PHƯƠNG
TRỜI CAO RỘNG
TẠP
CHÍ VĂN HỌC PHẬT GIÁO ● SỐ 18 - THÁNG 11 NĂM 2007
Nội
dung số này:
QUÉT
RÁC | 2 – Thư người chủ trương, Vĩnh Hảo
● NGÀY NGÓ XUỐNG, MỘT PHƯƠNG TRỜI, NHA TRANG HÀNH CA
M., CỔ TÍCH | 4 – thơ Nguyễn Đức Bạt Ngàn
● TU LUYỆN TÂM XẢ | 5 – Dalai Lama - Thích
Trí Chơn dịch ● CUỐI MẮT ĐẦU MÔI |
7 – thơ Trần Vấn Lệ ● NHỮNG GIÁ TRỊ PHỔ QUÁT
CỦA BỒ TÁT HÀNH | 8 – Tuệ Sỹ ● TRĂNG
MỘT PHƯƠNG, GIÓ ÚA | 17 – thơ Tô Mặc Giang
● Y HỌC TRONG TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO | 18 –
Tùng Sơn ● THỜI LOẠN VÀ GIAI NHÂN | 26
– Vĩnh Liêm – Văn Uyên ● LÊN NÚI, XUỐNG
NÚI | 29 – thơ Hồ Chí Bửu ● THƯ
THÔNG BÁO VÀ CẢM ƠN VỀ BẢN LÊN TIẾNG CỦA VĂN NGHỆ SĨ
TỰ DO | 30 – Vĩnh Hảo ● BẢN LÊN TIẾNG
CỦA VĂN NGHỆ SĨ TỰ DO VỀ TRƯỜNG HỢP NHÀ THƠ TUỆ SỸ
| 31 ● TAM TẠNG ĐƯỢC KINH QUA CÁI NHÌN THIỀN
TÔNG | 34 – Chân Hiền Tâm ● TU TIÊN
| 38 – tiểu luận Võ Doãn Nhẫn ● NỤ
CƯỜI THIÊN THU | 41 – thơ Thích Tánh Tuệ ●
MÂY, ĂN CHAY GIẢI NGHIỆP | 41 – thơ Chánh Năng ●
VÒNG QUAY | 42 – truyện ngắn Nguyên Hiệp ●
KHÍ PHÁCH | 43 – thơ Nguyễn Thanh Huy ●
NGƯỜI NHẶT TRO | 44 – truyện ngắn Hoàng
Ngọc Thư ● LỄ TẠ ƠN | 51 – tùy bút
Thích nữ Chân Thiền ● ĐAM MÊ |
52 – thơ Hồ Hương Lộc ● MÙA LỄ TẠ ƠN
| 53 – truyện ngắn Trịnh Gia Mỹ ● VI
TRẦN | 54 – thơ Lâm Bích Nhy ● NHỮNG
GIÒNG SÔNG CẠN NƯỚC | 55 – tùy bút Biện
thị Thanh Liêm ● IM LẶNG SẤM SÉT | 56 – thơ
Tâm Thường Định ● VÔ VỊ CHÂN NHÂN |
57 – truyện ngắn Toại Khanh ● MÙA THU HẢI ĐẢO
| 59 – thơ Minh Nguyệt ● NGƯỜI Ở TRÊN MÁI
NHÀ | 60 – truyện ngắn Hàn Tâm ● KHOÁC
ÁO CHÂN KHÔNG, BỎ QUÊN PHIỀN MUỘN | 63 – thơ Mai
Khanh – Lê Đình Cát ● CHUYỆN TÌNH VỚI ANH
CU YÊN | 64 – truyện ngắn Trần thị Nhật Hưng
● HƯƠNG CHIÊN ĐÀN, TIẾNG ĐÀN TỲ LÔ GIÁ NA |
69 – thơ Lý Thừa Nghiệp ● CHỊ TÔI |
70 – chuyện ngắn Văn Hưng ● ĐI, ĐẾN, Ở, VỀ
| 72 – thơ Mỹ Huyền ● MIẾNG ĐẬU HŨ
| 73 – truyện ngắn Lữ ● KHÔNG ĐỀ
| 74 – thơ Nguyễn Văn Phin ● MẶC
| 75 – tường thuật của Huệ Trân ●
ĐÊM THU | 79 – tùy bút Quỳnh My ● KHÓA
TU PHẬT PHÁP MÙA THU – CON ĐƯỜNG BỒ TÁT ĐẠO |
81 - tường thuật của Diệu Trang ● TU BỤI | 85 – truyện
dài Trần Kiêm Đoàn ● DOÃN QUỐC VINH TRIỂN LÃM:
AO NHÀ LUNG LINH | 90 –Việt Báo ● TIN TỨC
PHẬT GIÁO KHẮP NƠI | 92
Tranh
bìa: ĐẶNG THỊ QUẾ PHƯNG
Chủ
nhiệm / Chủ bút: VĨNH HẢO
Địa
chỉ liên lạc: P.O. Box 374 - Midway City, CA 92655 – USA
Telephone:
(714) 623-4285
E-mail:
vinhhao@vinhhao.net hoặc
phuongtroicaorong@vinhhao.net
● Website: www.vinhhao.net
Bài
đăng trên Phương Trời Cao Rộng do văn thi hữu gửi đến
bằng e-mail với attachments, đĩa (CD), hoặc viết tay trên một
mặt giấy. Bài không đăng không gửi lại bản thảo. Tòa
soạn nhuận sắc nếu cần. Bài có nhuận bút xin ghi rõ “yêu
cầu nhuận bút.”
Phương
Trời Cao Rộng là nơi tập đại thành những bài viết của
Tăng Ni và văn thi sĩ Phật giáo khắp nơi, nhiều khuynh hướng,
nhiều giáo hội, tông phái, do đó không nhất thiết phản
ảnh quan điểm và chủ trương của tạp chí.
(xem
nội dung số 18)
QUÉT
RÁC
(THƯ
SỐ 18 của NGƯỜI CHỦ TRƯƠNG)
Vĩnh
Hảo
Những
hoa hồng hôm qua nở đẹp dưới nắng buổi đầu thu, nay đã
rụng xuống sân, vẽ thành một khoanh nhỏ lốm đốm những
cánh hoa teo rút, đỏ tía. Lá vàng từ cây kiểng vườn nhà
kế bên cũng lác đác rải xuống vườn này. Trời không gió,
nhưng lạnh. Qua khung kiếng cửa sổ hướng về vườn trước,
thấp thoáng có bóng người bộ hành băng ngang, khoác áo dày,
dẫm trên lá xào xạc. Ngập trên bãi cỏ và lối đi là lá
phong, nhiều màu, từ vàng nhạt đến đỏ sẫm. Nhìn từ xa,
chỉ thấy một thảm lá dầy, thỉnh thoảng giao động như
những đợt sóng nhỏ gợn nhẹ trên mặt đại dương chóa
ánh mặt trời.
Thảm
lá ấy sẽ được trải khắp vườn trước như thế cho đến
cuối tuần, khi những người làm vườn mang máy thổi và dụng
cụ hốt rác đến. Chẳng biết nên buồn hay vui khi lá vàng
được dọn sạch, trả lại cho khu vườn vẻ ngăn nắp, sạch
sẽ cố hữu, như mọi người mong đợi.
Hoa
trên cành, lá trên cây, người trên đời, khi rơi ngã xuống,
mang theo sinh khí và cái đẹp xuống lòng đất. Những cánh
hoa phai và những chiếc lá vàng nhiều sắc màu, cũng chỉ
trong một thời gian ngắn đã trở thành rác rến. Trên thực
tế, mỹ quan chẳng qua cũng chỉ là một thoáng lãng mạn của
những kẻ dị cảm, đa tình, không thắng nổi cái ngăn nắp
trật tự và vệ sinh chung của đời sống xã hội.
“Con
nai vàng ngơ ngác, đạp trên lá vàng khô.” Nai có thích
lá vàng không thì không biết. Người thì hầu như đa số
thích ngắm lá vàng mùa thu, còn trên cành hay rụng đầy mặt
đất. Người cũng thích dẫm lên lá khô, lắng nghe tiếng
lào xào vui tai. Có khi hứng thú nằm lăn trên thảm lá, đùa
giỡn với nhau, hoặc chỉ một mình, nằm im, lặng ngắm những
cánh chim bay ngang trời thu tịch mịch, và lắng nghe tiếng
gió rung đưa những hàng cây trơ trụi.
Nhưng
đó chỉ là những phút nhàn tản, nghỉ ngơi, muốn tận hưởng
vẻ đẹp của thiên nhiên nơi bãi cỏ, công viên, bìa rừng…
còn ở nhà, sân trước hay vườn sau, lá vàng khô là rác rến,
cần phải hốt dọn.
Thực
tế của đời sống trong tương quan xã hội là như thế. Những
gì đã rơi, tàn, phai, héo úa, không còn dính vào thân, không
còn là sở hữu của ai, hoặc không ai muốn sở hữu… đều
là rác.
Tóc
huyền ai thơm, tung bay những chiều lộng gió, rời khỏi mái
đầu ấy, một sợi hay một nhúm, trên đất hay trong thức
ăn, sẽ không còn là chủ đề cho một câu thơ lãng mạn.
Rác.
Rác. Rác. Nhìn đâu cũng thấy rác là đặt chân nơi cánh cửa
của chánh kiến, phân biệt chánh-tà, thiện-ác. Rác là những
gì đã được sinh ra, tạo ra, mà không duy trì được trạng
thái nguyên thủy của chúng, hoặc không cần thiết dùng đến
nữa. Nhân nơi rác mà thấy cái tướng hoại diệt. Không có
sinh thì không có diệt. Không có diệt thì không có rác. Cho
nên việc quét rác, dọn dẹp là việc trường kỳ không bao
giờ dứt, của người phu chuyên nghiệp đối với vệ sinh
chung, của mỗi người đối với nơi trú ẩn sinh sống của
mình, và nhất là những người mang hạnh nguyện quét lá,
lau chùi, nơi già-lam tịnh địa.
Quét
dọn rác rến, lau chùi bụi bặm là hiện tướng, cũng là
hiện tượng, của việc trau luyện nội tâm, tịnh hóa ý niệm.
“Thời thời thường phất thức, vật sử nhạ trần ai.”
Lau chùi trong từng giây phút, từng niệm, đừng để bụi
rác bám vào. Mỗi ý niệm khởi sinh, rồi tan biến đi, đều
trở thành rác. Dù là ý niệm tốt hay xấu, cũng đều là
rác.
Trong
thiền quán, dùng niệm sau để xua đuổi hoặc quan sát niệm
trước thì cũng giống như dùng chổi mà quét rác. Niệm trước
là rác, niệm sau là chổi. Niệm trước vừa sinh, đã diệt,
trở thành rác. Niệm sau mới vừa làm chổi, đã trở thành
rác, để rồi bị cái niệm sau đó nữa, quét đi. Rác, chổi,
rác, chổi, rác, chổi… Chổi, rác, chổi, rác, chổi, rác…
Cứ thế mà thực tập, người quét rác dần tiến đến trạng
thái không còn rác phát sinh: vô niệm. Rác không sinh thì chổi
cũng không sinh. Không rác thì cần gì chổi. Có rác nên có
chổi. Nhưng nếu tự thân rác vốn đã là chổi thì tự thân
chổi cũng vốn là rác. Cây chổi cùn, không dùng được nữa,
dù còn rác hay hết rác, thì chổi đó cũng đã là rác. Tiêu
đích cuối cùng của việc quét rác là ở chỗ không
còn rác; nhưng tâm thái và hành vi thượng thừa của sự nghiệp
quét rác chính là lúc có thể vất đi cái chổi. Không dũng
mãnh vất đi cái chổi thì muôn đời, dù khổ nhọc công phu
đến đâu, vẫn cứ là rác.
Chổi.
Chổi. Chổi. Nhìn đâu cũng thấy chổi là đặt chân nơi cảnh
giới diệu dụng của phương tiện. Nơi ấy, nhìn đâu cũng
thấy Phật Pháp; đặt tay vào phương tiện nào, phương tiện
ấy trở thành Phật Pháp. Không thấy được công dụng của
chổi thì không thấy Phật Pháp. Không thấy được mục tiêu
của chổi, lập tức biến chổi thành rác, không cần chờ
cho chổi hư hoại, cùn mòn. Thấy được mục tiêu của chổi
thì có thể dùng bất cứ vật dụng nào để quét dọn rác
và bụi bặm, không nhất thiết phải là chổi.
Chân
lý không thể được diễn đạt rốt ráo bằng ngôn ngữ văn
tự. Nói, diễn tả, là để hiển bày chân lý, giống như
dùng chổi mà quét rác. Xua quét đi tất cả những gì không
phải sự thật để hiển bày sự thật. Ở nơi chốn không
còn gì để quét, không còn gì để lau chùi được nữa, mới
là cái chỗ tột cùng của việc lau quét, chứ không phải
ở nơi bụi rác, cũng không phải ở nơi khăn lau và cây chổi.
Không
thể nhân danh chân lý tối thượng để tổn hại kẻ khác,
dù bằng ngôn ngữ của chánh pháp, huống hồ là ngôn ngữ
thế tục, phi pháp. “Pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp.”
Phật Pháp cũng chỉ là phương tiện, là chổi để quét, và
cũng là rác cần dọn đi.
Với
cái tâm bất chánh thì dù có dùng ngôn ngữ của chánh pháp,
nhân danh mục tiêu tối hậu của chánh pháp, vẫn cứ là những
manh động của tà kiến, của tà nhân. Chánh pháp cần được
tuyên dương và truyền bá là do có thể nương nơi đó mà
thấu đạt sự thật. Nhờ sự thật mà sống an lạc và hạnh
phúc, giác ngộ và giải thoát. Cho nên, nếu vì chánh pháp
mà thương tổn, tác hại đến người khác, thì chẳng khác
gì phỉ báng chánh pháp. Đó là dấu hiệu của cây chổi chưa
kịp quét rác mà đã trở nên mục rữa như rác rưởi.
Từ
mục đích tối hậu là hiển bày chân lý, chúng ta vẽ nên
những lý tưởng, vận động những phong trào, dựng nên những
tổ chức. Những thứ ấy, nếu cố gắng gìn giữ, bảo vệ,
điều hướng một cách khéo léo, có thể phần nào tương
hợp với mục đích tối hậu kia, ít ra cũng lợi mình lợi
người trong một thời gian hay hoàn cảnh nào đó. Ngược lại,
sẽ dẫn đến một kết quả tệ hại, xa vời, chẳng một
chút dính nhập đến mục tiêu nhắm đến. Lý tưởng, phong
trào, tổ chức… là những phương tiện, nhưng thường khi
lại trở thành cứu cánh để tôn thờ, bảo vệ, rồi từ
“cứu cánh ảo” ấy, tranh thủ những địa vị và danh vọng
hão huyền, đến nỗi có thể vì chúng mà đánh mất lương
tri, làm bạn với kẻ ác, sẵn sàng làm điều ác, biến lý
tưởng, phong trào, tổ chức của mình thành đống rác uế
nhiễm mà không tự biết.
Kẻ
thượng trí là người có thể tạo nên tất cả mà cũng sẵn
sàng vất bỏ tất cả. Không thấy được sự giả lập của
phương tiện thì muôn kiếp chỉ lẩn quẩn trong đống rác
trần gian.
Gió.
Gió. Gió. Gió động hay lá động? Từng cơn gió lùa qua làm
chao động mặt lá. Thỉnh thoảng có cơn gió xoáy, cuốn xoay
những chiếc lá vàng đưa lên cao, dẫn đi xa, rồi thả chúng
rơi rụng dần nơi góc vườn. Có gió hay lá nào động đâu!
Chỉ là vọng động của tâm. Thiền sư Huệ Năng đã từng
nêu ý đó.
Những
gì bạn nói, những gì tôi nói, đều là rác cả. Chẳng có
lời nào có thể ở mãi với đời; bởi vì âm thanh, ngôn
ngữ, cũng đều là tướng của vô thường, hoại diệt. Chỉ
ở cảnh giới bất động của tâm, khi mà con đường ngôn
ngữ tuyệt dứt, mới hiện bày một thế giới cao rộng bao
la; nơi đó, không có bụi rác, không có chổi, không có gió.
Ngôn ngữ đạo, đoạn. Tâm hành xứ, diệt. Nơi đó, là niềm
tịch lặng thâm sâu không bờ mé, là chỗ mà cả ý và lời
đều không thể chạm đến được.
California,
15 tháng 11 năm 2007.
PHƯƠNG TRỜI
CAO RỘNG,
Tạp
Chí Văn Học Phật Giáo
P.O.
Box 374 Midway City, CA 92655 USA
NĂM
2007
SỐ
18, THÁNG 11/2007
Giới
Thiệu
SỐ
17, THÁNG 10/2007
Giới
Thiệu
SỐ
16, THÁNG 09/2007
Giới
Thiệu
SỐ
15, THÁNG 08/2007
SỐ
14, THÁNG 07/2007
SỐ
13, THÁNG 06/2007
SỐ
12, THÁNG 05/2007
SỐ
11, THÁNG 04/2007
SỐ
10, THÁNG 03/2007
SỐ
09, THÁNG 02/2007
SỐ
08, THÁNG 01/2007
NĂM
2006
SỐ
07, THÁNG 12/2006
SỐ
06, THÁNG 11/2006
SỐ
05, THÁNG 10/2006
SỐ
04, THÁNG 09/2006
SỐ
03, THÁNG 08/2006
SỐ
02, THÁNG 07/2006
SỐ
01, THÁNG 06/2006
