CHƯƠNG
IX
DẪN
CHỨNG LỜI KINH
Muôn
pháp về tâm hỏi đáp rõ ràng. Bậc thượng căn vừa xem qua
liền ngộ bản tâm, kẻ trung hạ căn ngu độn nghi ngờ bài
báng chẳng tin, nên dẫn lời kinh của Phật để chứng
minh hầu đaọn trừ những nghi hoặc, tin một cách thành thật
chẳng lầm. Hoặc có người được ngộ, y lời dạy mà vâng
làm, vào thẳng tòng lâm của Cổ phật, vượt ngang qua bờ
cõi then chốt của Tổ Sư. Có thể bảo ngay nơi nhục nhãn
mà viên thông Phật nhãn, ngay nơi tâm phàm mà hiển chơn tâm.
Nay thuật lời trong kinh Phật và lời của Tổ sư để ấn
chứng chánh lý qui tâm.
Kinh
Bát Nhã nói: “Hết thảy chư Phật đồng ở một chỗ, gom
về cảnh giới vô lậu và tự tánh thanh tịnh”.
Kinh
Hoa Nghiêm nói: “Lời lẽ thuyết pháp (của Như Lai), kẻ tiểu
trí vọng phân biệt, nên sanh chướng ngại, chẳng rõ ở tự
tâm. Không rõ tự tâm làm sao biết chánh đạo? Kẻ kia dùng
tư tưởng điên đảo nên tăng trưởng tất cả điều ác”.
Kinh
Lăng Già nói: “Đệ nhất nghĩa đế chỉ là tâm. Vô vàn
tướng bên ngoài, tất cả đều không có. Kẻ phu kia chấp
trước vào ác kiến, khi dối tự tha, không thấy rõ được
chỗ trụ như thật của hết thảy các pháp. Đại Huệ! Hết
thảy các pháp như thật, ấy nghĩa là hay liễu đạt lý duy
tâm sở hiện”.
Kinh
Tứ Thập Nhị Chương nói: “Người xuất gia làm sa môn, (phải)
đoạn dứt ham muốn, khử trừ khát ái, biết được nguồn
tâm của mình, đạt được lý gốc của Phật, ngộ pháp vô
vi, bên trong không sở đắc, bên ngoài không sở cầu, tâm
không hạn cuộc nơi đạo, cũng không tạo nghiệp, vô niệm
vô tác, phi tu, phi chứng, phải trải qua các ngôi thứ mà tự
cao tột. Đó gọi là Đạo!”
Kinh
Bảo Vân nói: “Hết thảy các pháp, tâm là trên hết. Nếu
biết tâm thì có thể biết được tất cả các pháp”.
Bài
kệ trong Kinh Nhơn Quả nói: “Tạo tất cả thiện ác đều
từ tâm tưởng sanh. Cho nên người xuất gia chơn chánh đều
lấy sự minh tâm làm gốc”.
Kinh
Niệm Phật Tam Muội nói: “Tâm như kim cang, với ngừoi thiệncăn
hay xuyên thấu tất cả pháp. Tâm như áo Ca lân đề, với
người thiện căn hay mềm dẻo. Tâm như bể cả, với người
thiện căn hay nhiếp các giới tu. Tâm như đá bằng phẳng,
với người thiện căn hay đứng giữ tất cả sự nghiệp.
Tâm như núi chúa, với người thiện căn hay phát sanh tất
cả pháp lành. Tâm như cõi đất, với người thiện căn hay
gánh vác và gìn giữ sự nghiệp cho chúng sanh”.
Kinh
Định Ý nói: “Trong thiền định chẳng dính mắc trong ngoài,
cũng không ở giữa, đó gọi là nhứt tâm”.
Kinh
Bảo Khiếp nói: “Văn Thù sư lợi bảo Xá lợi Phất rằng
như hoả tai cháy mạnh trong hằng sa kiếp, rốt lại cũng không
đốt được hư không. Xá Lợi Phất! Cũng như vậy, mỗi mỗi
chúng sanh tạo tội ngũ nghịch, cùng nghiệp chẳng lành trong
hằng sa kiếp, nhưng mà tâm tánh họ rốt lại cũng chẳng
thể nhơ”.
Bài
kệ torng Kinh Đại hư không tạng Bồ tát sở vấn nói:
Hư
không lìa sanh diệt
Pháp
giới không tới lui
Các
pháp nương tâm mà trụ.
Trong
không, không có sắc phi sắc
Tâm
tánh cũng như vậy
Hư
không chỉ giả danh
Tâm
ý thức cũng như vậy.
Bài
kệ Kinh Lăng Già nói:
Các
pháp không pháp thể
Mà
nói chỉ là tâm
Chẳng
thấy dược tự tâm
Mà
khởi ra phân biệt.
Kinh
Xuất Diệu nói: “Người thân mặc giáp giới luật, mà tâm
không có gươm trí huệ, thì không làm tan hoại được bọn
đầu sỏ kiết sử. Cho nên biết, nếu chẳng quán tâm cho
diệu huệ thành tựu, thì không thể chặt đứt được căn
bản vô minh”.
Kinh
Niết Bàn nói: “Sư tử rống ấy là nói một cách quyết
định rằng tất cả chúng sanh dều có Phật tánh. Nếu biết
tự tâm mình Phật tánh đầy đủ, thì ngoài tánh lại có
pháp đáng cầu ư?”.
Kinh
Pháp Hoa Tam Muội nói: “Không dính mắc, không chỗ nương,
không hệ luỵ vào tâm tịch diệt, ban tánh như hư không. Đó
gọi là vô thượng đạo”.
KỆ
CỦA BẢY ĐỨC PHẬT
Bài
kệ của Phật Tỳ Bà Thi nói:
Thân
từ trong vô tướng thọ sanh,
Dụ
như huyễn, xuất các hình tượng.
Người
huyễn, tâm thức xưa nay không,
Tội
phước đều không, không chỗ trụ.
Bài
kệ của Phật Thi Khí nói:
Tạo
các pháp lành vốn là huyễn,
Tạo
các nghiệp ác cũng là huyễn.
Thân
như hòn bọt tâm như gió,
Huyễn
hiện không nguồn, không thật tánh.
Bài
kệ của Phật Tỳ Xá Phù nói:
Vay
mượn bốn đại ngỡ là thân,
Tâm
vốn không sanh nhơn cảnh có.
Cảnh
trước nếu không tâm cũng không.
Tâm
như huyễn khởi rồi diệt.
Bài
kệ của Phật Câu Lưu Tôn nói:
Thấy
thân không thật là Phật thấy
Rõ
tâm như huyễn là Phật rõ.
Rõ
được thân tâm bản tánh không.
Người
nầy cùng Phật có khác gì?
Bài
kệ của Phật Câu Na Hàm Mâu Ni nói:
Phật
chẳng thấy thân biết là Phật.
Nếu
thật có biết riêngkhông Phật.
Người
trí hay biết tội tánh không,
Thản
nhiên chẳng sợ việc sanh tử.
Bài
kệ của Phật Ca Diếp nói:
Hết
thảy chúng sanh tánh thanh tịnh,
Từ
xưa không sanh không thể diệt.
Ngay
thân tâm nầy là huyễn sanh.
Trong
huyễn hoá không tội, không phước.
Bài
kệ của Phật Thích ca Mâu ni nói:
Huyễn
hoá không nhơn cũng không sanh,
Đều
là tự nhiên thấy như vậy.
Các
pháp thảy đều tự hoá sanh,
Huyễn
hoá không sanh, không chỗ sợ.
LỜI
CHƯ TỔ
Bài
kệ của sơ Tổ Bồ đề đạt ma nói:
Chớ
thấy ác mà sanh chán,
Chớ
thấy thiện mà sanh ưa,
Chẳng
bỏ trí mà gần ngu,
Chẳng
lbỏ mê mà đốn ngộ.
Đạt
đạo lớn chừ quá lượng,
Thông
Phật tâm chừ vô số,
Chẳng
cùng phàm thánh đồng vai,
Siêu
nhiên gọi đó là TỔ.
Nhị
Tổ nói: “Tâm nầy là Phật, tâm nầy là pháp, pháp và Phật
không hai. Tăng bảo cũng vậy”.
Tam
Tổ nói: “Mắt nếu chẳng ngủ các mộng tự trừ. Tâm nếu
không khác muôn pháp nhứt như. Nhứt như thể mầu, như vậy
quên duyên, muôn pháp đều thấy, trở về tự nhiên”.
Tứ
Tổ nói với Ngưu đầu Pháp Dung rằng: “Trăm ngàn cửa diệu
đồng về gang tấc, hằng sa công đức gom ở nguồn tâm. Tất
cả định môn, huệ môn và hạnh môn đều đầy đủ, thần
thông diệu dụng đều ở nơi tâm ông”.
Ngũ
Tổ nói: “Muốn biết pháp yếu, tâm là căn bản của mười
hai bộ kinh. Chỉ có pháp nhứt thừa, pháp nhứt thừa là nhứt
tâm vậy. Chỉ giữ nhứt tâm tức là tâm chơn như môn. Hết
thảy các pháp chẳng ra ngoài tự tâm, chỉ tự tâm biết tâm
không hình sắc. Chư Tổ chỉ lấy tâm truyền tâm, bậc liễu
đạt ấn khả, không pháp gì riêng”.
Lục
Tổ nói: “Hết thảy các ngươi tự tâm là Phật, chớ có
hồ nghi. Ngoài tâm không có một pháp có thể dựng lập, đều
là tự tâm sanh muốn thứ pháp. Kinh nói: “Tâm sanh muôn ngàn
pháp sanh”. Pháp kia không hai, tâm kia cũng vậy. Đạo kia thanh
tịnh không có các tướng. Ông chớ quán thanh tịnh và không
(rỗng) tâm kia Tâm nầy không hai, không thể thủ xả, đi đứng
nằm ngồi đều một trực tâm tức là tịnh độ. Y lời nói
ta nhứt định ông sẽ được bồ đề”.
TUYỆT
QUÁN LUẬN CỦA ĐẠI SƯ NGƯU ĐẦU PHÁP DUNG
HỎI:
Thế nào là tâm?
ĐÁP:
Chỗ quan sát của sáu căn đều là tâm.
HỎI:
Tâm chỗ nào?
ĐÁP:
Tâm ngay chỗ diệt.
HỎI:
Gì là thể?
ĐÁP:
Tâm là thể.
HỎI:
Gì là Tông (chủ)?
ĐÁP:
Tâm là Tông.
HỎI:
Gì là gốc?
ĐÁP:
Tâm là gốc.
HỎI:
Thế nào là định huệ đồng vui?
ĐÁP:
Tâm tánh lặng lẽ là định, thường hiểu rõ cái lặng lẽ
ấy là Huệ.
HỎI:
Gì là trí?
ĐÁP:
Cảnh dấy lên mà hiểu rõ là trí.
HỎI:
Gì là cảnh?
ĐÁP:
Tự thân tâm tánh là cảnh.
HỎI:
Gì là thư (rải ra)?
ĐÁP:
Dụng chiếu soi là thư.
HỎI:
Gì là quyện (cuốn lại)?
ĐÁP:
Tâm lặng lẽ không đến đi là quyện. Rải ra thì đầy khắp
pháp giới, cuốn lại thì dấu vết khó tìm.
HỎI:
Gì là pháp giới?
ĐÁP:
Không bờ mé để chỉ bày được gọi là pháp giới.
Thiền
sư Trù nói: “Hết thảy duyên bên ngoài gọi là tướng định,
sự phải quấy sanh diệt, tất cả đều do tự tâm. Nếu tự
tâm mà vô tâm ai ngại gì phải quấy? Năng sở đều không,
tức các tướng đều lặng”.
Bài
kệ của Bàng Cư Sĩ nói:
Muôn
pháp từ tâm khởi,
Tâm
sanh muôn pháp sanh.
Sanh
sanh chẳng rõ có,
Tới
lui uổng tu hành.
Nhắn
gửi người tu đạo.
Không
sanh, có chẳng sanh.
Nếu
hay đạt lý nầy,
Chẳng
động, thoát hầm sâu.
Bài
ca của Hòa Thượng Đằng Đằng:
Tu
đạo, đạo không thể tu,
Hỏi
pháp, pháp không thể hỏi.
Người
mê không ngộ sắc không,
Kẻ
đạt vốn không nghịch thuận.
Tám
muôn bốn ngàn pháp môn,
Rốt
lý chẳng hơn gang tấc.
Phiền
não chính là Bồ đề,
Hoa
sạch sanh nơi bùn nhớp...
Chớ
dối, chơi châu huyện khác.
Thiền
sư Ngọa Luân nói: “Thấu đáo được tâm tánh kia trạm nhiên
rỗng suốt, xưa nay chẳng sanh, cũng chẳng diệt, nào phải
gom ép. Chỉ biết tâm khởi vọng, tức là phải hướng nơi
phản chiếu lại nguồn tâm, không có gốc rễ tức là chỗ
vô sanh. Vì vô sanh nên tâm tịch tĩnh vô tướng vô vi”.
Bài
tụng của thiền sư Trí Đạt nói:
Cảnh
lập, tâm liền có,
Tâm
không, cảnh chẳng sanh.
Nếu
đem tâm cột cảnh,
Tâm
cảnh cả đều mà,
Cảnh
tâm mỗi tự dừng,
Tâm
cảnh tánh thường trong.
Ngộ
cảnh tâm không khởi,
Mê
tâm cảnh đồng hành,
Nếu
mê tâm tạo cảnh,
Tâm
cảnh loạn tung hoành,
Ngộ
cảnh tâm vốn tịnh,
Biết
tâm cảnh vốn trong.
Biết
tâm không cảnh tánh,
Rõ
cảnh tâm không hình.
Cảnh
rỗng tâm lặng lẽ,
Tâm
chiếu cảnh im lìm.
Đại
sư Phổ Ngạn nói: “Đại đạo rộng lớn, chỉ một chơn
tâm. Thiện ác chớ nghĩ thần trong, vật hiện, lại có lo
gì?”.
Hòa
Thượng Qui Sơn nói: “Các pháp trong ngoài đều chẳng thật,
từ tâm hóa sanh, tất cả đều giả danh. Mặc tình pháp tánh
châu lưu (trôi khắp), chớ đoạn cũng chớ tiếp tục”.
Hòa
thượng Hoàng Bá nói: “Chỉ ngộ nhứt tâm lại không một
pháp nhỏ có thể được. Đây tứ là chơn Phật. Phật cùng
chúng sanh một tâm không khác. Chẳng bằng ngay nơi lời tự
nhận giữ cái bổn pháp. Pháp nầy tức là tâm, ngoài tâm
không pháp. Tâm nầy tức là pháp, ngoài pháp không tâm”.
Hòa
thượng Ngưỡng Sơn nói: “Đốn ngộ tự tâm không tướng,
dụ như hư không. Nương nơi căn mà phát minh, tức là bản
tâm đủ hằng sa diệu dụng, không có chỗ gìn giữ riêng,
không có chỗ an lập riêng, tức là quê nhà, tức là nước
nhà”.
Hòa
thượng An Quốc nói: “Kinh nói nên không có chỗ trụ mà
sanh tâm. Không chỗ trụ ấy là chẳng trụ sắc, chẳng trụ
thinh, chẳng trụ mê, chẳng trụ ngộ, chẳng trụ thể, chẳng
trụ dụng. “Mà sanh tâm” ấy tức là tất cả chỗ mà hiển
nhứt tâm. Nếu trụ vào thiện mà sanh tâm tức là điều thiện
hiện. Nếu trụ vào ác mà sanh tâm tức là đều ác hiện,
vậy thì bổn tâm liền ẩn mất. Nếu không chỗ trụ thì
mười phương thế giới chỉ một tâm. Tin biết gió phan chẳng
động, tâm ấy động”.
Hòa
thượng Qui Tông nói: “Ngay tâm nầy là Phật, tột đáy chỉ
có tánh. Sơn hà đại địa một pháp ấn định, là thần
chú lớn chơn thật không dối, là bản nguyên của chư Phật,
là cội gốc và là xương tủy của bồ đề. Phật thế nào
mới phải? – Ngay lời nói nầy là phải, lại không người
khác. Kinh nói: “Ví như một hình sắc tùy theo cái nhìn của
chúng sanh mà có muôn ngàn tên. Tất cả pháp chỉ là một
pháp, tùy chỗ mà mang tên”.
Bài
kệ trong Luận Bảo Tánh nói:
Như
hư không biến khắp cả,
Mà
hư không chẳng phân biệt.
Tự
tâm và vô cấu tâm,
Cũng
không phân biệt cùng khắp.
Pháp
sư Phục Lễ nói: “Xét về ý nghĩa của nghiệp, thì nghiệp
do tâm khởi, tâm là dụng của nghiệp, nghiệp dẫn tâm thọ
sanh, tâm theo nghiệp tạo cảnh. Vậy thì nhơn nghiệp mà thọ
thân, thân trở lại tạo nghiệp. Từ tâm tạo cảnh, cảnh
lại sanh tâm. Như bóng theo hình mà ngay hay cong, như vang theo
tiếng mà có lớn hay nhỏ”.