Lấy
lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia và lợi ích chúng sinh
làm điểm căn cốt trong quá trình tu tập của mỗi cá nhân.
Những người tu theo hạnh Bồ Tát mà không đặt lợi ích
dân tộc, lợi ích chúng sinh, lợi ích nhân loại lên trên
hết thì không phải là thiền Trúc Lâm Việt Nam.
Cận
tết trời rét lạ, phải hơn 10 năm rồi mới có một đợt
rét đậm rét hại đến như thế. Mưa bụi giăng giăng mờ
ảo, những bóng người to sụ vì áo đơn áo kép đi nép vào
vỉa hè, tay xách nách mang dáng chừng vội vã.
Cổng
chùa Phúc Khánh đông nghẹt. Mặc dù đã hẹn trước với
Thượng tọa Thích Thanh Quyết một cuộc trò chuyện cuối
năm về thiền Việt Trúc Lâm nhưng vẫn phải chờ khá lâu.
Phật sự cuối năm của dòng thiền tích cực nhập thế chẳng
nói thì ai cũng rõ. (Hình bên:Thượng
tọa Thích Thanh Quyết)
Chờ
mãi rồi cũng gặp. Trong bộ nâu sồng trang nhã, Thượng tọa
Thích Thanh Quyết bình lặng nghe câu hỏi: Phật giáo thời
Trần có gì khác với phật giáo thời Lý? Tại sao dòng thiền
Trúc Lâm Yên Tử lại gắn bó chặt với thế sự về mọi
phương diện, cùng với vương triều Trần ba lần chặn đứng
vó ngựa của đội quân dũng mãnh nhất, thiện chiến nhất
thế giới lúc bấy giờ, lập nên chiến công ngời chói sử
xanh?
Thượng
tọa Thích Thanh Quyết mỉm cười và từ tốn giải mối nghi:
Nói về chốn tổ Yên Tử thì cả nước không ai không biết,
những người nghiên cứu phật giáo, lịch sử phật giáo trên
thế giới đều thống nhất ở một điểm căn bản: Tư tưởng
của thiền phái Trúc Lâm là đặc thù tạo nên phật giáo
Việt Nam. Dòng thiền này lấy lợi ích dân tộc, lợi ích
quốc gia và lợi ích chúng sinh làm điểm căn cốt trong quá
trình tu tập của mỗi cá nhân. Những người tu theo hạnh
Bồ Tát mà không đặt lợi ích dân tộc, lợi ích chúng sinh,
lợi ích nhân loại lên trên hết thì không phải là thiền
Trúc Lâm Việt Nam.
Dòng
thiền này xuất sinh từ thời Bắc thuộc, trải dài qua các
triều đại đến Đinh, Lê, Lý và đến thời Trần thì thực
sự thăng hoa. Đây là sự thăng hoa của cả quá trình hơn
1000 năm vặn xoáy, cộng với văn hóa dân tộc, cộng với
tín ngưỡng dân gian, phong tục tập quán người Việt. Tất
cả hòa quyện lại với nhau tạo nên dòng thiền Trúc lâm
Yên Tử.
Một
số dòng thiền khác trên thế giới cũng có sự cộng hưởng
với lợi ích dân tộc nhưng chỗ mờ chỗ nhạt chứ không
đậm nét như thiền Việt Nam.

Lăng
và tượng Trần Nhân Tông trên Yên Tử.
Sự
thăng hoa của thiền phái Trúc Lâm thực chất chỉ khoảng
50 năm nhưng trong thực tế thì tư tưởng, tinh thần của nó
đã tan hòa trong cuộc sống thường nhật của người tu hành,
phật tử tại gia. Các cụ đã để lại đôi câu đối rất
hay nói về chính điểm này: Hoằng dương phật pháp, lợi
lạc quần sinh / Phụng sự tổ quốc, bảo vệ hòa bình...
Nhân
Thượng tọa Thích Thanh Quyết nói về "lợi lạc quần sinh",
"lợi ích dân tộc, lợi ích nhân loại" bất chợt nảy sinh
một mối liên hệ: Đức Trần Nhân Tông đã từng tu phật
trước khi lãnh đạo 2 cuộc kháng Nguyên Mông vĩ đại. Điều
đó đã thể hiện tính nhập thế cao độ, lúc thiên hạ yên
bình thì tham thiền nhập định, thuyết giảng từ bi, bác
ái, khoan hòa; khi đất nước gặp cơn nguy biến thì cầm gươm
hiệu triệu toàn dân ra trận. Thái độ đàng hoàng dứt khoát
gồm đủ cả ở cương vị ông vua và ở cương vị tổ phái
Trúc Lâm. Thượng tọa Thích Thanh Quyết đồng ý và dẫn thêm:
Ở
tuổi 35, Trần Nhân Tông đã rời bỏ ngai vàng đi tu tạo nên
sự ngưỡng mộ của toàn dân. Thiền phái Trúc Lâm thăng hoa
đúng vào lúc đó là đương nhiên. Trước Trần Nhân Tông
đã có Thái Tông viết Khóa hư lục đặt nền tảng cho phật
giáo Việt Nam nhưng đấy là sự chuyển giao từ Lý sang Trần
nên còn nhiều chỗ sống sượng, chưa yên. Sau khi lãnh đạo
dân tộc 2 lần chiến thắng oang liệt quân Nguyên, đức vua
Trần Nhân Tông lại gác kiếm, từ bỏ ngai vàng để xuất
gia. Xuất gia cũng để giảng về đạo lý làm người, giúp
dân cởi bỏ tính xấu, tính ích kỷ hướng đến lợi ích
chung của cả dân tộc. Vì thế, tăng ni, phật tử, dân chúng
cuộn về với tổ phái Trúc Lâm, với vương triều nhà Trần.
Việc lớn nước nhà không có gì mà không thành công.
Dấu
nền am Ngọa Vân.
Tinh
thần phật Việt góp phần tạo nên hào khí Đông A và đến
lượt hào khí Đông A hỗ trợ cho sự thăng hoa của Phật
Việt. Cả hai hòa quyện, cuộn xoắn với nhau không thể tách
rời vì mục đích chung: lợi lạc quần sinh, lợi ích dân
tộc, lợi ích nhân loại. Cũng nên biết thêm, khi đó ở phía
Nam thì quân Nguyên đã tràn qua Trung Quốc, ở hướng Bắc
thì đã tràn qua cả một phần nước Nga uy hiếp châu Âu.
Nhà Trần chiến thắng đội quân hung hãn, thiện chiến này,
làm chúng nhụt nhuệ khí và tan rã dần cũng chính là việc
"lợi ích nhân loại".
Trầm
ngâm giây lát, Thượng tọa Thích Thanh Quyết rành rẽ nói
thêm: Còn một điểm quan trọng nữa sẽ cần cho mọi triều
đại, mọi thời là tư tưởng của thiền phái Trúc Lâm gắn
liền với tư tưởng "công thành, thân thoái" của dân tộc.
Trong tâm thức mỗi người dân Việt đều lưu giữ huyền
thoại Thánh Gióng đánh xong giặc thì bay về trời. Đến thời
Trần tư tưởng ấy lại bừng nở qua sự thăng hoa của các
vua Trần. Ngay khi đạt đỉnh cao của sự nghiệp thì lui về
nhường bước cho giới trẻ. Tư tưởng này thời nào cũng
cần đến, hào khí bao giờ cũng ở những người trẻ.
Tư
tưởng "công thành, thân thoái" mà Thượng tọa Thích Thanh
Quyết vừa dẫn ra không có gì mới nhưng thực hiện được
thì lại rất khó. Có lẽ, các vua Trần làm được bởi vì
các ngài ở ngôi thế tục chí cao lại kiêm luôn cả ngôi
vị tổ thiền phái Trúc Lâm mang bản sắc rất riêng của
người Việt. Dường như nhìn thấu nỗi băn khoăn về tư
tưởng này, Thượng tọa giải đáp ngay mà không cần câu
hỏi trực diện: Theo tôi là không khó, vấn đề là ta có
dám hy sinh không? Phật tổ thành Phật khi mới 35 tuổi, Trần
Nhân tông cũng giác ngộ và đắc pháp khi mới hơn hai mươi
tuổi, Đệ nhị tổ Pháp Loa đi tu khi 21 tuổi, sau 3 năm đã
kế vị Đệ nhất tổ Trần Nhân Tông. Nếu 24 tuổi mà
vẫn ngồi nhà, không được hướng dẫn, không được giao
quyền lực thì chắc vẫn còn chơi bời lẫn trong chúng sinh.
Có cờ trong tay thì mới phất, và chỉ người trẻ phất mới
khỏe.
Về
điểm này có thể dẫn chính sử ra để chứng minh: Nhà Trần
rất biết học và rất biết cách dùng các tài năng trẻ.
Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải được trao chức Thái sư
kiêm luôn Thái Úy, đứng đầu cả hai ban Văn, Võ trong triều
khi mới 18 tuổi. Năm 1247, lần đầu tiên nhà Trần mở khoa
thi lấy đỗ tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa) và
chúng ta có những nhà khoa bảng rất trẻ: Nguyễn Hiền đỗ
trạng khi mới 13 tuổi, Đặng Ma La đỗ Bảng nhãn khi mới
16 tuổi, Lê Văn Hưu đỗ Thám hoa khi mới 18 tuổi. Tuổi trẻ,
tài cao, đỗ đạt xong là được bổ nhiệm ngay vào những
chức vị quan trọng nhất của triều đình. Sử gia Lê Văn
Hưu mới 18 tuổi nhưng đã là thầy dạy cho Thái Sư kiêm Thái
Úy Trần Quang Khải. Cờ đã vào tay đúng người tài cao trẻ
tuổi và họ đã phất lên hào khí Đông A chói ngời sử Việt.
Câu
chuyện cuối năm càng lúc càng hào hứng, chuyện Phật Việt
xoắn cuộn với chuyện đời thực hôm nay...
Khánh
Linh - Quang Hải
02-05-2008
11:23:13