang đây chúng ta hãnh diện đã thoát khỏi mọi
quyền lực thiêng liêng ban họa xuống phước. Chúng ta cũng
hiên ngang thọ nhận tất cả quả khổ vui, mà không có một
lời oán hờn than trách. Chúng ta không ngoan biết chọn lựa
nghiệp nhơn nào mình thích mà làm, không còn mù quáng làm
càn bướng. Đấy là sự trưởng thành, khi rõ nghiệp từ
đâu có.
IV.
TỪ ĐÂU CÓ BÁO ỨNG?
Sự
báo ứng cũng chính noi mình hiện ra. Mỗi khi chúng ta tạo
nghiệp lành hay dữ, mắt chúng ta thấy cảnh ấy, tai chúng
ta nghe tiếng ấy, hạt giống lành dữ ấy đã rơi vào tàng
thức chúng ta. Kẻ đối tượng bị chúng ta làm khổ vui cũng
thế, do mắt thấy tai nghe nên hạt giống biết ơn hay thù
hằn đã rơi vào tàng thức của họ. Khi nào đó, cả hai gặp
lại nhau thì hạt giống ân oán ấy trổi dậy, khiến hai bên
tạo thêm một lần nghiệp lành dữ nữa. Cứ thế tạo mãi
khiến nghiệp càng ngày càng đầy, ân oán càng ngày càng lớn.
Như khi chúng ta gặp một người đang mắc phải cảnh khốn
đốn cơ hàn, hình ảnh buồn thảm khổ đau của họ hiện
bày đầy đủ. Chúng ta trong tay có đủ phương tiện, liền
giúp họ qua cơn khốn đốn, lúc đó trên gương mặt khổ
đau đã ngã sang gương mặt vui tươi, sáng sủa. Chứng kiến
hiện tượng ấy, hạt giống vui tươi đã rơi vào tàng thức
chúng ta. Nếu mỗi ngày chúng ta đều gieo vào tàng thức những
hạt giống vui tươi, đến khi thân nầy sắp hoại, chúng ta
không còn đủ nghị lực làm chủ, những hình ảnh vui tươi
ấy sẽ hiện đến chúng ta, mời chúng ta đến cảnh vui tươi.
Ngược lại, mỗi ngày chúng ta cứ gieo rắc khổ đau cho người,
những hạt giống khổ đau chứa đầy trong tàng thức chúng
ta, đến khi hơi tàn, lực tận những hình ảnh đó sống dậy,
đuổi bắt đánh đập chúng ta, khiến chúng ta phải chạy
chui vào cảnh khổ. Đó là nghiệp báo khổ vui của mai kia.
Nghiệp báo không phải từ đâu đến, mà chính từ tàng thức
chúng ta hiện ra. Người xưa thần thánh hóa khả năng chứa
đựng của tàn thức bằng ông thần độ mạng. Bảo rằng
ông thường theo dõi chúng ta, mà ghi chép hết mọi hành động
thiện ác của chúng ta, để báo cáo với Thiên đình hay Diêm
chúa. Hoặc cụ thể hóa tàng thức chứa đựng bằng Đài
gương nghiệp cảnh. Bảo rằng chúng ta làm lành hay dữ, sau
khi chết đến chỗ Diêm Vương, ở trước sân triều có cái
gương lớn, người làm lành làm dữ đến trước gương đều
hiện rõ ràng đầy đủ, không thể chối cải được.
V.
NGHIỆP BÁO KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN
Sự
góp nhặt gieo vào tàng thức là một lẽ thật không phải
việc huyền hoặc, do không tưởng bịa ra. Đây thử cử một
thí dụ, khi chúng ta muốn học thuộc lòng một bài thơ. Chúng
ta đọc một lần, hai lần, tự đến nhiều lần tự thấy
nó thuộc. Cái thuộc ấy do đâu, chẳng qua mỗi lần chúng
ta đọc, hạt giống ấy rơi vào tàng thức, đọc nhiều lần,
hạt giống ấy càng trưởng thành mạnh mẽ, đấy gọi là
thuộc. Thuộc xong chúng ta không đọc nữa, thỉnh thoảng trong
tàng thức nó trổi dậy, mỗi lần trổi dậy, chúng ta ôn
lại đôi ba phen, thế là thuộc lại càng thuộc. Từ miệng
chúng ta đọc, hạt giống thơ rơi vào tàng thức gọi hiện-hạnh
huân-chủng-tử. Từ tàng thức thơ trổi dậy, gọi là chủng
tử khởi hiện hạnh. Chúng ta ôn lại đôi ba lần, gọi là
hiện-hạnh huân-chủng-tử. Thế là sự huân khởi không
thể nghĩ bàn. Nếu cả đời chúng ta huân-chủng-tử nào nhiều
nhất, đời sau sanh ra hạt giống ấy sống dậy sớm nhất.
Bởi thế mới có các vị đồng xuất hiện như Mạc Đỉnh
Chi ở Việt Nam, 12 tuổi đã thông suốt thi pháp, Bạch Cư
Dị ở Trung Hoa, 9 tuổi đã làm thơ, Pascal ở Pháp, 12 tuổi
đã thông Kỷ hà học..., cho đến cùng học một lớp mà mỗi
đứa bé đều có mỗi khả năng riêng.
Khi
trong kho tàng thức còn chứa chủng tử thì sự huân khởi
không thể nghĩ bàn. Vì thế nó có sức mạnh lôi kéo chúng
ta đi thọ sanh trong lục đạo không có ngày dừng. Thế nên,
nói đến nghiệp báo là nói đến sự luân hồi sanh tử.
VI.
LÀM SAO HẾT NGHIỆP?
Nghiệp
đã do chúng ta gây tạo biến chủng tử huân vào tàng thức.
Muốn hết nghiệp cũng do chúng ta khéo loại hết những chủng
tử nghiệp ở trong tàng thức ra. Khi kho tàng thức sạch chủng
tử thì sức mạnh lôi vào sanh tử không còn. Khi chủng tử
trong kho ấy sạch hết, gọi là không Như Lai tàng, là kho Như
Lai trống, tức là dứt mầm sanh tử. Vì thế muốn hết nghiệp
sanh tử, chúng ta phải ứng dụng những phương pháp tu để
tiêu diệt các hiện hạnh từ chủng tử dấy khởi. Ví như
chúng ta học thuộc lòng một bài thơ, song mỗi lần nhớ lại,
chúng ta đều bỏ qua, thời gian lâu bài thơ ấy sẽ quên bẳng.
Những chủng tử khác cũng thế, mỗi khi khởi hiện hạnh,
chúng ta đều thông qua chẳng cho hình ảnh sống lại, lâu
ngày tự nhiên nó mất. Phương pháp niệm Phật, trì chú, tọa
thiền đều nhằm vào mục đích này.
VII.
KẾT LUẬN
Thấu
rõ lý nghiệp báo, chúng ta cố gắng tạo điều kiện thuần
thiện để được quả bảo toàn vui, nếu còn chấp nhận
ở trong sanh tử. Sự chọn lựa khổ vui là quyền sở hữu
của chúng ta, không phải Thần Thánh, cũng không phải ai khác
có quyền ban khổ vui cho chúng ta. Quyền năng sắp đặt một
cuộc sống mai kia, đều do bàn tay chúng ta gầy dựng. Nếu
một khi nào đó, chúng ta không chấp nhận cuộc sống luân
hồi nữa, cũng chính chúng ta loại bỏ những mầm sanh tử
đang chứa chấp trong tàng thức chúng ta. Thế là, chúng ta
đã giành quyền với tạo hóa, đã tước bỏ quyền lực của
thần linh và độc tôn trong việc thoát ly sanh tử.
BÀI
IV
BỒ
TÁT SỢ NHƠN, CHÚNG SANH SỢ QUẢ
I.
MỞ ĐỀ
Ngành
y học thường giáo dục người dân “Ngừa bệnh hơn trị
bệnh”. Trong Phật pháp thường nhắc mãi câu “Bồ tát sợ
nhơn, chúng sanh sợ quả”. Thực thế, biết ngừa bệnh hơn
trị bệnh, vì biết ngừa trước thì cơ thể đâu phải bị
hư hao đau đớn. Đã không tổn thương cơ thể, không bị
bệnh trạng hành hạ đau đớn; lại khỏi mất công tốn tiền.
Cũng vậy, sợ nhơn khổ chẳng gây thì quả khổ làm gì có.
Đợi đến quả khổ mới sợ, đã chịu đau đớn quá rồi,
từng bị thương tổn thân thể và danh dự, mất hết an vui
hạnh phúc. Biết sợ nhơn khổ tránh trước, có phải là kế
an toàn hơn chăng? Cho nên người trí mới sợ nhơn, kẻ ngu
chỉ sợ quả.
II.
ĐỊNH NGHĨA
Bồ
tát nói đủ là Bồ Đề Tát Đóa, dịch âm chữ phạn (Bodhisattva).
Trung Hoa dịch là Hữu tình giác và giác hữu tình. Hữu tình
giác là một chúng sanh có giác ngộ, giáo hóa kẻ khác giác
ngộ, gọi là giác hữu tình. Nói gọn lại là một chúng sanh
giác ngộ và giác ngộ kẻ khác. Bởi là người giác ngộ
nên thấy nhơn đau khổ liền biết tội quả đau khổ, nên
cẩn thận dè dặt trong lúc gây nhơn. Ngược lại, chúng sanh
là kẻ si mê, khi ưa thích thì cứ làm, đến lúc kết quả
liền kinh hoàng hoảng hốt. Chỉ biết sợ quả khổ, mà không
biết quả khổ xuất phát từ nhơn khổ. Cho nên nhơn khổ
cứ gây, đến quả đau khổ thì kêu la than khóc. Đây là tâm
trạng của người giác và kẻ mê biểu hiện rõ ràng. Chúng
ta học đạo, phải học đòi tâm hạnh của người giác, để
lần lần được giác và chóng thoát khỏi mọi khổ đau. Vì
thế phải ứng dụng đúng câu “Bồ tát sợ nhơn”.
III.
ỨNG DỤNG BẢN THÂN
Chúng
ta không muốn bản thân mình có những cái dở thì phải tránh
hẳn từ nguyên nhơn của nó. Bản thân chúng ta không muốn
làm người gầy ốm bệnh hoạn, thì không nên hút á phiện
và chơi bời trác táng. Bản thân ta không muốn thành người
ghiền gập say sưa thì không nên uống rượu hút thuốc. Bản
thân ta không muốn người khinh khi phỉ nhổ thì không nên
nói năng lỗ mãng, làm việc gian tà... Những cái nhơn ấy
chúng ta biết tránh thì quả ấy không bao giờ đến.
Ngược
lại, chúng ta muốn khỏe mạnh cường tráng thì phải ăn uống
điều độ, làm việc chừng mực và tập thể dục thể thao.
Chúng ta muốn thông minh sáng suốt thì phải cần mẫn học
tập, siêng năng sưu tầm, tận lực nghiên cứu sách vở. Chúng
ta muốn thành một người tốt đứng đắn thì không nên tập
mọi thứ bệnh ghiền, tránh xa cờ bạc đàng điếm, mà phải
nói năng mực thước, tâm lượng bao dung.
Tất
cả sự mong muốn sẽ toại nguyện, nếu chúng ta biết thực
hiện ngay bản nhơn của nó. Chúng ta không thể tin những kẻ
nói:”Tôi hút thuốc mà không ghiền, uống rượu mà không
say”. Chẳng qua họ bị ghiền nặng hay ghiền nhẹ, hoặc
say nhiều hay say ít thôi. Người khôn ngoan là kẻ biết tránh
nhơn, dù một tí xíu cũng không tập, chẳng dám xem thường
thì không bao giờ bị mắc phải. Tự ỷ và phách lối là
cái cớ khiến người ta hư thân và mất nết. Chúng ta phải
khéo léo dè dặt, đừng để cho sắc tài cám dỗ, cũng đừng
để cho khói thuốc hơi men làm mờ. Việc cần làm, chúng ta
tận lực làm, việc cần tránh, chúng ta cương quyết tránh.
Dù gặp phải sự thách đố khinh miệt, chúng ta vẫn gan dạ
giữ vững lập trường. Đấy mới thực ứng dụng câu “Bồ
tát sợ nhơn” vào bản thân mình.
IV.
ỨNG DỤNG NGOÀI XÃ HỘI
Chính
chúng ta không muốn bị tật nguyền, tàn phế, không muốn
nghèo khổ đói rét, không muốn bị người thù hằn oán ghét...
Tất nhiên, chúng ta tuyệt đối không được đánh đập kẻ
khác, vì đó là nhơn tật nguyền tàn phế. Chúng ta không được
xâm phạm tài sản của người, vì đó là nhơn nghèo khổ
đói rét. Chúng ta không được gây hờn chuốc oán với người,
vì đó là nhơn thù hằn oán ghét. Những cái gì chúng ta không
muốn xảy đến với chúng ta, tuyệt đối chúng ta không đem
đến cho kẻ khác. Đây là chúng ta biết tránh nhơn bất như
ý.
Ngược
lại, chúng ta muốn được thân thể tráng kiện đẹp đẽ,
muốn được ấm no hạnh phúc, muốn được mọi người thương
mến kính yêu... Hẳn là, chúng ta thường giúp người bệnh
yếu tật nguyền thường cứu người đói rét đau khổ, thường
quí mến kính yêu cả thẩy mọi người. Vì đó là nhơn sẽ
đưa đến kết quả của ta mong muốn. Sự thật hiển nhiên
nầy không ai có thể chối cải được. Nếu chúng ta không
muốn người khác hành hạ thân thể mình, mà mình lại hành
hạ kẻ khác. Như thế, thử hỏi có hợp lý hay không? Cho
nên tất cả sự mong muốn của chúng ta thế nào, cần phải
thực hiện ngay nơi người thế ấy.
V.
ỨNG DỤNG TRONG GIA ĐÌNH
Ở
trong gia đình, chúng ta sợ quả nào thì khéo tránh nhơn ấy.
Chúng ta sợ con bất hiếu, sợ đàn con không hòa mục, sợ
gia đình con cái chẳng thuận thảo, sợ con cái không có đạo
đức... Chúng ta phải gây nhơn gì để tránh những điều
đó? Muốn cho con cái sau nầy hiếu thảo, chính chúng ta phải
ăn ở hiếu thảo với cha mẹ. Vì mỗi ngày, việc làm, lời
nói của chúng ta đối với cha mẹ ở trước mặt chúng, nếu
là tốt thì chúng gieo được chủng tử tốt trong tàng thức,
nếu là xấu cũng gieo chủng tử xấu. Lẽ thực nầy không
thể chối cải được. Nên người xưa nói:”Hiếu thuận
hoàn sanh hiếu thuận tử, ngổ nghịch hoàn sanh ngổ nghịch
nhi. Bất tín đản khán thiềm đầu thủy, điểm điểm đích
đích bất sai di”. Nghĩa là:”Người hiếu thuận sanh con
hiếu thuận, kẻ ngổ nghịch sanh con ngổ nghịch. Chẳng tin
hãy xem giọt nước ở thềm nhà, mỗi giọt mỗi giọt chẳng
dời đổi”. Cổ nhơn có kể một câu chuyện:”Người cha
đang ngồi đóng cổ xe, đứa con trố mắt nhìn. Chậm rãi
nó hỏi ba nó: Ba đóng xe chi vậy? Ba nó bảo:”Đóng xe để
đưa ông nội lên bỏ trên núi”. Đứa con vội vàng nói:”Sau
khi đưa ông nội lên núi rồi, ba nhớ đem xe về cho con”.
Ba nó sửng sốt hỏi:”Đem về cho con làm gì?” Nó thưa:”Đợi
ba già con cũng đẩy ba lên núi bỏ”. Ba nó ngừng tay ngang
đây không đóng xe nữa. Đó là phản ảnh trung thực hành
động và tâm niệm của người cha. Vì thế, muốn có kết
quả hiếu thảo, chúng ta phải gây nhơn hiếu thảo.
Muốn
dạy con cái sau nầy hòa thuận bảo bọc lẫn nhau, ngay bây
giờ chúng ta phải hòa thuận và bảo bọc anh em chúng ta. Mỗi
ngày hành động ngôn ngữ chúng ta đối xử với cô bác chúng,
nếu là đẹp thì chủng tử ấy ghi sâu trong tâm chúng điều
tốt, nếu là xấu cũng thế. Chúng ta không thể dùng lý thuyết
dạy dổ con cái phải thương yêu hòa thuận nhau trong khi đó
chúng ta anh em gặp nhau lại cải vả ỏm tỏi. Những lời
dạy ấy sẽ vô giá trị, nếu hàng ngày chúng ta làm ngược
lại nó.
Muốn
dạy con cái sau này thành người siêng năng cần mẫn, chính
chúng ta phải thật cần cù. Mọi hành động của chúng ta
là những bài học thực tế đối với con cái. Nhơn tốt chúng
ta đã gieo cho chúng hiện nay, tự nhiên quả tốt sẽ đến
ở mai kia. Chúng ta đừng dùng lý thuyết dồn dập nhồi vào
đầu chúng, phải dùng nếp sống hiện thực của mình để
cho chúng thấy, quả là sự giáo dục có kết quả chắc chắn.
Chúng ta muốn con cái lớn lên khỏi mắc phải những bệnh
ghiền, khỏi phải la cà ở phòng trà quán rượu, chính hiện
nay chúng ta phải tránh xa những bệnh ấy và nơi ấy. Thật
là trò cười, nếu chúng ta say sưa lèm nhèm mà cấm con cái
uống rượu. Người cha mẹ mẫu mực, là mô phạm của con
cái, con cái chịu ảnh hưởng cha mẹ từ thưở nhỏ đến
khôn lớn. Nếu cha mẹ là cái gương xấu, lại muốn con cái
tốt, thật là điều ít có.
Tóm
lại, chúng ta muốn dạy con cái hiếu thảo, hòa thuận, siêng
năng, tốt đẹp thì bản thân chúng ta trước phải làm những
việc ấy. Những hành động ngữ ngôn của chúng ta tốt là
những hạt giống lành gieo vào tâm điền của con cái. Nơi
tâm thức chúng đã đầy dẫy những hạt giống tốt, lo gì
mai kia không nẩy mầm tốt, sanh cây tốt, đơm hoa tốt, kết
quả tốt. Chỉ đáng buồn chúng ta không gieo giống tốt, mà
đòi hỏi kết quả tốt, thật là một tham vọng ngược đời.
VI.
ỨNG DỤNG VÀO ĐẠO GIÁC NGỘ GIẢI THOÁT
Chúng
ta học đạo giác ngộ và mong mỏi chóng được giác ngộ,
thì nhơn giác ngộ hàng ngày phải gieo rãi, phải bồi dưỡng.
Trí tuệ là nhơn giác ngộ, cho nên mỗi ngày chúng ta phải
vận dụng nó quán chiếu đúng như pháp Phật dạy, mới mong
có ngày giác ngộ viên mãn. Ví như chúng ta muốn trong nhà
tối được sáng, không gì hơn phải thắp đèn đốt đuốc...
không thể làm cách nào khác hơn được. Chúng ta không muốn
thấy cái quả đen tối vô minh, thì nhơn trí tuệ sáng suốt
hằng ngày phải gieo rắc. Nhơn sáng đã có thì quả tối làm
sao thành được.
Muốn
giải thoát mọi phiền nảo khổ đau, chúng ta phải khéo phá
trừ chấp ta và cảnh sở thuộc của ta. Bởi vì chấp là
nhơn phiền não đau khổ, phá được chấp thì phiền não đau
khổ đâu còn. Chúng ta đập tan nhơn chấp, chớ không cầu
trốn quả khổ đau. Nhơn chấp không chịu dẹp, mà cứ cầu
khỏi khổ thì làm sao khỏi được. Chấp là bám chặt, là
buộc ràng, phá được chấp là thảnh thơi giải thoát. Sự
thảnh thơi giải thoát được viên mãn hay không, tùy thuộc
sự phá chấp được sạch hay chưa. Chúng ta không thể đập
đầu lạy Phật cầu Ngài cứu mình giải thoát, nếu mình
còn chấp chặt cứng khằn. Ví như có người vô tình thốt
ra lời bất cẩn, chạm đến tự ái mình. Chúng ta liền nổi
giận đùng đùng, bỏ ăn mất ngủ, thử hỏi khi ấy Phật
làm sao cứu chúng ta được? Chỉ có cách xem thường bản
ngã, mọi việc đều thông qua một cách dễ dàng, là thần
dược cứu khổ chúng ta. Chúng ta phải nhìn thẳng vào bản
nhơn, khéo dẹp nó, tự nhiên quả khổ sẽ hết.
VII.
KẾT LUẬN
Sợ
nhơn sợ quả đã phân rành kẻ trí và người ngu. Sợ nhơn
là tránh khỏi đau khổ hoàn toàn sở cầu toại nguyện. Sợ
quả chỉ làm tăng thêm đau khổ, mọi việc mong muốn đều
bất như ý. Chúng ta tập sống bằng trí tuệ, nhìn thấu bản
nhơn, tránh xa hay gầy dựng đều nhắm thẳng mầm nhơn. Có
thế, đời sống của chúng ta mới được an toàn tươi đẹp,
cho đến những đời sống mai sau cũng sáng sủa tươi vui.
Tuy chưa phải là Bồ tát, sống là một Phật tử, chúng ta
có quyền học tập trí tuệ của các Ngài. Người trí không
dám nhắm mắt làm càn, đến khi gặp quả khổ đau mới kêu
la, than khóc. Phải sớm tỉnh, sớm giác tránh xa vực thẳm
khổ đau, đừng mãi mê say chạy bường, đến khi rớt xuống
hố mới kêu đất kêu trời. Ở thế gian hiện nay tạo nghiệp
tày trời, khổ đau tợ biển, đều do mọi người say mê càn
bướng gây nên. Biết sợ nhơn, bản thân ta đã tỉnh giác,
khuyên bảo người sợ nhơn, quả thực đã giác tha. Thực
hiện được như thế, dù chúng ta không vỗ ngực xưng Bồ
tát, thực tế chúng ta đang hành hạnh Bồ tát.
BÀI
V
GIÁC
NGỘ PHÁP GÌ
ỨNG
DỤNG TU NGỦ THỪA PHẬT GIÁO
I.
MỞ ĐỀ
Tất
cả pháp Phật dạy đều trước phải giác ngộ rồi sau mới
ứng dụng tu. Cũng như trước biết đường rồi sau mới đi,
trước hiểu rồi sau mới làm. Sự giác ngộ này là nhận
thấy lẽ thật ngay thế gian, không phải huyền nhiệm siêu
viễn mà là cụ thể thực tế. Bởi giác ngộ rồi mới tu,
nên đúng tinh thần đạo giác ngộ. Chúng ta là Phật tử phải
thấu rõ lẽ nầy, đừng lầm lẫn ứng dụng tu một cách
mù quáng. Không hiểu mà làm là việc làm càn bướng dại
khờ. Chúng ta phải thắp sáng ngọn đuốc chánh pháp soi bước
đi, để khỏi vấp ngã rơi hố lọt hầm.
Tổng
quát căn bản Phật pháp là Ngũ thừa Phật giáo, trước khi
ứng dụng tu, mỗi thừa đều phải giác ngộ mỗi pháp. Ví
như ở bến xe miền Đông tại thành phố Sài-gòn, trước
khi chúng ta muốn mua vé lên một chiếc xe nào là phải ý thức
được mình đi đâu, đi làm gì? Khi mua vé lên xe, chúng ta
biết rõ chủ đích và phân biệt rành rẽ con đường mình
đi. Nếu chúng ta mua vé lên xe Tây Ninh là biết rõ mình sẽ
đến thị xã Tây Ninh. Mua vé lên xe Vũng Tàu là biết rõ mình
sẽ đến Đặc khu Vũn Tàu. Lên xe nào đến chỗ ấy là ví
dụ cho Ngũ thừa Phật giáo. Bởi vì thừa là cổ xe hay ngồi
xe sẽ đưa đến mục đích chúng ta nhắm. Chọn lựa xe đi
là theo nhu cầu cần thiết của chúng ta đã biết. Thế nên
trước giác, sau tu là chủ yếu của Ngũ thừa Phật giáo.
II.
GIÁC NGỘ LÝ NHƠN QUẢ LUÂN HỒI. ỨNG DỤNG TU NHƠN THỪA THIÊN
THỪA
1.
Giác ngộ lý nhơn quả luân hồi
a.
Giác ngộ lý nhơn quả
Vạn
vật và mọi hiện tượng trên thế gian này, nếu đem ra khảo
sát, chúng ta sẽ thấy không có một vật tượng nào thoát
ra ngoài nhơn quả. Từ động vật, thực vật, khoáng vật
cho đến mọi hiện tượng mà các giác quan chúng ta cảm nhận
được, đều phải có nhơn mới thành quả. Ví như con người
là quả, xuất phát từ bào thai là nhơn. Cây lúa, bông lúa
là quả, phát sanh từ hạt lúa giống là nhơn. Khối đá là
quả, kết hợp từ những hạt bụi là nhơn. Dù là những
hiện tượng lạ xuất phát từ con người hay thiên nhiên,
tuy hiện nay người ta chưa phát giác được nguyên nhơn của
nó, song chỉ là chưa tìm ra, chớ chẳng phải không nguyên
nhơn. Thấy quả, chúng ta liền biết có nhơn, đó là tinh thần
khoa học, là óc khảo cứu của các nhà bác học. Thấy một
thành quả, chúng ta chưa tìm ra nguyên nhơn của nó, là chưa
thấu suốt vấn đề. Từ một kết quả, chúng ta thông suốt
nguyên nhơn, chúng ta có thể cấu tạo nguyên nhơn để được
kết quả như ý muốn. Ví như thấy bông lúa thơm biết từ
hạt giống lúa thơm, chúng ta muốn sang năm có lúa thơm ăn,
năm này phải lấy giống lúa thơm gieo mạ. Trên lảnh vực
khoa học, người ta thấy nắp vung nồi nước động, biết
từ hơi nước đun sôi bốc lên, do đó chế biến ra các loại
máy nổ. Khi thấy chiếc pháo thăng thiên bay vút lên cao nổ
tung ra, biết từ nhiên liệu cháy có sức đẩy, người ta
chế ra các loại phi cơ phản lực... Cho đến những ngôn từ
lý luận cũng phải từ quả đến nhơn, hoặc từ nhơn ra quả.
Nếu không như thế là lý luận không chặt chẻ. Ví như nói,
tôi thích món ăn nầy (quả), vì nó vừa miệng tui (nhơn).
Tôi không ưa người đó (quả), vì họ ở xấu với tôi (nhơn).
Vì nghèo (nhơn), tôi không dám ăn xài (quả). Thực tế mà
nói, nhơn quả bao trùm hết mọi lãnh vực trong cuộc sống
của con người. Mọi hành vi thố lộ ra, đều lệ thuộc nhơn
quả. Song với người trí thì biết rõ, kẻ ngu thì không phân
rành.
Nói
đến nhơn quả là tùy thuộc thời gian. Bởi vì từ nhơn đến
quả, phải trải qua giai đoạn khác nhau. Như từ một hạt
cam đến thành cây cam và có trái cam, phải trải qua thời
gian dài. Hạt cam hoại để thành cây cam, hạt cam thuộc quá
khứ, cây cam hiện tại, trái cam vị lai. Rồi trái cam là quá
khứ, hạt cam là hiện tại, cây cam là vị lai. Cứ thế xoay
vần, từ nhơn đến quả, từ quả lại nhơn. Vì thế muốn
đoán định nhơn quả, chúng ta phải căn cứ trên ba thời
mà xét. Nếu ai chỉ cắt xén một chặng mà đoán định, là
xai lầm lệch lạc. Ví như đồng thời trồng cam, mà một
người được quả cam sành, một người được quả cam đường.
Nhìn cây cam, lá cam giống nhau, mà trái cam lại khác. Nếu
chỉ căn cứ cây cam, trái cam mà biện lý lẽ, làm sao hiểu
nổi. Chúng ta phải xét lui về quá khứ, khi gieo hạt cam loại
nào mới thấy thấu đáo vấn đề. Cũng thế, trong cuộc sống
khổ vui tốt xấu hiện tại của chúng ta, không nhìn lui về
quá khứ, khó bề hiểu biết tường tận. Cho nên trong kinh
Nhơn Quả Phật dạy:”Muốn biết nhơn đời trước, cứ xem
cuộc sống hiện tại nầy, cần biết quả đời sau, nên xem
hành động hiện nay”. Hiện tại là kết quả của quá khứ,
cũng là nhơn của vị lai. Cây cam là quả của hạt cam, cũng
là nhơn của quả cam. Muốn mai kia được nhiều quả cam ngon,
hiện tại chúng ta phải vun bón cho cây được sum suê. Đây
là khéo ứng dụng nhơn quả. Hiểu thấu đáo lý nhơn quả
là giác ngộ lý nhơn quả.
b.
Giác ngộ lý luân hồi
Luân
hồi là sự vận hành luân chuyển. Trong bầu vũ trụ chúng
ta hiện sống đây, luôn luôn vận hành luân chuyển. Quả địa
cầu xoay tròn mãi, sáng tối rồi sáng tối. Nhơn đó lập
thời gian: ngày, tháng, năm, xuân hạ thu đông. Thế rồi xuân
hạ thu đông lại xuân hạ thu đông... Đây là hiện trạng
luân hồi của không gian và thời gian. Cho đến mọi sinh vật
sinh sống trên quả địa cầu, vừa có sự sống là có vận
hành lưu chuyển, ở bên trong mọi vật đều có sự vận hành
luân chuyển không ngừng. Dừng đứng lại là mất sự sống.
Như nơi con người máu từ quả tim chạy ra các huyết quản,
từ các huyết quản trở về trái tim, sự vận hành ấy không
có khi dừng, vừa dừng lại là chết. Các sinh vật khác cũng
thế. Cho nên luân hồi là một thực thể của vũ trụ và
chúng sinh. Phủ nhận lý luân hồi là phủ nhận sự sống,
phủ nhận sự biến thiên của thời gian và không gian.
Thừa
nhận lý luân hồi, chúng ta phải thừa nhận hai yếu tố then
chốt của nó là vận hành và bất tận. Vì mọi hiện tượng
trên nhơn gian này luôn vận hành thăng trầm mà bất tận.
Sự vật tùy duyên đổi thay, song bản chất của nó không
mất. Ví như nước, tùy duyên nóng hay lạnh hình thái của
nó bị đổi thay. Từ một thể lỏng, gặp duyên nóng nước
biến thành thể hơi, gặp duyên lạnh cô đọng thành thể
cứng. Mọi sự biến thể của nước đều là tùy duyên. Có
khi nó nhẹ bàng bạc trong hư không, có khi đóng lại thành
khối cứng như đá. Tuy hình thái đổi luôn luôn, mà bản
chất nước vẫn không mất. Nếu ai thấy nước không còn
ở thể lỏng, bảo mất là khờ. Hoặc thấy tan không còn
ở thể cứng, bảo hết là dại. Người khôn ngoan biết sự
tùy duyên biến thái của nước, muốn nó thành hơi dùng duyên
nóng, muốn nó thành khối dùng duyên lạnh. Thế là tùy duyên
ứng dụng một cách linh động. Đó là chỗ sử dụng của
các nhà khoa học hiện nay.
Cũng
thế, sang lãnh vực con người, biết sự luân hồi tùy nghiệp
tùy duyên, người tu hành khéo tạo nghiệp lành duyên tốt,
để sự vận chuyển đúng theo sở nguyện của mình. Sử dụng
nghiệp duyên theo nguyện vọng sở thích của mình là người
thông suốt lý luân hồi. Biết rõ luân hồi là biến thể
chứ không mất, người tu không mắc kẹt hai cái chấp thường
kiến và đoạn kiến. Từ nghiệp duyên tốt xấu đưa đến
thành quả khổ vui ở mai kia. Chúng ta dại gì không chọn nghiệp
duyên tốt để được kết quả an vui. Đây là sự tu hành
của người Phật tử trong cuộc luân hồi.
2.
Ứng dụng tu nhơn thừa, thiên thừa
Sau
khi thành Phật, đức Thích Ca đã từng bảo:”Ta xem thấy
chúng sanh luân hồi trong sáu đường, như người mắt sáng
đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường, thấy người
qua lại của mỗi con đường một cách rõ ràng”. Trong sáu
con đường ấy là: Trời, Người, A tu la, Súc sanh, Ngạ quỉ,
Địa ngục. Ba con đường trên là tốt, ba con đường dưới
là xấu. Ba con đường trên chọn kỹ chỉ có cõi Trời, cõi
người còn tu được, A tu la nóng nảy khó tu. Vì thế người
tu phải chọn hai con đường trên, gọi là Nhơn thừa và Thiên
thừa.
a.
Nhơn thừa
Tu
nhơn thừa, trước phát nguyện qui y Tam bảo để vạch một
lối đi cho hiện tại và mai sau. Kế giử năm giới là nền
tảng tạo thành tư cách con người. Là con người ai cũng xem
sinh mạng mình là tối thượng, tài sản là huyết mạch, gia
đình là tổ ấm an vui. Vì thế tuyệt đối không được giết
người, không được trộm cướp của người, không được
phạm tà dâm. Lại không nói dối để gây uy tính, sự cảm
thông trong gia đình và ngoài xã hội, không uống rượu để
mình bình tỉnh sáng suốt và khỏi làm phiền hà mọi người
chung quanh. Hiện tại là một con người đúng tư cách con người,
vị lai cũng sẽ làm người xứng đáng danh nghĩa con người.
Đó là do thấy được nhơn, biết rõ quả và nhận được
sự bất tận trong dòng sinh mạng của con người, nên ứng
dụng tu như thế.
b.
Thiên thừa
Chúng
sanh ở cõi Trời do phước đức đầy đủ nên dục lạc sung
mãn. Chúng ta muốn hưởng sự an vui ấy, ngay hiện tại cần
phải tu mười điều lành, nhơn lành đầy đủ sẽ được
kết quả sanh cõi Trời. Mười điều lành có chia hai phần
tiêu cực và tích cực. Mười điều lành tiêu cực: không
giết người, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối,
không nói ly gián, không nói thêu dệt, không nói ác khẩu,
bớt tham lam, bớt nóng giận, không tà kiến. Mười điều
lành tích cực: cứu mạng chúng sanh, bố thí, trinh bạch, nói
chơn thật, nói hòa hợp, nói đúng lý, nói nhã nhặn, tập
từ bi, tập nhẫn nhục, chánh kiến. Mười điều này nhơn
thù thắng nên được quả thù thắng nhất trong sáu đường.
Vì thế, người Phật tử tu hành, nếu biết còn luân hồi
nên chọn cái luôn hồi nầy là là tốt đẹp hơn cả. Đó
là ứng dụng Thiên thừa, qua sự giác ngộ lý Nhơn quả, Luân
hồi.
III.
GIÁC NGỘ LÝ VÔ THƯỜNG, KHỔ, KHÔNG. ỨNG DỤNG TU THANH VĂN
THỪA
a.
Giác ngộ lý vô thường, khổ, không
Vạn
vật trên nhơn gian nầy đều là tướng di động biến thiên,
không một vật nào tạm yên và đứng nguyên một trạng thái.
Sự di động biến thiên ấy gọi là vô thường. Vô thường
là một lẽ thật bao trùm trên vạn vật. Đã có vô thường
phải đến biến hoại (khổ), đã biến hoại phải bị diệt
mất (không). Ba trạng thái nầy liên hệ dĩ nhiên với nhau.
Đã thừa nhận vô thường là thừa nhận KHỔ, thừa nhận
khổ phải chấp nhận KHÔNG. Vạn vật cứ như thế mà tiếp
diễn liên miên bất tận.
b.
Tu pháp tứ đế
Đức
Phật chứng kiến lẽ ấy, nên Ngài nói pháp tứ đế. Tất
cả là Khổ, vì nó là tướng vô thường biến hoại. Khổ
là một lẽ thực nên nói là KHỔ ĐẾ. Nói con người sanh
khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ. Đây là tướng vô thường
biến hoại của con người. Dù là người ở ngôi vị nào
cũng phải chung chịu bốn tướng ấy. Thế nên khổ đế là
luật chung của nhơn loại, không riêng bởi một cá nhân nào.
Chẳng những thế mà còn Ái biệt ly khổ, Cầu bất đắc
khổ, Oán tắng hội khổ và Ngũ ấm xí thạnh khổ. Nghĩa
là ngoài cái khổ biến hoại của bản thân còn những cái
khổ tình cảm bất như ý. Người thương yêu mà phải xa lìa,
khiến cho lòng dạ tan nát. Những điều mơ ước mong cầu
mà không toại nguyện, quả là một tuyệt vọng, một bất
mãn tột cùng. Kẻ oán ghét mà phải sống chung cùng, thực
là sự bực bội khó tả. Tổng quát ngay nơi thân năm ấm
này là một khối chung hợp toàn những thứ biến hoại đau
khổ. Kể cả những thứ khổ nhỏ nhiệm thì có đến 84.000
khổ.
Sự
khổ này không phải ngẫu nhiên mà có, chính nó phát xuất
từ nguyên nhơn: Si, tham, sân, mạn, nghi, ác, kiến. Nếu kể
chi ly có đến 84.000 thứ trần lao phiền não. Các thứ
đó gọi chung là Tập Đế. Do si mê không biết, coi thân tâm
như thật nên khởi tham ái thân tâm. Bởi tham ái thân tâm
nên mong cầu mọi sự khoái lạc, gặp sự chống đối liền
khởi tức giận. Do ái ngã nên khinh khi lấn lướt người.
Bởi si mê nên nghi ngờ lẽ thực và khởi kiến chấp tà ác.
Tu hợp những nguyên nhân mê lầm tạm bợ này làm ngã, quả
thực là nhơn của khổ, nên gọi là Tập đế, hay khổ tập.
Muốn
cho quả khổ tan hoại, không gì hơn đập thẳng nơi tập nhơn.
Tập nhơn đã tiêu diệt gọi là Diệt đế hay khổ diệt.
Bởi tập nhơn là mầm si mê biến hoại, nên khi diệt sạch
chúng thì, trí tuệ phát sanh, nhơn sinh diệt cũng bặt đứt.
Thế là chứng tứ quả Thanh văn được tịch diệt Niết Bàn.
Song
muốn phá hoại tập nhơn cần phải có phương tiện. Phương
tiện này là 37 phẩm trợ đạo: Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần,
Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chí, Bát chánh
đạo. Mỗi pháp như Tứ niệm xứ... ứng dụng triệt để
cũng có thể tiêu diệt được tập nhơn, nên gọi là Đạo
đế hay Khổ đạo. Chữ đạo có nghĩa là phương pháp, 37
phẩm nầy là những phương pháp diệt sạch tập nhơn đau
khổ.
Trong
bốn đế này, đứng về mặt nhơn quả mà nói: Khổ đế
là quả, Tập đế là nhơn của dòng luân hồi sanh tử. Diệt
đế là quả, Đạo đế là nhơn quả của dòng giải thoát
sanh tử. Thế nên còn có Tập đế quyết định phải có Khổ
đế, biết dụng tu Đạo đế đúng pháp, nhất định sẽ
đạt được Diệt đế. Thế là hai con đường luân hồi đau
khổ và tịch diệt Niết bàn đã trưng bày trước mắt chúng
ta, tùy ý chọn lấy mà đi. Đây là một lẽ thực không thể
sai chạy, cho nên Tôn giả A Nan trình lên Phật khi Ngài sắp
nhập Niết bàn: "Mặt trời có thể lạnh, mặt trăng có thể
nóng, pháp Tứ đế Phật nói vẫn không thay đổi."
IV.
GIÁC NGỘ LÝ NHƠN DUYÊN. ỨNG DỤNG TU DUYÊN GIÁC THỪA
a.
Giác ngộ lý duyên sanh vô ngã
Vạn
vật có hình tướng đều do duyên hợp. Không có một vật
tự thân là một vật, mà phải do chung hợp nhiều dữ kiện
mới hình thành. Cái bàn không tự là cái bàn, mà phải có
gỗ, có đinh, ông thợ mộc và dụng cụ mới tạo thành cái
bàn. Cái cây không tự là cái cây, mà phải có hạt giống,
có phân, có đất, có nước, có ánh nắng và người săn sóc
mới thành cây. Con người không tự là con người, mà phải
do tinh cha huyết mẹ, nhờ sự bú sữa, ăn uống, hít thở...
mới thành con người. Tóm lại trên thế gian nầy không có
vật gì tự nó thành nó, mà do nhơn duyên chung hợp thành hình.
Đã
do duyên hợp thì không chủ thể, thế là vô ngã. Như thân
xác thịt chúng ta, nhà Phật bảo là tứ đại hợp thành.
Đất nước gió lửa là bốn thứ lớn, hợp thành con người
cũng hợp thành sự vật. Thử phân tích con người, chất cứng
là đất, chất ướt là nước, chất động là gió, chất
ấm là lửa. Bốn chất nầy tìm xem cái nào là chủ? Nhẹ
như chất gió và lửa mà thiếu một, thử hỏi thân nầy còn
chăng? Quả nhiên không thể thiếu một chất nào mà thân nầy
còn tồn tại. Thế thì bốn chất có khả năng như nhau. Vậy
cái nào là chủ? Không có chủ tức vô ngã. Thân đã vô ngã,
tâm lại có ngã chăng? Nhà Phật chia thân nầy làm năm nhóm:
nhóm hình sắc gọi là sắc uẩn, nhóm cảm thọ gọi là thọ
uẩn, nhóm tưởng tượng gọi là tưởng uẩn, nhóm suy tư
gọi là hành uẩn, nhóm phân biệt gọi là thức uẩn. Bỏ
phần sắc uẩn ra, còn bốn thứ kia thuộc phần tâm thần.
Thế thì bốn nhóm thọ tưởng hành thức cái nào là chủ.
Nếu cảm thọ là chủ thì suy tư phân biệt là gì? Chính nơi
tâm thần chúng ta có đủ bốn nhóm ấy, mỗi thứ hoạt động
một lãnh vực riêng. Thế nên phần tâm cũng không có chủ
thể, ấy là tâm vô ngã.
b.
Tu pháp thập nhị nhân duyên
Mười
hai nhơn duyên, khởi đầu là vô minh duyên hành, hành duyên
thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục
nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ,
thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử. Thế là
"cái nầy có nên cái kia có, cái nầy sanh nên cái kia sanh".
Vô minh là mê lầm về bản ngã, nên mất thân theo nghiệp
dẫn là Hành. Nghiệp thúc đẩy thức đi thọ sanh là Thức.
Thức tựa vào sự phối hợp của tinh cha huyết mẹ là Danh
sắc. Danh là thức, sắc là tinh huyết cha mẹ, hợp thành thai
bào. Thai bào có đủ sáu căn là lục nhập. Khi ra khỏi lòng
mẹ, sáu căn tiếp xúc với sáu trần là Xúc. Do sự tiếp
xúc có cảm thọ khổ, vui, không khổ, không vui là Thọ. Bởi
cảm thọ nên sanh yêu thích là Ái. Từ yêu thích khởi tâm
bảo thủ là Thủ. Do bảo thủ tạo thành nghiệp thiện ác
là Hữu. Đã có nghiệp thiện ác là có sanh đời sau l