64.
NI SƯ DIỆU NHÂN
(1)
Tức Phụng Càn Vương, tước của Lý Nhật Trung do cha là Lý
Thái Tông phong vào năm 1035. chữ Càn vì húy đời Trần, nên
đổi ra chữ Yết. Đại Việt sử ký toàn thư B6 tờ 30a2-3:
“Cửa Cần, trước gọi là Càn, vì tránh húy nên làm Cần”.
(2)
Duy ma cật sở thuyết kinh quyển trung tờ 544b21: “Dĩ nhất
thiết chúng sanh bệnh, thị cố ngã bệnh”.
(3)
Kim cang kinh tờ 752a17:
“Nhược
dĩ sắc kiến ngã
Dĩ
âm thanh cầu ngã
Thị
nhân hành tà đạo
Bất
năng kiến Như Lai”
(4)
Yến tọa, ngồi tĩnh lặng tư duy. Ở đây ám chỉ thiền thoại
Tu Bồ Đề yến tọa mà các thiền gia thường nhắc tới như
sau: “Tu Bồ Đề yến toạ trong một đống đá. Chư thiên
mưa hoa tán thán”. Tôn giả hỏi: “Trong hư không làm mưa
hoa tán thán là ai đó?” Thiên trả lời: “Tôi là Phạm Thiên.
Tôi tôn trọng Tôn giả khéo nói Bát nhã ba la mật đa”. “Ta
đối với Bát nhã chưa từng nói một chữ, làm sao ngươi
tán thán?” Thiên nói: “Tôn giả không nói, tôi cũng không
nghe. Không nghe, không nói, ấy là một chân thật về Bát nhã”.
Xem Giáo ngữ lục tờ 680a5.
(5)
Đại Việt sử ký toàn thư B3 tờ 16a7-9: “(Hội Tường Đại
Khánh) năm thứ 4 (1113) mùa hạ tháng 6, phu nhân Châu mục châu
Chân Đăng công chúa họ Lý mất. Phu nhân tên Ngọc Kiều là
con gái lớn của Phụng Càn Vương. Thánh Tông nuôi trong cung
đến lớn, gả cho châu mục họ Lê châu Chân Đăng. Họ Lê
chết, cô tự thề ở góa, rồi xuất gia làm Ni. Đến đó
mất, thọ 72 tuổi. Thần Tông tôn hiệu là Ni sư”.
(6)
Bài kệ này Thái Tông hoàng đế ngự chế khóa hư quyển hạ
tờ 33b 1-4 có chép và nói là bài kệ khuyên chúng của Trần
Thái Tông:
Sinh
lão bệnh tử
Lý
chi thường nhiên
Dục
cầu giải thoát
Giải
phược thiêm triền
Mê
nhi cầu Phật
Hoặc
nhi cầu thiền
Thiền
giả bất cầu
Đổ
khẩu vong ngôn
Những
chữ in đậm là khác với chữ trong bản Thiền uyển tập
anh ở đây. Với những chữ khác ấy, chúng tôi nghĩ rằng
Trần Thái Tông đã lấy lại bài kệ thị tịch của Ni sư
Diệu Nhân, rồi đổi một vài chữ, để làm của mình, nhất
là khi quan niệm “nhất hồi niêm xuất, nhất hồi tân”
(mỗi hồi nêu ra, mỗi hồi mới) của các thiền gia đời
Trần đối với các công án cũ rất là phổ biến. Trần Nhân
Tông, khi có người hỏi sao mình cứ lập lại các công án
cũ của người xưa như thế, đã trả lời: “Nhất hồi niêm
xuất, nhất hồi tân”. Xem Thánh đăng lục tờ 4b1-2.
65.
THIỀN SƯ VIÊN HỌC
(1)
Tức huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên ngày nay. Xem chú thích
(2) truyện Thuần Chân.
(2)
Tức làng Như Nguyệt, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh ngày
nay. Nó không phải là lộ Như Nguyệt giang, Đại Việt lịch
triều đăng khoa lục 2 ghi làng Như Nguyệt như là quê của
Hứa Tam Tỉnh tiến sĩ khoa 1558.
(3)
Chỉ kinh điển Phật giáo. Nhị giáo luận của Đạo An trong
Quảng hoằng minh tập 8 tờ 136c11-16 viết: “Cố cứu hình
chi giáo, giáo xưng vi ngoại, tế thần chi điển, điển hiệu
vi nội... Thích giáo vi nội, Nho giáo vi ngoại”.
(4)
Tức làng Phù Cầm, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh ngày nay.
Xem chú thích (2) truyện Minh Trí.
(5)
Sáu thức tức sáu thứ nhận thức do sáu giác quan đem lại,
đây là nhận thức của mắt, của tai, của mũi, của lưỡi,
của thân và của ý.
(6)
Ngô Thông Thiền đây không phải là cư sĩ Thông Thiền, thầy
của Tức Lự, thuộc phái Kiến Sơ.
66.
THIỀN SƯ TỊNH THIỀN
(1)
Tức sáu món giúp người ta vượt bến khổ đau, cũng gọi
là Ba la mật, đó là bố thí, giữ giới, nhẫn nhục, tinh
tấn, thiền định và trí tuệ
(2)
Tức tứ hoằng thệ nguyện, “Bốn thệ nguyện lớn”, đó
là chúng sanh vô số lường thệ nguyện đều độ khắp, phiền
não vô cùng tận thệ nguyện đều dứt sạch, pháp môn không
kể xiết thệ nguyện đều tu học, Phật đạo không gì hơn
thệ nguyện đạt viên thành. Đấy là bốn lời nguyện tổng
quát của Đại thừa. Xem Tâm địa quán kinh 7 và Vãng sanh
yếu tập quyển thượng.
(3)
Hương bôi, tức chén nước thơm dùng để cúng Phật, cũng
gọi là a già bôi hay ư già bôi, chỉ cho chùa chiền.
(4)
Tứ bộ hay tứ chúng, tức bốn thành phần của tăng đoàn
Phật giáo, đó là Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc và Ưu bà
di.
67.
QUỐC SƯ VIÊN THÔNG
(1)
Cứ Cựu đường thư 41 tờ 42b5-8 và Tân đường thư 43 thượng
tờ 9b10 thì Nam Định là tên một huyện đặt lần đầu tiên
vào năm 621 thuộc Tống Châu, mà ngoài nó ra còn gồm hai huyện
khác, đó là Tống Bình và Hoằng Giáo. Đến năm sau thì chia
huyện Tống Bình thành hai huyện Giao Chỉ và Hoài Đức. Đến
năm 627 hiệp ba huyện Giao Chỉ, Hoài Đức và Hoằng Giáo lại
thành huyện Tống Bình cùng với huyện Nam Định thuộc Giao
Châu. Thông điển 184 tờ 50a9-13 của Đỗ Hựu (735- 812) nói:
“An Nam đô hộ phủ nay đóng tại Tống Bình”. Như vậy,
địa phận Tống Bình tức tương đương với phần đất thủ
đô Hà Nội ngày nay với một phần những huyện ngoại vi
của nó thuộc tỉnh Hà Đông. Từ đó, phần đất của huyện
Nam Định tất cũng phải rơi vào khoảng tỉnh đấy.
Cứ
Bắc thành địa dư chí lục 3 thì huyện Thượng Phúc, phủ
Thường Tín, thuộc trấn Sơn Nam thượng có một số xã tổng
mang tên Cổ Hiền. Làng Cổ Hiền của Viên Thông chắc chủ
yếu là rơi vào địa phận tổng Cổ Hiền đấy. Tổng có
9 xã thôn sau: Cổ Hiền (Thái Công), Cổ Hiền (Bảo Hiền),
Dưỡng Hiền, Hưng Hiền, Nhụy Khê (Thượng Đình nam thôn),
Nhụy Khê (Hạ thôn), Thụy Ứng, Nhân Hiền và Nhuệ Giang.
Với những tên xã thôn như vậy vào thời Nguyễn thì ta không
còn nghi ngờ gì nữa về vị trí của làng Cổ Hiền thời
Lý nữa. Trần Văn Giáp trong Lược truyện các tác gia Việt
Nam I tr.190 nói: “Hiện có hai làng Cổ Hiền, một thuộc phủ
Thường Tín, một thuộc huyện Phú Xuyên, cùng ở tỉnh Hà
Đông”. Nhưng nếu tra lại Bắc thành địa dư chí lục 3
thì những tổng xã thôn của huyện Phú Xuyên thời Nguyễn
không có tổng xã thôn nào tên Cổ Hiền hết. Do thế, ta có
thể dứt khoát xác định là làng Cổ Hiền của Viên Thông
là tương đương với tổng Cổ Hiền, huyện Thượng Phúc,
phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam thượng, tức nay thuộc huyện
Thường Tín, tỉnh Hà Đông. Chúng tôi nói là “tương đương”
bởi vì tổng Đông Cứu, thuộc huyện Thượng Phúc cũng có
thôn tên Cổ Hiền.
Đất
Nam Định đời Lý như vậy là tương đương với địa
phận huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông ngày nay. Và làng Cổ
Hiền của Viên Thông là thuộc huyện đó.
(2)
Phường Thái Bạch của kinh đô Thăng Long hiện chưa thể khảo
được. Cứ Dư địa chí cũng như Bắc thành địa dư chí
lục 1 và Phương đình dư địa chí 2 ta không tìm thấy tên
Thái Cực giữa những tên phố trại thuộc thủ đô Thăng
Long. Phải chăng Thái Bạch đời Lý đã bị đổi thành phường
Thái Cực, quê hương của Lê Kim Quế tiến sĩ khoa 1580,
mà Đại Việt lịch triều đăng khoa lục 2 và Bắc thành địa
dư chí lục 1 ghi lại.
(3)
Thiền sư Bảo Giác, cha của Viên Thông đây chắc không phải
Bảo Giác chùa Viên Minh, vị thầy của Tịnh Giới, mà truyện
Tịnh Giới tờ 33b3 nói tới. Xem chú thích (4) truyện Tịnh
Giới. Bảo Giác cũng không phải là tác giả những tác phẩm
Chư Phật tích duyên sự, Tăng gia tạp lục và Viên Thông tập,
như Nghệ văn chí của Lê Quí Đôn đã ghi. Văn tịch chí của
Phan Huy Chú chỉ ghi Tăng gia tạp lục và Viên Thông tập là
của Bảo Giác thôi. Chúng ta không biết Lê Quí Đôn và Phan
Huy Chú đã lấy những thông tin sai lạc này từ đâu. Bởi
vì Viên Thông tập, Tăng gia tạp lục và Chư Phật tích duyên
sự thì dứt khoát không phải của Bảo Giác, mà là của Viên
Thông, như Thiền uyển tập anh đã có.
(4)
Những kỳ thi tuyển đấy không thấy các sử sách khác ghi.
Xem chú thích (3) truyện Thiền Nham.
(5)
Nguyên văn: Đại Khánh tam niên. Nhưng chữ “Đại Khánh tam”
chắc là một sửa sai của người viết tựa cho bản in năm
1715, bởi vì cứ Đại Việt sử ký toàn thư B3 tờ 25a7 thì
“năm Thiên Phù Khánh Thọ thứ 1 (1127) mùa thu tháng 7 ngày
Đinh Tỵ khánh thành chùa Trùng Hưng Diên Thọ”. Chùa Trùng
Hưng Diên Thọ như vậy khánh thành vào năm Thiên Phù Khánh
Thọ thứ nhất, chứ không phải là vào năm Đại Khánh thứ
3. Chữ “Đại Khánh tam niên” chắc là do chữ “Thiên Phù
Khánh Thọ nguyên niên” mà ra. Có lẽ để bản của bản
in năm 1715 có những chữ đó bị mờ hay bị mối mọt ăn,
nên nhà Nho giữ chức vụ “Chính ký khuyết thất, trợ kỳ
di lậu” cho bản in đó đã lầm tưởng những chữ “Thiên
Phù Khánh Thọ nguyên niên” ấy thành “Đại Khánh tam niên”,
nhất là khi tự dạng 6 chữ trước rất giống với 4 chữ
sau, một khi chữ phù và chữ thọ đã bị mờ hẳn
hay bị mọt ăn đứt hoàn toàn. Còn lại chữ thiên thì rất
dễ đọc thành chữ đại, và chữ nguyên rất dễ đọc
thành chữ tam. Chúng tôi do thế bằng vào Đại Việt sử ký
toàn thư và coi năm Thiên Phù Khánh Thọ thứ nhất là năm
khánh thành chùa Trùng Hưng Diên Thọ.
(6)
Dẫn Chu dịch: “Quẻ khôn” “Thần thí kỳ quân, tử thí
kỳ phụ, phi nhất triêu nhất tịch chi cố, kỳ do lai tiệm
hỷ”. (Tôi giết vua, con giết cha, không phải chuyện một
sớm một chiều mà nguồn gốc nó đã có từ lâu lắm). Xem
Chu dịch 1 tờ 7a1
(7)
Đền Tây Cương này nghi là đền Hai Bà Trưng mà sau này Lý
Anh Tông sai dựng “ở ngoài Tây Cương” như Đại việt sử
lược 3 tờ 7b9 ghi lại. Việc cầu thần linh giữ gìn thai
vua này, chúng tôi nghi là xảy ra vào nửa sau niên năm Thiên
Chương Bảo Tự thứ 3, bởi vì đến tháng 3 năm sau Lý Thiên
Tộ sinh, tức Lý Anh Tông, có lẽ vì có tham dự việc đó
nên dưới đây ta thấy nói tới chuyện mời Viên Thông vào
thọ cố mạng. Và việc thọ cố mạng như Lý Thần Tông giao
thì theo Đại Việt sử ký toàn thư B3 tờ 41 b2 42a3 đã bị
tham tri chính sự Từ Văn Thông cải mạng vì nhận hối lộ
của “ba phu nhân”. Thực ra, qua việc đi cầu giữ thai trên
“ba phu nhân” đã biết cách tạo dựng phe đảng cho mình
và sự lên ngôi của Lý Thiên Tộ bằng cách kéo Viên
Thông đi với mình. Cho nên, không phải chỉ Từ Văn Thông
trách nhiệm trong việc cải mệnh đó thôi. Nó còn có Viên
Thông dù một phần rất nhỏ đi nữa
(8)
Nguyên văn: Cung xa yến giá. Hợp từ dùng trong truyện Phạm
Huy của Sử ký, mà Bùi Ân dẫn Ứng Thiệu và Vỹ Chiêu viết:
“Ứng Thiệu nói: “Thiên tử phải ban sáng dậy làm việc
sớm, như vừa băng hà, nên gọi nghỉ xe”. Vỹ Chiếu nói:
“Hễ vừa mới băng hà thì là muộn giá, vì lòng thần tử
còn muốn nghỉ xe vua đang buộc ngựa nên ra muộn”. Xem Sử
ký 79 tờ 9b 13-10a1.
(9)
Nguyên văn: Cập phụng di chiếu vương mạc hiến phó thác
đẳng sự. Câu ấy có 3 chữ vương mạc hiến thật là khó
hiểu. Chúng tôi thấy có một số cách hiểu chúng. Thứ nhất,
chúng tôi coi chữ vương có khả năng là một khắc thiếu
nét của chữ chủ. Coi chữ hiến có thể
là một khắc sai của chữ du. Thứ hai, vì chữ mạc và du
đều có nghĩa tính toán, xắp xếp, mưu tính. Nên cả câu
vương mạc hiến phó thác đẳng sự có thể đọc dịch thành
Chủ mạc du phó thác đẳng sự với nghĩa “chủ trì mọi
việc sắp xếp phó thác”. Ý nói Viên Thông nhận di chiếu
của Thần Tông về nên sắp xếp việc gửi gắm hoàng tử
lên kế vị cho Viên Thông chủ trì.
(10)
Thái hậu đây tức Cảm Thánh phu nhân họ Lê, mẹ của Lý
Anh Tông. Việc Lê phu nhân khen thưởng Viên Thông tất cũng
không có gì là lạ hết, như ta đã thấy ở chú thích (7)
trên. Nhưng điều đáng lạ là không thấy sử sách nào khác
ghi lại cả. Ngay cả việc “nhận cố mạng và phụng di chiếu”
cũng không thấy ghi.
(11)
Nguyên văn: Thái hậu xưng chế. Thái hậu đây tức Cảm Thánh
phu nhân họ Lê, mẹ Lý Anh Tông. Còn xưng chế là một từ
dùng chỉ cho việc nhiếp chính thay vua, Bản kỷ của Lữ Cao
Hậu trong Tiền hán thư nói: “Thái hậu lâm triều xưng chế”.
Nhan Sư Cổ giải thích: “Lời nói của Thiên tử, một gọi
là chế thư, hai gọi là chiếu thư. Chế thư tức là những
mệnh lệnh về chế độ, chẳng phải chỗ Hoàng hậu có thể
có được. Nay Lữ thái hậu lâm triều làm việc Thiên tử
quyết đoán mọi sự, nên xưng chế chiếu”. Xem Tiền hán
thư 3 tờ 1a9-11. Việc nhiếp chính của Lê thái hậu, tuy cả
Đại việt sử lược lẫn Đại Việt sử ký toàn thư không
ghi rõ, nhưng khi viết về vụ triều biến năm 1148, Đại Việt
sử lược 3 tờ 4a3-5 đã nói: “Nguyên trước, khi vua còn
nhỏ dại, việc triều chính, không kể lớn nhỏ, đều giao
cho (Đỗ) Anh Vũ, mà Anh Vũ lại tư thông với Thái hậu, nên
càng trở nên kiêu ngạo phóng túng. Ở triều đình thì vung
tay lớn tiếng sai quan lại thì nhếch mép truyền hơi, mọi
người đều nghé mắt, không dám nói”. Ta cũng đủ rõ Lê
thái hậu nhiếp chính như thế nào. Cũng cần thêm là, Lý
Anh Tông lúc lên ngôi mới có 3 tuổi.
(12)
Nguyên văn: Tam thôn chi phí. Chúng tôi nghĩ chữ thôn là
một chép sai của chữ tài, nên trong hiệu bản chúng
tôi đã sửa tam thôn chi phí thành tam tài chi phí và dịch
thành “phí tổn ăn uống”. Lý do việc sửa và dịch ấy
là như thế này. Thiên Bản vị của Lã thị xuân thu có chữ
“ngũ vị tam tài”. Cao Dụ chua rằng: “Năm mùi là mặn,
đắng, chua, cay và ngọt, tam tài là nước, củi và lửa”.
Xem Lã thị xuân thu 14 tờ 4b11-12 Tam tài chi phí do thế
có nghĩa là “phí tổn về nước, củi và lửa” tức là
phí tổn về việc ăn uống tiêu dùng hàng ngày tức tổn phí
xây dựng.
(13)
Nguyên văn: Thần du, chữ du ở đây nghi là một nét sai của
chữ hàn vì dạng chữ chúng khá giống nhau. Thần hàn như
vậy có nghĩa là (chữ do bút vua viết). Điều này có nghĩa
chùa của Viên Thông có được ngự bút của Anh Tông, để
thêm sang quí.
(14)
Nghệ văn chí của Lê Quí Đôn nói: “Chư Phật tích duyên
sự, 30 quyển, thầy Bảo Giác soạn theo lịnh của Lý Nhân
Tông”. Đương nhiên, Chư Phật tích duyên sự là không
phải của Bảo Giác, mà là của Viên Thông. Bảo Giác là cha
của Viên Thông. Ta không hiểu tại sao Lê Quí Đôn lại có
thể chép sai như thế. Phải chăng Đôn đã dùng một bản
thư tịch thiết lập từ trước? Đây là một có thể,
bởi Đôn có ghi thêm là Chư Phật tích duyên sự là soạn
theo lịnh của Lý Nhân Tông, một việc Thiền uyển tập anh
không nói tới. Văn tịch chí của Phan Huy Chú không thấy ghi
tác phẩm này.
(15)
Nghệ văn chí ghi: “Tăng gia tạp lục 50 quyển, thầy Bảo
Giác soạn” Văn tịch chí cũng ghi tác phẩm này và cho là
Bảo Giác soạn.
(16)
Nghệ văn chí và Văn tịch chí đều ghi: “Viên Thông tập,
2 quyển thầy Bảo Giác soạn. Bảo Giác người Cổ Hiền”.
Viên Thông tập tức không phải của Bảo Giác mà là của
Viên Thông. Xem chú thích (9) trên.
68.
THIỀN SƯ Y SƠN
(1)
Đại Thông được nhiều sách sử ghi lại. Đại Việt sử
lược 3 tờ 20a4- 5 ghi nó như một tên châu và một bến đò.
Đại Việt sử ký toàn thư B4 tờ 6b1 nói nó là tên một trấn.
Lĩnh ngoại đại đáp 2 tờ 16 bảo nó là tên một phủ. Nhưng
không thấy nơi nào ghi Đại Thông trường cả. Với chữ trường
đi sau nó, Đại Thông đây chắc phải liên hệ với một cửa
sông hay một cửa bể bởi vì ta thấy những địa danh
thời Lý có chữ trường theo sau thường chỉ liên hệ đó.
Chẳng hạn Đại Việt sử ký toàn thư B3 tờ 291 nói: “Năm
Thiên Thuận thứ nhất (1128) mùa xuân tháng giêng ngày Mậu
Thân Quang Lang trường dâng chín chiếc thuyền của thương
gia người Tống đạt tới”. Quang Lang trường đây dĩ nhiên
không phải ở Lạng Sơn mà là ở cạnh cửa bể Liêm Hộ,
huyện Thụy Anh, tỉnh Thái Bình. Bắc thành địa dư chí lục
4 có ghi một làng Quang Lang thuộc huyện Thụy Anh, trấn Sơn
Nam hạ.
Từ đó, Đại Thông trường chắc phải liên hệ với bến
đò Đại Thông và châu Đại Thông do Đại Việt sử lược
nói tới. Bến đò Đại Thông hay Đại Thông bộ được Đại
Việt sử lược 3 nhắc nhiều lần như ở tờ 21a1, 22a2, 25a2
v.v... Nhưng đặc biệt có hai lần, mà ta cần chú ý. Một
ở tờ 25a3 nói: “Năm Kiến Gia thứ 3 (1213) mùa xuân tháng
giêng ngày Tân Dậu (Trần) Tự Khánh, dẫn quân vào trong cấm
thành, đốt cầu Ngoạn Thiềm, rồi dẫn quân về bến Đại
Thông”. Và một ở tờ 28a4 viết: “Năm Kiến Gia thứ
4 (1213) mùa hạ tháng 4 Tự Khánh đóng quân ở bến Đại Thông,
xây lũy ở Nghĩa Trú”. Như vậy một mặt bến Đại Thông
phải cách thủ đô Hà Nội không xa lắm. Mặt khác nó phải
ở gần địa điểm Nghĩa Trú, để Tự Khánh có thể chỉ
huy việc xây lũy. Mà Nghĩa Trú hiện nằm tại huyện Mỹ Hào,
tỉnh Hưng Yên hiện nay. Như vậy bến Đại Thông chắc nằm
khoảng ranh giới huyện Gia Lâm với huyện Văn Giang, có thể
chính tại xã Xuân Lâm, huyện Văn Giang, nơi những thượng
lưu của sông Nghĩa Trú tập họp lại để chảy xuống sông
Kinh Cầu. Từ đó, Đại Thông trường tất phải bao gồm xã
Xuân Lâm cũng như một vài xã khác quanh vùng tại huyện Văn
Giang.
Một
khi đã xác định Đại Thông trường như thế, thì châu Đại
Thông chắc phải là một bãi đất lồi tại Đại Thông trường.
Đại Việt sử lược 3 tờ 28a5 nói: “Tháng tư năm Kiến
Gia thứ 4 (1213) Trần Tự Khánh giết Phan Lân ở châu Đại
Thông trong khi đang ở bến Đại Thông xây lũy Nghĩa Trú, vì
Lân muốn liên kết với Nguyễn Nộn. Nhưng trước đó vào
tháng giêng năm đó, Khánh giao cho Lân giữ Siêu Loại. Do vậy,
châu Đại Thông hẳn phải ở vùng bến Đại Thông và không
xa Siêu Loại bao nhiêu.
Kết
luận đấy hoàn toàn tỏ ra đúng đắn, khi truyện Y Sơn đây
nói Đại Thông trường thuộc Long Phúc, mà truyện Đạo Lâm
tờ 66b3 lại nói Long Phúc có làng Siêu Loại. Từ đó, Long
Phúc chắc là tên một quận đời Lý và địa phận nó gồm
một phần huyện Siêu Loại và một phần huyện Văn Giang,
tỉnh Bắc Ninh đời Nguyễn, tức một phần huyện Thuận Thành,
tỉnh Bắc Ninh và phần đất phía bắc huyện Văn Giang, tỉnh
Hưng Yên ngày nay.
(2)
Đại nam nhất thống chí, tỉnh Bắc Ninh, mục Tăng Thích nói:
“Thiền sư Y Sơn, người huyện Gia Lâm, nhỏ thông kinh sử,
lại càng giỏi cả sách Phật, có chí lớn, làm lợi người,
đến khi thị tịch, hoa cỏ chim muông đều bi cảm”. Rồi
chua thêm là: “Nói rõ trong An nam chí, về thế đại của
thiền sư chưa thể khảo được”.
An
nam chí mà lời chua nói đến, là tác phẩm của Cao Hùng Trưng,
mà bản in ngày nay gọi là An nam chí nguyên do một lầm lẫn.
Khảo An nam chí nguyên 3 tờ 210 thì những ghi chú trên của
Đại nam nhất thống chí về Y Sơn quả đã rút ra từ đấy.
Đến lượt mình, An nam chí nguyên 3 tờ 208 nói là mình đã
rút tài liệu từ “Cựu chí” và Quan báo các xứ cùng tương
truyền của các phụ lão mà “Cựu chí” thì những bản
hiện còn như An nam chí lược và Việt kiều thư không thấy
sách nào nói đến Y Sơn cả. Phải chăng nó đã lấy từ những
bản đã mất như Giao Châu thông chí hay Các châu huyện
chí v.v...? Dẫu rút từ đâu đi nữa, thì những ghi chú trên
về Y Sơn cuối cùng cũng phải rút ra từ Thiền uyển tập
anh, bởi vì văn cú giữa chúng và những chi tiết đều giống
nhau. Nếu vậy, tại sao những ghi chú ấy lại có thể bảo
Y Sơn là “người huyện Gia Lâm?”. Đó là vì Sơn hoạt động
chính ở Gia Lâm.
(3)
Làng Yên Lãng này nghi là làng Yên Lãng quê mẹ của Từ Đạo
Hạnh, tức nay là làng Láng ở phía tây ngoại thành thủ đô
Hà Nội. Xem chú thích (3) truyện Đạo Hạnh. Làng này hiện
có chùa tên là chùa Chiêu Thiền, nơi thờ Đạo Hạnh và Lý
Thần Tông, mà Đại nam nhất thống chí, tỉnh Hà Nội, mục
Tự quán, nói tới chùa đấy, Bắc thành địa dư chí lục
1 gọi là chùa Yên Lãng. Nhưng chưa thấy tài liệu nào, ghi
hay nói làng Yên Lãng đấy có chùa Nam Mô. Phải chăng làng
Yên Lãng đây là Yên Lãng thuộc huyện Yên Lãng, tỉnh Sơn
Tây đời Nguyễn, tức huyện Yên Lãng, tỉnh Vĩnh Phúc ngày
nay? Chúng tôi hiện chưa biết làng đấy có một ngôi chùa
nào tên Nam Mô?
(4)
Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh 52 tờ 274c29-275a17:
“Phật tử Bồ tát ma ha tát ưng tri Như Lai thành chánh giác
ư nhất thiết nghĩa, vô sở quán sát, ư pháp bình đẳng,
vô sở nghi hoặc, vô nhị vô tướng, vô hành vô chỉ, vô
lượng vô tế, viễn ly nhị biên, trú ư trung đạo, xuất
quá nhất thiết văn tự ngôn thuyết (...), đắc nhất thiết
chúng sanh lượng đẳng thân, đắc nhất thiết tam thế lượng
đẳng thân, đắc nhất thiết Phật lượng đẳng thân, đắc
nhất thiết ngữ ngôn lượng đẳng thân, đắc chân như lượng
đẳng thân, đắc pháp giới lượng đẳng thân, đắc hư không
giới lượng đẳng thân, đắc vô ngại giới lượng đẳng
thân, đắc nhất thiết nguyện lượng đẳng thân, đăc nhất
thiết hành lượng đẳng thân, đắc tịch diệt Niết bàn
giới lượng đẳng thân”.
(5)
Hồi hộ bất hồi hộ. Xem Thạch đầu tam đồng khế trong
Nhân thiên nhãn mục 5 tờ 327a19.
(6)
Nguyên văn: Kiến Gia tam niên Bính Tý. Nhưng cứ Đại Việt
sử lược 3 tờ 24b9 và Đại Việt sử ký toàn thư B4 tờ
30b6 thì Kiến Gia tam niên là năm Quí Dậu, chứ không phải
Bính Tý. Bính Tý phải là Kiến Gia lục niên, như Đại Việt
sử lược và Đại Việt sử ký toàn thư đã có. Chúng tôi
nghĩ, chữ tam là một viết lộn của chữ lục, một việc
rất dễ xảy ra, và đề nghị sửa lại thành Kiến Gia lục
niên, như bản dịch đã có.
69.
THIỀN SƯ THẢO ĐƯỜNG
(1)
An nam chí lược 15 tờ 147 viết: “Thảo Đường theo Sư phụ
đến sống khách ở Chiêm Thành. Xưa Lý Thánh Vương đi đánh
Chiêm Thành, bắt được, đem cho vị Tăng lục làm đứa ở.
Vị Tăng lục viết Ngữ lục, để trên bàn mà đi. Sư lén
sửa lại. Vị Tăng lục lấy làm lạ về đứa ở, đem tâu
vua. Vua bèn phong làm Quốc sư”.
An
nam chí nguyên 3 tờ 209 viết: “Thiền sư Thảo Đường, rất
có đạo hạnh, biết rành sách Phật, vua Lý tôn làm thầy,
sau ngồi thẳng mà mất”. Vua Lý đây tức Lý Thánh Vương
của An nam chí lược mà Lý Thánh Vương đấy tức Lý Thánh
Tông. Cứ Đại Việt sử lược 2 tờ 13b3-14a8 và Đại
Việt sử ký toàn thư B3 tờ 4b7-5a2 thì suốt đời mình Lý
Thánh Tông chỉ đi chinh phạt Chiêm Thành một lần vào năm
Thần Vũ thứ nhất (1069). Việc bắt được Thảo Đường
chắc chắn xảy ra vào năm đó. Còn Thảo Đường được phong
làm Quốc sư có lẽ vào năm 1070, hay cùng lắm là năm 1071,
bởi vì đầu năm 1072, tức tháng giêng năm Thần Vũ thứ 4,
Lý Thánh Tông bị bệnh nặng, rồi mất luôn. Vị Tăng lục,
ngày nay ta chưa biết đích xác là ai. Rất có thể là Huệ
Sinh, lúc bây giờ đã làm Tăng thống và theo Việt điện u
linh tập, đã có tham dự vào cuộc viễn chinh Chiêm Thành ấy.
Đạo
giáo nguyên lưu quyển thượng tờ 15b10 viết: “Thiền sư
Thảo Đường rất có đạo hạnh, tinh thông kinh điển, Vua
Lý tôn làm thầy, sau ngồi kiết già mà mất”. Tây hồ chí,
tập Tự am, dưới mục chùa Khai Quốc và chùa Vạn Niên, nói
Thảo Đường họ Lý, và nơi trú trì của Đường không phải
chỉ có chùa Khai Quốc, mà có cả chùa Vạn Tuế, tức Vạn
Niên nữa.
(2)
Về chùa Khai Quốc, xem chú thích (1) truyện Vân Phong.
(3)
Tức thiền sư Trùng Hiển (980-1052) núi Tuyết Đậu tại châu
Ninh, Trung Quốc, đệ tử của Trí Môn Quang Tộ thuộc phái
Vân môn. Xem Tục Truyền đăng lục 2 tờ 475a9- 476a25 và Tuyết
đậu minh giác ngữ lục.
70.
HOÀNG ĐẾ LÝ THÁNH TÔNG
71. THIỀN SƯ BÁT NHÃ
(1)
Tức Nguyễn Bát Nhã, đại diện cho thiền phái Thảo Đường,
mà Quách Thần Nghi khi xem xong Chiếu đối bản của Thông Biện
và Nam tông tự pháp đồ của Thường Chiếu đã hỏi Chiếu:
“Sao không thấy nói tới hai phái Nguyễn Đại Điên và Nguyễn
Bát Nhã?”. Chiếu trả lời: “Ắt Thông Biện có một ức
ý nào đó”.
(2)
Chùa Từ Quang Phúc Thánh này rất có thể là chùa Phúc Thánh
mà Đại Việt sử ký toàn thư B4 tờ 5b4 nói là dựng vào
năm Đại Định thứ 5, tức năm 1154, cùng với chùa Vĩnh Long.
(3)
Tức huyện Đan Phụng, tỉnh Hà Đông hiện nay. Làng Dịch
Vương, sau này gọi là Dịch Vọng của Hà Nội ngày nay.
72.
Cư Sĩ NGỘ XÁ
(1)
Làng Bảo Tài cũng như Long Chương, hiện chưa có thể khảo
được.
73.
THAM CHÁNH NGÔ ÍCH
74.
THIỀN SƯ HOẰNG MINH
(1)
Làng Yên Lãng đây nghi làng Yên Lãng hay làng Láng tại ngoại
thành Hà Nội, quê của mẹ Từ Đạo Hạnh. Xem chú thích (3)
truyện Đạo Hạnh. Nhưng Đại Việt sử ký toàn thư B2 tờ
20b1-2 viết: “Năm Thiên Thành thứ 3 (1030) mùa đông tháng
mười được mùa lớn, vua đi xem gặt ở ruộng Ô Lộ, đổi
tên ruộng là Vĩnh Hưng. Ngày đó vua hoàn cung”. Khâm định
Việt sử thông giám cương mục chính biên 2 tờ 35b6 chú rằng:
“Ô Lộ, Vĩnh Hưng, chưa rõ đích xác chỗ nào. Xét huyện
Đông Yên, tỉnh Hưng Yên, nghi là đó”. Khảo Bắc thành địa
dư chí lục 3 về những tên xã của tổng Vĩnh Hưng cũng như
của huyện Đông Yên, ta không thấy có xã thôn nào tên Yên
Lãng cả, tuy có những tổng xã mang tên Yên Cảnh, Yên Lịch,Yên
Vĩ, Yên Viên. Do thế không phải là không có thể làng Yên
Lãng của Vĩnh Hưng ở tại vùng huyện Đông Yên, tỉnh Hưng
Yên đấy. Thêm vào đó, truyện Cửu Chỉ nói núi Long Đội
ở Yên Lãng. Như vậy, làng Yên Lãng đời Lý có thể gồm
cả phần đất phía đông của huyện Duy Tiên, Hà Nam nữa.
75.
THIỀN SƯ KHÔNG LỘ
(1)
Tức chùa Thần Quang hay chùa Keo tại xã Dũng Nghĩa, huyện
Giao Chỉ, tỉnh Thái Bình. Xem chú thích (1) truyện Không Lộ.
76.
THIỀN SƯ ĐỊNH GIÁC
77.
THÁI PHÓ ĐỖ VŨ
(1)
Có thể là Đỗ Anh Vũ (?-1158). Nhưng cứ Đại Việt sử lược
3 tờ 3a4 thì năm Thiệu Minh thứ 3 (1139) Đỗ Anh Vũ đã giữ
chức Thái úy. Theo Đại Việt sử ký toàn thư B4 tờ 1b1 thì
năm sau, tức năm Đại Định thứ nhất (1140) “lấy Đỗ
Anh Vũ làm Cung điện lịnh trị nội ngoại sự”, nhưng không
bao giờ thấy nó ghi thêm chức tước gì cho Đỗ Anh Vũ cả.
Dẫu thế, việc Đỗ Anh Vũ giữ chức Thái úy khoảng từ
năm 1139 trở đi là một chắc chắn. Và cứ An nam chí lược
14 tờ 133 thì Thái úy phải là chức trên Thái phó. Đặc biệt
là từ khi Hoàng Xuân Hãn phát hiện ra bia mộ của Đỗ Anh
Vũ, thì có lúc rõ ràng Đỗ Anh Vũ đã giữ chức Thái phó.
Do thế, Thái phó Đỗ Vũ chắc chắn là Thái úy Đỗ Anh Vũ.
78.
THIỀN SƯ PHẠM ÂM
(1)
Tức địa phận tỉnh Thanh Oai, tỉnh Hà Đông hiện nay.
Làng Thanh Oai này, chúng tôi nghi là tương đương với làng
Trung Thanh Oai do Bắc thành dư địa chí lục 3 liệt ra, bởi
vì, làng đấy lúc bấy giờ có ba thôn, trong đó hai thôn mang
tên Xa La và An Xá. An Xá và Xa La đây chắc là một phân xã
của tên An La. Có thể An Xá và Xa La thời Lý là phủ trị
của An La, và chúng là một chứng tích cho sự có mặt đó.
(2)
Thiệu Minh đây, nghi là Hoằng Minh chép sai.
79.
HOÀNG ĐẾ LÝ ANH TÔNG
80.
THIỀN SƯ ĐỖ ĐÔ
81.
THIỀN SƯ TRƯƠNG TAM TẠNG
82.
THIỀN SƯ CHÂN HUYỀN
83.
THÁI PHÓ ĐỖ THƯỜNG
(1)
Đại Việt sử lược 3 tờ 24a6 nói trong lần lánh nạn năm1112,
Lý Huệ Tông “đã đến nhà của Đại liêu ban Đỗ Thường
ở Đông Ngạn”. Đại liêu ban dĩ nhiên là một tên gọi
khác của Thái phó. Do sắc lịnh năm Đại Định thứ 20 (1159)
của Lý Anh Tông thiết định, mà Đại Việt sử lược 3 tờ
6b3 đã ghi lại. Do đó Đại liêu ban Đỗ Thường cũng là
Thái phó Đỗ Thường. Chỉ có vấn đề là chữ thường của
Đại liêu ban Đỗ Thường, thông thường thì vẫn có thể
đọc như chữ thường, nhưng cũng có thể đọc
thành chữ thưởng. Vì vậy, Đại liêu ban Đỗ Thường rất
có thể là Đại liêu ban Đỗ Thưởng chứ không phải Thái
phó Đỗ Thường. Dầu sao đi nữa, chúng tôi vẫn nghĩ Đại
liêu ban Đỗ Thường hay Thưởng là Thái phó Đỗ Thường
ở đây.
(2)
Nguyên văn: Tự Kiến Sơ Tịnh...thiền sư. Như vậy, ta chỉ
biết “nối dõi thiền sư Tịnh... của phái Kiến Sơ”. Chúng
tôi ghi thêm là Tịnh Giới, bởi nghĩ rằng thế hệ của Đỗ
Thường còn có những người như Trương Tam Tạng được coi
là đệ tử của Định Giác, tức Giác Hải của phái Kiến
Sơ. Cho nên, nếu bảo Thường là một đệ tử của một Tịnh
gì đấy của phái Kiến Sơ thì có lẽ không sai mấy khi ta
đi tìm trong thế hệ của Giác Hải có một người nào tên
Tịnh gì đấy không. Nhưng thế hệ Giác Hải có đến ba người
có tên bắt đầu bằng chữ Tịnh, đấy là Tịnh Không (1091-1170),
Tịnh Lực (1112-1175) và Tịnh Giới (1140?-1207). Chúng tôi chọn
Tịnh Giới, không những vì Giới có một đời sống phù phép
không kém gì Không Lộ và Giác Hải, mà còn vì truyện Tịnh
Giới nói “có nơi nói Giới ở chùa Quốc Thanh, Hải Thanh”,
nghĩa là Giới đến từ một chùa và một vùng với Không
Lộ và Giác Hải.
84.
THIỀN SƯ HẢI TỊNH
(1)
Đạo giáo nguyên lưu quyển thượng tờ 15b5-6 dưới mục Tuyết
Đậu truyền pháp, viết: “Kinh đô Thăng Long, chùa Khai Quốc
đại sư Thảo Đường, từ đó truyền tông phái Tuyết Đậu
làm đời thứ nhất. Đời thứ hai truyền cho Bát Nhã. Đời
thứ ba truyền cho Hoằng Minh. Đời thứ tư truyền cho bốn
vị tổ, danh hiệu chưa rõ. Đời thứ năm truyền cho Chân
Huyền. Đời thứ sáu truyền cho Hải Tịnh”.
Nói
như thế, chứng tỏ rằng khi An Thiền viết và in xong Đạo
giáo nguyên lưu khoảng năm 1845, ông chưa có “Cựu bản chùa
Tiêu Sơn” của Thiền uyển tập anh, mà sau này vào năm 1859
ông đã in thành quyển thượng của bộ Đại nam thiền uyển
truyền đăng của ông. Thế thứ lưu truyền của phái Thảo
Đường do ông liệt, do thế có thể rút từ những tài liệu
khác với Thiền uyển tập anh ở đây và vì vậy có một
giá trị kiểm chứng nào đó.
85.
HOÀNG ĐẾ LÝ CAO TÔN
86.
XƯỚNG NHI QUẢN GIÁP NGUYỄN THỨC
87.
PHỤNG NGỰ PHẠM ĐẲNG