31.
THIỀN SƯ GIÁC HẢI
(1)
Đại nam nhất thống chí, tỉnh Ninh Bình, mục Từ miếu, nhân
viết về đền Nguyễn Giác Hải, có nói: “Đền Nguyễn Giác
Hải ở tại xã Yên Vệ, huyện Yên Khánh. Thần họ Nguyễn
tên Quốc Y, hiệu Giác Hải người Giao Thủy, Hải Nam - nay
là tỉnh Nam Định - sinh khoảng thời Lý Thái Tông. Nhỏ theo
nghề chèo chài lưới của cha. Sau bà mẹ đem về Yên Vệ,
cùng với Nguyễn Minh Không kết bạn, đi Tây Trúc cầu đạo.
Được đạo rồi, bèn trở về Giao Thủy, trụ trì chùa Nghiêm
Quang”.
Nói
như thế, phải chăng chùa Diên Phúc là chùa Nghiêm Quang ở
đây ? Chắc chắn là không phải, bởi vì chùa Nghiêm Quang
tức chùa Thần Quang hay chùa Keo ngày nay, và chùa chưa bao giờ
có tên Diên Phúc. Chúng tôi chưa có dịp nghiên cứu hiện
địa vùng Giao Thủy, nên chưa thể trả lời dứt khoát chùa
Diên Phúc là chùa nào và nằm tại đâu hiện nay. Kiến văn
tiểu tục 4 tờ 2b4 có ghi tên một chùa tên Diên Phúc. Ở
thôn Cồ Việt, ở đó có tấm bia do Nguyễn Công Diệm soạn
vào năm 1113. Nhưng Khảo Bắc thành địa dư chí lục, chúng
tôi không thấy thôn Cồ Việt ở đâu cả, nên cũng chưa xác
định hẳn vị trí chùa Diên Phúc được.
(2)
Nam ông mộng lục tờ 9 dưới mục “Tăng đạo thần thông”
chép y chuyện này. Kiến văn tiểu lục 4 tờ 13a5-6 chép nguyên
lại bài thơ.
(3)
A giác nữ đầu bạch: người con gái còn để chỏm mà đầu
đã bạc. thiền sư Đầu Tử Đại Đồng được hỏi: “Hòa
thượng sống ở đây có cảnh giới gì?”. Sư đáp: “A giác
nữ bạch đầu ty” (người con gái còn để hai chỏm tóc,
nhưng đầu đã bạc như tơ). Xem Truyền đăng lục 15 tờ 319c13.
(4)
Long môn tào điểm ngạch. Tháng 3 cá chép vượt cửa Rồng
để thành rồng, nếu không vượt nổi thì bị chấm trên
trán mà trở về. Linh Thứu Nhàn thiền sư, có hòa thượng
Minh Thủy hỏi: “Thế nào là mau được pháp thân?”
Sư
đáp:
“Nhất thấu Long môn vân ngoại vọng
Mạc tác Hoàng hà điểm ngạch ngư”
(Một
khi đã tới cửa rồng, ngó trời ngoài mây
Thì
chớ làm cá sông Hoàng Hà bị chấm trên trán)
Xem
Truyền đăng lục 10 tờ 278b18-19.
Long
môn là một tên đất tại tỉnh Tứ Xuyên ở Trung Quốc, ở
đấy có cái vực rất to ăn thông với sông Dương Tử. Tương
truyền ở đó có cái ao tên Vũ Môn. Tục truyền hễ đến
tháng 7 nước to, cá chép các nơi kéo về đua nhau nhảy qua
cửa đáy. Con nào nhảy qua thì hóa thành rồng. Con nào không
thì bị một chấm trên trán, mà trở về. Ở nước ta, theo
Kiến văn tiểu lục 6 tờ 13b4-7 thì Long Môn ở tại đất
những động Dĩ lý và Hào trang của Mộc Châu, ở đấy “có
một ngọn núi ở trung lưu sông Đà, đá lớn lộn xộn, mỗi
năm đến ngày 8 tháng 4, các bày cá bơi ngược dòng mà lên,
nhưng chỉ các chép một hai con thì có thể được. Giao Châu
ký nói: “Có Long môn, nước sâu trăm tầm, cá lớn lên đó
thì hóa thành rồng”.
(5)
An nam chí nguyên 3 tờ 211 viết: “Thiền sư Giác Hải là Sư
huyện Giao Thủy, thần thông rộng lớn, biến hóa như thần.
Khi sắp thị tịch, có sao hỏa rơi vào Thái thất. Đến sáng,
Sư mất”. Xem thêm Đạo giáo nguyên lưu quyển thượng tờ
16 b8.
(6)
Truyện Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải trong Lĩnh nam chích
quái truyện tờ 36 chép nguyên truyện Giác Hải ở đây với
một vài sai lầm chính tả và thiếu sót do sao lục, nhưng
không quan trọng. Từ Đạo Hạnh đại thánh sự tích thật
lục do “Đạo nhân Quán tam thanh” thêm vào trong Việt điện
u linh tập tờ 48-51 chép chuyện Giác Hải ké với Từ Đạo
Hạnh và Minh Không, song cũng không có gì đặc sắc đáng nói
cả. Nó chỉ điển hình cho tình trạng thất truyền của cuộc
đời Giác Hải mà thôi. Cái ghi chú của An nam chỉ lược
15 tờ 147 về “hai thầy Không Lộ và Giác Hải thường vào
Đại quốc xin đồng về đúc chuông” hai cái để tại chùa
núi Phổ Lại, và việc “Gíác Hải giỏi lặn dưới nước”
cũng không thêm gì hơn là giúp ta xác định niên đại những
truyền thuyết thần kỳ về những vị sư này.
32.
THIỀN SƯ NGUYỆN HỌC
(1)
An nam chí nguyên 3 tờ 210 viết: “Thiền sư Nguyện Học là
sư châu Vũ Ninh. Trong lúc tập thiền định, thân như cây khô,
vật và ta đều quên, cho nên chim bay đến châu, thú rừng
lẩn quẩn, nhất loạt như vật nuôi trong nhà. Tùy Cao Tổ
sai sứ xây tháp cúng dường”. Nhưng rõ ràng đấy là văn
cú lấy trong truyện Pháp Hiền. Đạo giáo nguyên lưu quyển
thượng tờ 16b1 cũng chép Pháp Hiền như thế. Nhưng trước
Pháp Hiền nó ghi lại ở tờ 16a12 những mô tả về Nguyện
Học và viết: “Thiền sư Nguyện Học là Sư châu Vũ Ninh,
siêng tu phạm hạnh, mỗi khi vào thiền quán, nhiều ngày mới
đứng dậy, đến chết thì ngồi kiết già mà mất”. Do thế,
những gì viết về Nguyện Học của bản in An nam chí nguyên
ngày nay là lấy từ Pháp Hiền, do việc chép nhảy hàng gây
ra, bởi vì cả Học lẫn Hiền đều nói là ỏõsư châu Vũ
Ninh”, nên sau những chữ ấy, đúng ra người viết phải
chép tiếp những mô tả về Học, nhưng đã nhảy hàng và
chép thay vào, những mô tả về Pháp Hiền.
(2)
Tức làng Chân Hộ huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh ngày nay.
Xem chú thích (2) truyện Đạo Huệ.
(3)
Tức làng Phù Cầm, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh ngày nay.
Xem chú thích (2) truyện Minh Trí.
(4)
Chùa này ở tại Long Đàm, Phúc Đường, tức khoảng vùng
huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông ngày nay. Xem chú thích (3) truyện
Viên Chiếu.
(5)
Tức núi Sóc, huyện Kim Anh, tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay. Xem chú
thích (5) truyện Khuông Việt.
(6)
Nguyên văn: Thiên Cảm Chí Bảo bát niên. Nhưng theo Đại Việt
sử lược 3 và Đại Việt sử ký toàn thư B4 thì niên hiệu
Thiên Cảm Chí Bảo chỉ gồm có hai năm, đó là năm 1174 và
1175 thôi. Như thế, chữ bát chắc chắn là một viết sai của
chữ nhị chúng tôi đề nghị sửa và dịch theo cách hiểu
đây.
(7)
Ý lấy từ Bài kệ thị chúng của Huệ Tư.
Đạo nguyên bất viễn
Tánh hải phi diêu
Đản hướng kỷ cầu
Mạc tùng tha mích
Mích tức bất đắc
Đắc diệt phi chân.
(Nguồn đạo không ngái
Bể tính chẳng xa
Chỉ nhắm mình tìm
Chớ tìm ở người
Tìm tức không được
Được cũng chẳng chân)
Xem Truyền đăng lục 27 tờ 431b2-4.
(8)
Thiền sư Huệ Tư. Kệ viết:
Đốn ngộ tâm nguyên khai bảo tạng
Ẩn hiện linh thông hiện chư tướng
Độc hành độc tọa thường nguy nguy
Bách ức hóa thân vô số lượng
Tung hiệp bức tắc mãn hư không
Khán thời bất kiến vi trần tướng
Khả tiêu vật hề vô tỷ huống
Khấu thể minh châu quang hoảng hoảng
Tầm thường kiến thuyết bất tư nghì
Nhất ngữ tiêu danh ngôn hạ đáng
Xem
Truyền đăng lục 27 tờ 431b5-9.
(8)
Tức truyện của Huệ Tư trong Truyền đăng lục 27 tờ 431a14-c8.
Tư sinh năm 514 và mất năm 577, thọ 64 tuổi, người Vũ Tân,
họ Lý. Cái mà tác giả Thiền uyển tập anh gọi là
“truyện của Học với truyện Huệ Tư đại khái giống nhau”
rõ ràng nằm trong những bài kệ Thị chúng dẫn trên.
33.
THIỀN SƯ QUẢNG NGHIÊM
(1)
Xem chú thích (2) truyện Bảo Giám.
(2)
Nguyên văn chép Trí Thiền. Nhưng truyện Minh Trí ở trên nói
“tên trước của Trí là Thiền Trí”. Vậy Trí Thiền chắc
là một chép lộn của Thiền Trí hay ngược lại.
(3)
Tức Minh Giác thiền sư ngữ lục, 6 quyển, ĐTK 1996 tờ 669-711,
của thiền sư Trùng Hiển (980-1052) núi Tuyết Đậu ở Minh
Châu, sau khi mất, được vua Tống ban hiệu cho là Minh Giác.
(4)
Đạo Ngô và Tiệm Nguyên đi điếu tang. Nguyên vỗ quan tài
nói: “Sống ư? Chết ư?”. Ngô nói: “Sống, không nói. Chết
không nói”. Nguyên hỏi: “Vì sao không nói ?”. Nguyên đáp:
“Không nói là không nói”. Xem Bích nham lục 6, tắc 55 tờ
198a.
(5)
Nguyên văn: Hư vãng. Trang Tử: “Đức sung phù: Lập bất
giác, tọa bất nghị, hư nhi vãng, thật nhi quy”. Xem Trang
Tử 2 tờ 16a3-4.
(6)
Kim cang kinh: “Như Lai sở đắc pháp, thử pháp vô thật vô
hư”.
Xem
Kim cang kinh tờ 750b29.
(7)
Đại Châu Huệ Hải hỏi một giảng sư kinh Kim cang: “Kinh
đó là ai nói?” Vị sư lên tiếng đáp: “Hòa thượng nói
giỡn sao: Há không biết Phật nói sao?”. Sư nói: “Nếu bảo
Như Lai có chỗ thuyết pháp tức là hủy báng Phật, người
đó không biết nghĩa ta nói..”.
Xem Truyền đăng lục 6 tờ 247a 2-5.
(8)
Kiến Sơ chỉ cho Vô Ngôn Thông, thiền phái của Thông cũng
gọi là phái Kiến Sơ. Âu công chỉ cho Đạo Huệ, Đạo Huệ
họ Âu.
(9)
Thiền sư Đồng An Sát, Thập huyền đàm:
“Trượng
phu tự hữu xung thiên chí
Mạc hướng Như Lai hành xứ hành”
Xem Truyền đăng lục 29 tờ 455b16-17.
34.
THIỀN SƯ THƯỜNG CHIẾU
(1)
Đại nam nhất thống chí, tỉnh Bắc Ninh, mục Tự quan, nói:
“Chùa Lục Tổ tức là chùa Trường Liêu. Sử ký nói: “Sư
Vạn Hạnh trú trì chùa đó, sau mất, Lý Thái Tổ tự thân
đến điếu viếng, dựng đàn siêu độ, cấp dân làm tự
dinh, quanh năm cúng thờ”. Nhưng Lịch triều hiến chương
loại chí 3 tờ 2a5-6 viết: “Tiêu Sơn ở xã Tiêu Sơn, huyện
Yên Phong, trên có chùa Trường Liêu, triều Lý dựng theo chỗ
tu trì của Tể tướng thiền sư Vạn Hạnh. Lý Thái Tổ đầu
thai ở đó”.
Như
vậy, một mặt chùa Trường Liêu ở tại Tiêu Sơn, huyện
Yên Phong. Mặt khác, truyện Thường Chiếu ở đây nói chùa
Lục Tổ ở tại làng Dịch Bảng phủ Thiên Đức, tức làng
Đình Bảng, huyện Từ Sơn hiện nay. Do đó, chùa Trường Liêu
dứt khoát không phải là chùa Lục Tổ, bởi vì hai chùa ấy
ở tại hai huyện khác nhau. Chúng tôi không hiểu tại sao Đại
nam nhất thống chí đã có một sự đồng nhất trên. Khâm
định Việt sử thông giám cương mục chính biên 2 tờ 7b1-2
ghi: “Chùa Tiêu Sơn là chùa Trường Liêu tại xã Tiêu Sơn,
huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh”. Cương mục viết như vậy
hợp lý hơn. Và chùa Lục Tổ từ đó phải ở vị trí làng
Đình Bảng huyện Từ Sơn, tỉnh Hà Bắc hiện nay.
(2)
Làng Phù Ninh đây chắc chắn không phải là thuộc huyện Phù
Ninh, tỉnh Sơn Tây đời Nguyễn, tức Vĩnh Phú ngày nay, bởi
vì những truyện La Quý tờ 48a7 và Thiền Ông tờ 51a8 nói
rõ ra là phủ Thiên Đức có làng Phù Ninh với ngôi chùa Song
Lâm nổi tiếng. Đại Việt lịch triều đăng khoa lục 1 và
2 cũng ghi một làng tên Phù Ninh là quê hương hay trú quán
của một số tiến sĩ nước ta dưới thời Lê như Phạm Ngữ
khoa năm 1463, Nguyễn Khắc Trung khoa 1523, Lê Diêu khoa 1557, Đào
Quốc Hiển khoa 1691 v.v... và nói làng Phù Ninh ấy thuộc hạt
Đông Ngạn. Ngày nay, huyện Từ Sơn tỉnh Hà Bắc đang có
một làng tên Phù Ninh nằm tại phía nam làng Đình Bảng và
phia bắc làng Phù Đổng. Làng Phù Ninh của Thường Chiếu
tức làng đó.
(3)
Đại Việt sử lược 3 tờ 3b6 nói: “Đại Định năm thứ
4 (1143) dựng cung Quảng Từ cho thái hậu ở”. Đại Việt
sử ký toàn thư B4 tờ 5b3 chép việc này vào năm Đại định
thứ 6 (1145), rồi ghi tiếp ở tờ 6b3 là “năm Đại định
thứ 9 (1148) mùa đông tháng 10 khánh thành cung Quảng Từ”.
Đến năm Đại Định thứ 10 (1149). Đại Việt sử lược
3 tờ 5a2 viết: “Mùa thu tháng 8 vua đến chơi cung Quảng từ
xem đua thuyền”. Việc này Đại Việt sử ký toàn thư B4
tờ 10a2 chép vào năm Đại định thứ 12 (1151).
Sự
so le hai năm về niên đại này, giáo sư Hoàng Xuân Hãn trong
Lý Thường Kiệt tr. 444-445 cho là đến từ việc Đại Việt
sử ký toàn thư đã bỏ sót năm Quý Sửu (1133) không chép,
nên đề mục của năm đó trở thành đề mục của năm sau
tức năm Giáp Dần (1134), do thế mà chép việc chậm đi một
năm. Còn Đại Việt sử lược thì lại chép việc sớm hơn
một năm, không biết vì lý do gì. Do một bên chép sớm một
năm, một bên chép chậm một năm, nên có sự so le vừa thấy.
Như
vậy đúng ra cung Quảng từ bắt đầu làm năm 1144, khánh thành
năm 1147 và Lý Anh Tông đến chơi năm 1150. Việt sử tiêu án
tờ 113b2-3 nói việc xây cung Quảng Từ để cho mẹ của Anh
Tông là Lê thái hậu thông dâm với Đỗ Anh Vũ. Nó viết:
“Anh Vũ mặt mày đẹp đẽ, múa giỏi hát hay, triều Thần
Tông đem vào hầu dưới trướng. Lê thái hậu ưa tiếng nói
và sắc đẹp của Vũ, muốn tư thông với Vũ đã lâu. Đến
lúc ấy, mới dựng cung Quảng Từ cực kỳ lộng lẫy xa hoa,
ngày đêm cùng với Anh Vũ làm nơi ngủ nghỉ, mà vua không
biết”.
Về
chức Lịnh đô tào, An nam chí lược 14 tờ 113 có ghi Đô Tào
như một chức quan văn, nhưng không thấy ghi Lịnh đô tào.
(4)
Tức Ô Đông mác thủ đô Hà Nội ngày nay. Trong bản điều
trần dâng cho Mạc Mậu Hợp vào ngày 2 tháng 8 năm Quang Hưng
thứ 9 (1586) do Lê Quý Đôn ghi lại trong Đại việt thông sử
tờ 113a3, Giáp Trưng đề nghị “Thành Đại La từ cửa nam
Ông Mạc đến Nhật Chiêu, những lũy đất nên đắp cao thêm
và những con hào nên vét sâu thêm”. Cửa nam Ông Mạc hay
Ông Mạc nam môn, ta có thể hiểu là cửa nam ở phường Ông
Mạc. Cái tên ở phường Ông Mạc như vậy còn dùng từ thời
Lý cho đến đời Mạc.
(5)
Câu nói này là lược dẫn một đoạn trong phẩm Như Lai xuất
hiện của kinh Hoa nghiêm do Thật Xoa Nan Đà dịch Đại phương
quảng Phật hoa nghiêm kinh, Như Lai xuất hiện phẩm 37: “Phật
từ bồ tát ma ha tát ưng tri Như Lai thân nhất mao khổng trung,
hữu nhất thiết chúng sanh số đẳng chư Phật thân, hà dĩ
cố? Như Lai thành chánh giác thân, cứu cánh vô sanh diệt cố.
Như nhất mao khổng biến pháp giới, nhất thiết mao khổng,
tất diệcnhư thị. Đương trí vô hữu thiểu xứ hứa, không
vô Phật thân, Hà dĩ cố? Như Lai thành chánh giác, vô xứ
bất chí cố. (Tùy kỳ sở năng, tùy kỳ thế lực, ư đạo
tràng bồ đề thọ hạ sư tử tòa thượng, dĩ chủng chủng
thân, thành đẳng chánh giác....Phật tử bồ tát ma ha tát,
ưng vân hà tri Như Lai ứng chánh đẳng giác chuyển pháp luân?
Phật Tử Bồ tát ma ha tát, ưng như thị tri Như Lai dĩ tâm
tự tại lực, vô khỉ vô chuyển, nhi chuyển pháp luân. Tri
nhất thiết pháp, hằng vô khỉ cố, dĩ tam chủng chuyển,
đoạn sở ưng đoạn , nhi chuyển pháp luân. Tri nhất thiết
pháp, ly biên kiên cố, ly dục tế phi tế, nhi chuyển pháp
luân. Nhập nhất thiết pháp, hư không tế cố, vô hữu ngôn
thuyết, nhi chuyển pháp luân. Tri nhất thiết pháp, bất khả
thuyết cố, cứu cánh tịch diệt, nhi chuyển pháp luân. Tri
nhất thiết pháp, niết bàn tính cố, nhất thiết văn tự,
nhất thiết ngôn ngữ, nhi chuyển pháp luân. Như Lai âm thanh,
vô xứ bất chí cố, tri thanh như hưởng, nhi chuyển pháp luân..”..
Xem Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh 52 tờ 275b17-276a6.
Chúng
tôi đã dựa vào xuất xứ này sửa sai một số văn cú của
câu nói để dịch cho đúng đắn và dễ hiểu hơn. Chẳng
hạn câu: “Đương tri vô hữu thiểu hứa xứ, không vô Phật
thân” của kinh Hoa nghiêm , cả hai bản in đời Lê và Nguyễn
của Thiền uyển tập anh đều viết: “Đương tri vô hữu
thiểu hứa tâm, không vô Phật thân”. Chữ tâm của
câu sau đương nhiên là một chép sai của chữ xứ câu trước,
nhất là khi chữ xứ viết tắt thì tự dạng của nó rất
gần với chữ tâm. Chúng tôi do thế đề nghị sửa chữ tâm
thành chữ xứ.
(6)
Câu này cũng là lược dẫn một đoạn khác của phẩm Như
Lai xuất hiện trong kinh Hoa nghiêm. Đại phương quảng Phật
hoa nghiêm kinh, Như Lai xuất hiện phẩm 37: “Phật tử, Như
Lai thành Chánh giác thời, ư kỳ nhân trung, phổ kiến nhất
thiết chúng sanh nhập niết bàn, giai đồng nhất tánh, sở
vị vô tánh. Vô hà đẳng tánh?. Sở vị vô tướng tánh, vô
tận tánh, vô sanh tánh, vô diệt tánh, vô ngã tánh, vô phi
ngã tánh, vô chúng sanh tánh, vô phi chúng sanh tánh, vô bồ
đề tánh, vô pháp giới tánh, vô hư không tánh, diệc phục
vô hữu thành chánh giác tánh. (Tri nhất thiết pháp, giai vô
tánh cố, đắc nhất thiết trí, đại bi, tương tục cứu
độ chúng sanh... Xem Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh
52 tờ 275a19-26.
(7)
Nam tông tự pháp đồ, Thiền uyển tập anh dẫn nó hai
lần, một ở cuối bản tiểu sử của Ma Ha và gọi bằng
tên tắt Nam tông đồ, và một ở cuối bản tiểu sử của
Định Huệ. Nghệ văn chí trong Đại Việt thông sử của Lê
Quý Đôn ghi nó là do Thường Chiếu soạn. Văn tịch chí trong
Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú chỉ ghi
Nam tông pháp đồ 1 quyển nhưng lại thêm một chi tiết khá
lôi cuốn là nó có bài tựa của Trạng nguyên Lương Thế
Vinh. Vinh đậu trạng nguyên năm 1463. Vậy cuốn Nam tông tự
pháp đồ do Vinh đề tựa chắc chắn là bản in do Vinh hay
người thời Vinh đứng in. Thế thì, phải chăng nó đã lưu
hành cho tới thời Phan Huy Chú? Cứ vào một câu viết của
Thiền uyển tập anh ở bản tiểu sử của Thần Nghi, theo
đó “Chiếu... đem Chiếu đối bản của Thông Biện ra và
ghi lại những điều về tông phái, để làm đồ biểu phân
tông tự pháp” (Chiếu ... toại trừu xuất Thông Biện
Đối chiếu bản cập ký kỳ tông phái điều, vi phân
tôn, tự pháp đồ ---), thì nội dung của Nam tông tự tháp
đồ, mặc dầu văn bản nó ngày nay hiện vẫn thất lạc,
có thể nó gồm hai phần. Phần thứ nhất là ghi những điều
cần biết về các tông phái thiền tại Việt Nam như nguyên
lai, thế thứ truyền thừa, và rất có thể niên đại cùng
một số những chi tiết khác, cần thiết cho việc thiết lập
những đồ biểu về các tông phái đó. Còn phần sau là gồm
những đồ biểu. Về số tông phái, Thường Chiếu đã đi
theo Thông Biện và chỉ thừa nhận có phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi
và phái Vô Ngôn Thông, còn phái của Nguyễn Đại Điên cũng
như của Nguyễn Bát Nhã cùng những chi phái khác, mà Thông
Biện nói là “chia chẽ ra bao la không thể kể xiết”, thì
chắc chắn đã không được nói tới, như câu hỏi của Thần
Nghi với Thường Chiếu đã xác nhận. Và cũng cứ vào câu
trên thì cũng rõ ràng là, Nam tông tự pháp đồ không phải
đồng nhất hay hoàn toàn mô phỏng theo Chiếu đối lục.
Ngoài
ra, cũng cần thêm là, cả Văn nghệ chí của Lê Quý Đôn lẫn
Kinh tịch chí của Phan Huy Chú đều liệt kê một tác phẩm
khác nữa của Thường Chiếu nhan đề Thích đạo khoa giáo
1 quyển, mà Thiền uyển tập anh không biết tới. Phải chăng,
Thích đạo khoa giáo vẫn còn lưu hành vào thời Lê Quý Đôn
hay Phan Huy Chú? Và đây chắc hẳn là một cuốn sách dạy
học trò đi thi về những khoa Phật giáo tổ chức dưới triều
Lý và Trần.
35.
CƯ SĨ THÔNG SƯ
(1)
Tức cư sĩ Thông Thiền trong truyện của Tức Lự. Gọi Thông
Sư có lẽ để tỏ lòng tôn kính với Thiền. Và Thông Thiền
đây chắc không phải là Ngô Thông Thiền môn đồ của Viên
Học, bởi vì không những Thông Thiền đây họ Đặng, và
Thông Thiền kia họ Ngô, mà còn vì Đặng Thông Thiền chết
năm1228, trong khi Ngô Thông Thiền thì đã lớn khôn để đưa
đám thầy mình vào năm 1136. Ngô Thông Thiền do thế khó mà
sống được tới năm 1228.
(2)
Cái tên An La được Thiền uyển tập anh kể ra hai lần, một
ở đây, và một ở tờ 72a4 nói rằng: “Thiền sư Phạm Âm
làng Thanh Oai, An La”. Đại Việt sử ký toàn thư B4 tờ 25a1-2
nói: “Năm Trị Bình Long Ứng thứ 3 (1207) mùa đông tháng
10 mọi núi Tản Viên, châu Quốc Oai đi ăn trộm, cướp bóc
làng Thanh Oai, chúng quá mạnh, không thể chế ngự được”.
Làng Thanh Oai này, Đại nam nhất thống chí, tỉnh Hà Nội,
mục Kiến trí diên cách nói: “Nó xưa là đất Đỗ Động,
cái tên Thanh Oai mới thấy ở thời Lý - Năm Trị Bình Long
Ứng thứ 3 (1207) của Cao Tông gọi làng Thanh Oai, sau đổi
làm huyện. Đời thuộc Minh đem gồm vào châu Oai Man thuộc
phủ Giao Châu. Lê Quang Thuận cải thuộc thống hạt phủ Ứng
Hòa. Sau đổi chữ Thanh bộ thủy làm chữ Thanh không bộ thủy.
Triều ta nhân theo”. Huyện Thanh Oai đời Nguyễn, tức huyện
Thanh Oai tỉnh Hà Đông bây giờ như vậy là xuất phát từ
làng Thanh Oai đời Lý. Mà làng Thanh Oai đời Lý, cứ dẫn
chứng trên, lại thuộc An La. An la đây do đó có thể là tên
một châu hay một quận thời Lý. Địa phận nó chắc chắn
gồm phần lớn đất đai huyện Thanh Oai ngày nay, hay hơn nữa.
Từ xác định ấy, Ốc hương của Thông Thiền chắc chắn
phải nằm trong vùng đất Thanh Oai đây hay cùng lắm thì lan
ra một vài xã của những huyện kế cận. Chúng tôi coi lại
bảng liệt kê những tổng xã thôn trại của phủ Ứng Hòa
trong Bắc thành địa dư chí lục, nhưng không tìm thấy một
tên đất nào có thể giúp đoán định vị trí thật sự của
Ốc Hương cả. Một cuộc nghiên cứu hiện địa nay mai sẽ
giúp giải quyết vấn đề vừa nêu.
(3)
Thỉnh ích, theo Phần Dương “thì thiền tông có cả thảy
18 lối hỏi, mà Phần dương thập bát vấn kê ra như sau: Thỉnh
ích, trình giải, sát biện, đầu cơ, thiên tị, tâm hành,
thám bạt, bất hội, kinh đảm, trí, cố, tá, thật, giả,
thẩm, trưng, minh và mặc. Trong số này trừ lối cuối cùng
tức lối hỏi bằng im lặng, mà Dương cho là “khó xác định
vì phải biết ý người đến hỏi”, những lối còn lại
thì tùy theo cơ hội, và Dương cho một số thí dụ về những
lối hỏi này. Xem Nhân thiên nhãn mục 2 tờ 307c3-308a25.
(4)
Huyền Tráng (604-664), một dịch giả nổi tiếng của Phật
giáo Trung Quốc, và người đã có công thiết lập trường
phái Duy thức của Trung Quốc với người học trò của mình
là Khuy Cơ. Về cuộc đời, Xem Đại từ ân tự tam tạng pháp
sư truyện, 10 quyển, ĐTK 2053, về câu nói dẫn ở đây, chúng
tôi hiện chưa tìm thấy xuất xứ của nó, nhưng về nội
dung thì đương nhiên là nằm trong quỹ đạo của tư tưởng
Duy thức của Huyền Tráng.
(5)
Hoàng triều đây chỉ triều Trần, bởi Thiền uyển tập anh
viết dưới thời ấy.
36.
THIỀN SƯ THẦN NGHI
(1)
Tức làng Thời Trung huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông ngày nay.
Về bàn cãi, xem chú thích (3) truyện Ngộ Ấn.
(2)
Đại Việt sử lược 3 hai lần nhắc đến địa doanh
Ngoại Trại. Một ở tờ 29b7 nói: “Năm Kiến Gia thứ 6 (1216)
tháng năm Mậu Thìn (nguyên bản viết ngọ) vua đi chơi Ngoại
Trại”. Một ở tờ 32b3-4 viết: “Năm Kiến Gia thứ 14 (1224)
mùa đông tháng 12, núi Phật Tích ở Ngoại Trại nứt dài
30 trượng”.
Về
việc đầu, ta biết Lý Huệ Tông theo Đại Việt sử lược
đã cho thị triều ở Thảo Điện vào tháng giêng. Tháng ba,
sai người đi bắt bộn cướp ở xóm Cơ Xá, bị Đỗ Ất
chống lại. Tháng năm, bị Đỗ Nhuế tấn công. Ngày Mậu
Thìn tháng đó, Lý Huệ Tông mới đi Ngoại Trại, “nhân đó
sai người đi xin quân ở Tự Khánh để đánh Nhuế”. Hôm
sau tức ngày Kỷ Tỵ, đày Nhuế làm khoa giáp. Sáu ngày sau
tức ngày Giáp Tuất (nguyên bản viết Thìn, nhưng nghi sai)
Huệ Tông cùng vợ đi về Thuận Lưu (Nam Định). Mà Thảo
Điện của huyện Tôn Nguyên là ở tại xóm Chi Tác của cầu
Tây Dương. Như vậy cứ hành trình vừa kể của Huệ Tông,
Ngoại Trại chắc phải là một tên đất tại vùng Sơn Tây.
Kết
luận này càng tỏ ra đúng đắn, khi ta bàn đến sự việc
thứ hai, đây là chuyện núi Phật Tích ở Ngoại Trại nứt.
Núi Phật Tích này đương nhiên không phải là núi Lạn Kha
ở xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Nó phải là
núi Phật Tích mà An nam chí lược 1 tờ 22 nói: “Vì trên
đá có dấu chân, nên có tên đó”. Và núi đó theo Đại
nam nhất thống chí, tỉnh Sơn Tây, mục Sơn xuyên, không gì
hơn là Sài Sơn hay núi Thầy, hiện ở hai xã Thụy Khê và
Thiên Phúc, huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây ngày nay. Đất Ngoại
Trại của Thần Nghi như vậy phải rơi vào vùng huyện Quốc
Oai này, nếu không phải là giới hạn vào hai xã Thụy Khê
và Thiên Phúc, nơi đấy hiện đang có núi Phật Tích.
Đại
Việt sử ký toàn thư B10 tờ 22a3 cũng kê Ngoại Trại như
một trận địa giao tranh giữa quân ta và bọn xâm lược Minh
vào hôm 6-11-1426, và nó chắc nằm sát Cổ Sở, tức làng Yên
Sở, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông ngày nay. Có người không
hiểu Ngoại Trại ở đây của Đại Việt sử ký toàn thư
là một địa danh, bèn dịch thành “doanh trại ngoại vi”.
(3)
Bồ Đề Đạt Mạ chết chôn trên núi Hùng Nhĩ, tháp được
dựng tại chùa Định Lâm. Xem Truyền đăng lục 3.
(4)
Nhà Bắc Ngụy, Hiếu Trang đế, năm Vĩnh An thứ 3 (530), Tống
Vân đi sứ Tây Vức, gặp Đạt Mạ tại Thông Lĩnh. Trang Đế
nghe sự lạ bèn quật mồ, chỉ thấy còn lưu lại một chiếc
dép. Do đó có thiền thoại “chích lý tây quy”. Xem Truyền
đăng lục 3 tờ 220a-b
(5)
Tục ngữ thường được dùng trong thiền: nhất khuyển phê
hư hoặc cũng nói là nhất nhân tác hư vạn nhân truyền thật.
Xem truyện Diên Chiểu trong Truyền đăng lục 13 tờ 303a28-29,
truyện Chân Giác 18 tờ82 352b2 và truyện Thủ Trừng quyển
20 tờ 368a21-23. Nguyên xuất xứ nó là trong thiên Hiền
nạn của Tiềm phu luận: “Nhất khuyến phệ hình, bách khuyến
phệ thanh..”. Xem Tiềm phu luận 1 tờ 23a5.
(6)
Về Chiếu đối bản, xem chú thích (3) truyện Biện Tài.
(7)
Nguyễn Đại Điên (?-1110) chắc chắn là sư Đại Điên đánh
chết cha của Đạo Hạnh, để rồi bị Hạnh đánh chết,
lại trong truyện Đạo Hạnh. Xem chú thích (8) truyện Đạo
Hạnh.
Còn
Nguyễn Bát Nhã tức thiền sư Bát Nhã chùa Từ Quang Phúc Thánh
ở làng Dịch Vương, Trương Canh, tức huyện Hoài Đức, tỉnh
Hà Tây ngày nay. Sư là đệ tử của Thảo Đường. Xem Thiền
uyển tập anh tờ 71 b6.
(8)
Nguyên văn: Sư dĩ chiếu sở thọ đồ bản. Hai chữ đồ bản
trong đó, chúng tôi hiểu là Nam tông tự pháp đồ và Chiếu
đối bản.
(9)
Tức huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang ngày nay. Đại nam nhất
thống chí, tỉnh Bắc Ninh, mục Phần dã, viết: “Huyện Lục
Ngạn, đời Trần về trước gọi là Na Ngạn. Thuở đầu,
thời thuộc Minh chia làm hai huyện Na Ngạn và Lục Ngạn (đúng
ra là Lục Na), sau gồm vào Lục Ngạn. Triều ta nhân theo”.
Về
Ấn Không, nay ta không biết một tí gì hết ngoài những điều
đã ghi ở đây.
37.
THIỀN SƯ TỨC LỰ
(1)
Tức khoảng địa phận quanh làng Phù Cầm huyện Từ Sơn tỉnh
Hà Bắc hiện nay. Về bàn cãi xem chú thích (3) truyện Định
Hương.
(2)
Mãi quỷ, một tên khác của chim đỗ quyên hay chim cuốc.
(3)
Tội ngũ nghịch tức năm tội trọng, đấy là giết cha, giết
mẹ, giết A la hán, gây đổ máu nơi thân Phật, phá hoại
sự hòa hợp của chúng tăng.
Tội
thất già tức bảy trọng tội không cho phép của một người
được thọ giới Bồ tát, đấy là: “Gây đổ máu nơi thân
Phật, giết cha, giết mẹ, giết hòa thượng, giết A xà lê,
phá Yết ma chuyển pháp luân, giết thánh nhân”. Xem Phạm
võng kinh quyển hạ tờ 1008.
(4)
Phi nhân: tức loài quỉ thần thông không phải là loài người.
38.
THIỀN SƯ HIỆN QUANG
(1)
Bắc thành địa dư chí lục 2 viết: “Núi Yên Tử ở tại
xã Nam Mẫu huyện Đông Triều, một tên là Tượng Sơn. Long
mạch chi tả bổ xuống làm tổ các núi ở Hải Dương. Cứ
Đồ kinh thì núi ở hương Cấn. Mạch Quyết nói: “Nó nở
như sen, nó bay như diều, hai cái không đều, sinh nhiều ngỗ
nghịch”. Hải nhạc danh sơn đồ đời Tống cho núi này là
một trong bốn đất phúc. Xưa, An Kỳ Sinh đời Hán tu luyện
ở đấy. Trên núi (Tiên) có chùa gọi Hoa Yên, gọi Tử Tiêu,
lại có khe tên Giải Oan, tên Long Hàm, khéo léo thanh vắng,
thật là một bồng đảo của thiên nhiên..”.. Xem thêm Đại
nam nhất thống chí, tỉnh Hải Dương, mục Sơn xuyên.
(2)
Chuyện người cùng tử trong kinh Pháp hoa, sau một thời gian
trôi giạt gặp bất ngờ cha mình trong cảnh giàu sang tột
bực, nhưng không nhận ra đó là cha, mà chỉ bằng lòng nhận
thân phận nô dịch. Xem Diệu pháp liên hoa kinh tờ 16 b 25.
(3)
Đại Việt sử lược 3 tờ 10a11: “Trinh Phù năm thứ 5 (1180)
mùa đông cho thủ lãnh châu Vị long Hà Công Phụ cưới
công chúa Hoa Dương”. Công chúa Hoa Dương như vậy là con
của Lý Anh Tông.
(4)
Nguyên văn: Khấp kỳ. Từ lấy ra ở thiên Nghi tợ của Lã
thị xuân thu 22 tờ 21b12-13 về việc “Mặc tử thấy đường
rẽ mà khóc”. Thiên Thuyết lâm của Hoài nam tử 17 tờ13b13-14
giải rõ hơn: “Dương Tử thấy đường rẽ mà khóc vì nó
có thể đi về nam hay bắc”.
(5)
Bố Đại hòa thượng (...) thường dùng một cây gậy quảy
một túi vải trên vai. Tịch đời Lương, niên hiệu Trinh Minh
thứ hai (916). Xem Truyền đăng lục 27 tờ 434a19.
(6)
Các sư tăng có lệ cấm túc, giới hạn trong một khu vực,
trong một thời gian không ra khỏi giới hạn đó. Cuộc cấm
túc này có lẽ xảy ra vào năm 1212, mà Đại Việt sử lược
3 tờ 24a1 ghi lại việc Lý Huệ Tông cùng Thái hậu đến trước
Phật thệ rằng: “Trẫm đem đức mọn mà trộm nối ngôi
quí, đến nỗi phải gặp loạn ly, sắp đổ sự nghiệp trước,
thậm chí cung giá phải dời đổi nhiều lần. Nay muốn lãnh
ngôi trời để nhường cho người hiền đức “nói xong, vua
lấy dao muốn cắt tóc thì (Trần) Tự Khánh và quần thần
đều cúi đầu chảy nước mắt”. Bởi vì sau năm đó loạn
lạc càng thêm và đến năm 1214 thì Tự Khánh đốt sạch cung
điện như Đại Việt sử lược 3 tờ 26a4 ghi: “Điện Vũ
Nghi không thấy tên trong sử”.
(7)
Hứa Do là tên nhà cao sĩ đời thượng cổ Trung Quốc, trước
ở ẩn tại Bãi Trạch, vua Nghiêu đem thiên hạ nhường cho,
bèn không nhân, rồi trốn đến dưới núi Cơ ở Dĩnh Thủy
cày ruộng. Vua Nghiêu lại mời làm Cửu Chân trưởng. Hứa
Do không muốn nghe, bèn đến bên sông Dĩnh lấy nước rửa
lỗ tai mình.
(8)
Tự ngu tập này nghi có thể là tác phẩm của Ngu Ông, một
trong những đệ tử của Tiêu Diêu.
39.
CƯ SĨ ỨNG VƯƠNG
(1)
Truyện của Tức Lự nói: “Ứng Thuận cư sĩ, ấy là pháp
tự của Lự”. Nhưng không hiểu sao đây gọi Ứng Vương,
hoặc chữ Vương là một khắc sai của chữ Thuận. Hoặc là
một cách gọi để tỏ lòng tôn kính như trường hợp Thông
Sư.
(2)
Phường Hoa thị nay không biết thuộc phường nào của thủ
đô Hà Nội.
(3)
Tức triều Trần Thái Tông (1225-1257). Khi Thái Tông mất vào
năm 1277 và đem táng vào lăng thì lăng của Thái Tông gọi
là Chiêu lăng. Xem Đại Việt sử ký toàn thư B5 tờ 36a5.
(4)
Cứ Lược dẫn thiền phái đồ trong Thượng sĩ ngữ lục
tờ 7b thì Tiêu Diêu là đệ tử của Ứng Thuận và là thầy
của Tuệ Trung. Ngoài Tiêu Diêu ra, nó còn cho biết Quốc Nhất,
Đạo Si, Quế Thâm và Chân Giám là những đệ tử khác của
Thuận. Và ngoài Tuê, Trung ra, thì Thạch Đầu Vị Hài, Đạo
Tiềm, Thần Tán, Lại Toản, Thạch Lâu, Thôn Tăng, Thủ Nhân,
Ngu Ông và Vô Sở là đệ tử của Tiêu Diêu.
Thượng
sĩ Hành trạng trong Thượng sĩ ngữ lục tờ 38a8-b1 nói: “(Tuệ
Trung) lúc còn để chỏm, rất chuộng cửa Không, đến học
thiền sư Tiêu Diêu ở Phúc Đường, hiểu được yếu chỉ,
dốc lòng thờ làm thầy”. Còn bài tựa do Huệ Nguyên viết
năm 1763 trong Thượng sĩ ngữ lục tờ 3b1-3 nói: “Thượng
tổ Tiêu Diêu... vừa đến nước ta, đã thoát thế vô y, cầm
câu không lưỡi mà vào kinh thành”. Như thế Diêu chưa hẳn
là người nước ta. Lời tựa đây cũng nói Thượng sĩ ngữ
lục là một tác phẩm của Tiêu Diêu.
Tuy
nhiên, chúng tôi nghĩ Tiêu Diêu chắc quê quán Phúc Đường
tại vùng Thanh Trì ngày nay.
40.
THIỀN SƯ TÌ NI ĐA LƯU CHI
(1)
Đối chiếu với các tư liệu Trung Quốc:
a.
Lịch đại tam bảo ký 10 tờ 102c3-9: “Tam tạng pháp sư Tỳ
Ni Đa Lưu Chi nước Ô Trượng, Bắc Thiên Trúc. Tùy dịch là
“Diệt hỷ”. Khi đã nghe đức Hoàng đế ta phục hưng Tam
bảo, nên có thể không cho 500 do tuần là xa, bèn chống gậy
nhắm phương đến xem sự thạnh hóa đến mức nào. Bèn được
mời vào, sai dịch kinh, tức ở nơi chùa Đại Hưng Thiện
dịch ra (kinh Tượng đầu tinh xá và Đại thừa phương quảng
tổng trì). Cấp sự Lý Đạo Bảo và thứ tử của Bát Nhã
Lưu Chi là Đàm Bì, hai người truyền dịch. Sa môn chùa Đại
Hưng Thiện là Thích Pháp Toản từ Trường An bút thọ thành
chữ Hán, cùng chỉnh đốn so sánh văn nghĩa. Sa môn Ngạn Tôn
viết tựa cho cả hai”.
b.Đại
Đường nội điển lục 5 tờ 275a14-19 chép như (a)
c.
Tục cao tăng truyện 2 tờ 433b2-5 chép y như (b)
d.
Khai nguyên thích giáo lục 7 tờ 547c8-14 đại cương chép như
(a) nhưng thêm chi tiết là các kinh kể trên “dịch vào năm
Khai Hoàng thứ 2 (582) Nhâm Dần đời Văn Đế”, và thêm đính
chính rằng “Trường Phòng (tức (a)) nói phiên dịch tại
chùa Đại Hưng Thiện là sai”.
e.
Trinh nguyên tân định Thích giáo mục lục 10 tờ 646a8-14 chép
như (đ). So sánh các tư liệu Trung Quốc vừa dẫn với nhau,
ta thấy ngay một điểm bất thường nổi bật ngay, đấy là
việc Khai nguyên Thích giáo lục nói Lịch đại tam bảo ký
ghi Tỳ Ni Đa Lưu Chi dịch những kinh của ông tại chùa
Đại Hưng Thiện là sai, nhưng không nói rõ nếu đúng thì
dịch chúng ở đâu. Lịch đại tam bảo ký do Phí Trường
Phòng viết xong năm 597, còn Khai nguyên Thích giáo lục do Trí
Thăng soạn năm 730. Việc Thăng phản đối Phòng về nơi dịch
kinh của Tỳ Ni Đa Lưu Chi rõ ràng muốn nói rằng Tỳ Ni Đa
Lưu Chi không bao giờ dịch kinh tại chùa Đại Hưng Thiện
cả. Ngược lại, Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã dịch chúng ở những
nơi khác. Nhưng nơi khác đây là nơi đâu, Thăng không nói.
Do thế, Thiền uyển tập anh không phải là không có lý, khi
nói Tỳ Ni Đa Lưu Chi dịch kinh Tượng đầu ở Quảng Châu
và kinh Tổng trì ở nước ta, dầu rằng nó có xuất hiện
hậu kỳ. Từ kết luận đây, những chi tiết khác liên quan
đến Tỳ Ni Đa Lưu Chi do Phòng ghi lại vị tất là có thể
đáng tin hoàn toàn. Sự thực, nếu Tỳ Ni Đa Lưu Chi không
dịch kinh tại chùa Đại Hưng Thiện, thì việc “mời vào
khiến dịch kinh” khó có thể tin được.
(2)
Khâm định Việt sử thông giám cương mục chính biên 3 tờ
32a1-3 nói: “Chùa Pháp Vân ở tại thôn Văn Giáp huyện Thượng
Phúc tỉnh Hà Nội. Tương truyền một hôm mây mưa sấm chớp
nổi lớn, cây si ngã xuống, người trong thôn lấy gỗ nó
khắc tượng dựng chùa thờ, nên có tên đó”. Xác định
chùa Pháp Vân như vậy, các tác giả Cương mục đã sử dụng
tài liệu của Bắc thành địa dư chí lục 3, theo đó “chùa
Đại Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện ở làng Văn
Giáp, huyện Thượng Phúc”. Nhưng đương nhiên chùa Pháp Vân
nói tới đây không phải là chùa Pháp Vân làng Cổ Châu, Long
Biên, mà thực ra chùa Pháp Vũ hay chùa Thành Đạo hay chùa
Đậu, nơi thờ Pháp Vũ. Vậy chùa Pháp Vân làng Cổ Châu là
chùa nào?
Làng
Cổ Châu, Long Biên, nay gồm đất làng Khương Tự huyện Thuận
Thành tỉnh Bắc Ninh. Tại làng này hiện có một chùa tên
Diên Ứng và một cây tháp tên Hòa Phong.
Đại
nam nhất thống chí, tỉnh Bắc Ninh, mục Tự quan, viết: “Chùa
Diên Ứng ở xã Khương Tự, huyện Siêu Loại, có bốn tượng
Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điện rõ có linh tích.
Đời Trần, Mạc Đĩnh Chi dựng chùa Trăm Gian, tháp chín tầng,
cầu chín nhịp, di chỉ nay còn. Xét Pháp Vân Phật truyện
thì lúc Sĩ Nhiếp làm Thái thú cai trị thành Luy Lâu, sư Khưu
Đà La ở tại núi xanh phía tây của thành. Có người con gái
của Tu Định là A Man bị Sư đụng đến, mà có thai sinh một
đứa bé gái. Sư đem bỏ vào trong một cây lớn ở rừng sâu.
Sau gió mưa nổi lớn, cây trốc gốc, trôi nổi trong sông,
trôi đến bến Luy Lâu. Người ta lấy làm lạ, vớt lên bờ,
sai thợ đẽo bốn pho tượng Phật, dựng chùa gọi là chùa
Thiền Định... tức nay chùa Diên Ứng..., đặt bốn pho tượng
Phật phụng thờ. Sau mỗi lần cầu mưa đều có linh ứng,
người ta đặt tên Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Điện và Pháp
Lôi. Tập di ký của Lý Tế Xuyên nói người Cổ Châu mỗi
năm đến ngày mừng Phật đản thì hội họp tại chùa Thiền
Định. Trần Nghệ Tông có ban mỹ hiệu. Sử nhà Lê chép:
Năm Thái Hòa thứ 6 đời Nhân Tông sai Lê thái úy đến Cổ
Châu rước Phật Pháp Vân về đến chùa Báo Thiên ở kinh
thành để cầu mưa”.
Chùa
Pháp Vân ở Cổ Châu, Long Biên tức chùa Diên Ứng hay chùa
Dâu tại xã Khương Tự huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh ngày
nay.
(3)
Tức nam Ấn. Nhưng các tư liệu Trung Quốc đã dẫn, đều
nói người bắc Thiên Trúc, tức bắc Ấn.
(4)
Nguyên bản viết “Nhâm Ngọ” là sai, Trần Đại Kiến thứ
6 năm Giáp ngọ.
(5)
Phật tổ lịch đại thông tải 10 tờ 557a: Năm Giáp Ngọ,
Chu Võ Đế, niên hiệu Kiến Đức thứ 3 (574), tháng 5 ngày
17, xuống chiếu hủy Phật.
(6)
Nghiệp, bây giờ là kinh đô nhà Bắc Tề.
(7)
Tổ Tăng Xán, sau khi được truyền pháp, đến ẩn cư trong
núi Hoàn Công, Thư Châu. Gặp lúc Chu Võ Đế phá diệt Phật
pháp, ngài lánh sang núi Tư Không, huyện Thái Hồ sống không
nhất định một nơi nào, trải qua 10 năm... Đến Tùy Khai
Hoàng 12 (592), truyền pháp cho Đạo Tín. Xem Truyền đăng lục
3 ĐTK. 2078 tờ 221c.
(8)
Các tư liệu Trung Quốc, xem chú thích (1) trên đều ghi như
nhau. Sư dịch 2 tác phẩm.
(a)
Tượng đầu tinh xá kinh 1 quyển (xem ĐTK 466). Chú thích của
Trường Phòng (sđd. 102c1): “Năm Khai Hoàng thứ 2 (582), tháng
2 dịch. Bản dịch lần thứ 2, cùng nguyên bản với kinh Già
da sơn đỉnh (xem ĐTK 465)”.
(b)
Đại phương quảng tổng trì kinh, 1 quyển (xem ĐTK 275). Ghi
chú của Trường Phòng (sđd): “Khai Hoàng, năm thứ 2, tháng
7, dịch”.
(9)
Nghiệp báo sai biệt kinh, 1 quyển, gọi đủ là: Phật thuyết
thủ trưởng giả nghiệp báo sai biệt kinh, đời Tùy, Cù Đàm
Pháp Trí dịch (xem ĐTK 80) Ghi chú của Trường Phòng: “Khai
Hoàng năm thứ 2, tháng 2, dịch..”. Bản dịch của Tỳ Ni
Đa Lưu Chi phải chăng đã mất và chắc chắn nội dung không
phải thuộc loại kinh này. Bởi vì học lý của Tỳ Ni Đa
Lưu Chi xuyên qua hai bản dịch trên, không thể nào để cho
ông dịch một tác phẩm với một học lý, như nó thể hiện
trong bản dịch Nghiệp báo sai biệt kinh ngày nay.
(10)
Tăng Xán, Tín tâm minh tờ 376b 22-23 :
Viên đồng thái hư
Vô khuyết vô dư
Lương do thủ xả
Sở dĩ bất như.
Cũng
xem Truyền đăng lục 30 tờ 457a 21-22.
(11)
Kiến văn tiểu lục 4 tờ 13a1-3 chép :
Phi tích lai Nam quốc
Văn quân cửu tập thiền
Ứng khai chư Phật tín
Viễn hiệp nhất tâm nguyên
Hạo hạo Lăng già nguyệt
Phần
phần bát nhã liên
Hà thời tái đắc kiến
Tương dự thoại trùng huyền.
Những
chữ in đậm là khác với chữ trong bản in 1715 ở đây.
41.
THIỀN SƯ PHÁP HIỀN
(1)
Tức núi Tiên Du ở xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc
Ninh. Xem chú thích (1) truyện Thiền Lão.
(2)
Cương mục tiền biên 2 tờ 10b1-2 nói: “Huyện Chu Diên, đời
Hán đặt thuộc quận Giao Chỉ, đời Đường đổi làm Diên
châu, đời Lê là phủ Tam đái, nay tức đất phủ Vĩnh Tường,
tỉnh Sơn Tây”.
Nhưng
cả Tùy thư 21 tờ 7b8 lẫn Cựu đường thư 41 tờ 42b11 đều
nói Chu Diên là đất Vũ Bình thời trước. Ngoài ra, Nguyên
hòa quận huyện đồ chí 38 tờ 13a1 và Thái Bình hoàn vũ ký
170 tờ 10a5 lại ghi Chu Diên ở về phía đông nam của trị
phủ Giao Châu, mà sau này Độc sử phương dư kỷ yếu 112
tờ 8a3 chép lại, nghĩa là Chu Diên ở về phía đông nam thủ
đô Hà Nội ngày nay. Phần đất của nó như vậy bao gồm
trong tỉnh Hưng Yên. Kết luận này tỏ ra hợp lý, bởi vì
đất Quận Bình, chúng ta đã đồng nhất với đất những
huyện Tiên Lữ, Ân Thi, KhoÁi Châu, Kim Động, Phù Cừ, tỉnh
Hưng Yên. Xem chú thích (2) truyện Tịnh Lực.
Hơn
nữa truyện Đạo Lâm tờ 66b3 nói Lâm, người Cửu Cao, Chu
Diên”. Mà căn cứ Đại Việt lịch triều đăng khoa lục
2 thì Cửu Cao là tên một ngôi làng thuộc “hạt Gia Lâm”,
Nơi xuất thân của những tiến sĩ Trần Văn Bính khoa năm
1505, Vũ Hữu Nghiêm khoa năm 1514 v.v..., và khoảng đến năm
1706 thì đổi thành làng Thượng Tốn, khi có Đỗ Công Đỉnh
đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Như thế, địa
phận của Chu Diên đời Lý phải gồm luôn tối thiểu phần
đất phía đông nam của huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh ngày
nay.
Từ
đó, quê của Pháp Hiền tất phải nằm khoảng huyện Gia Lâm,
tỉnh Bắc Ninh cho đến những huyện phía bắc tỉnh Hưng Yên.
(3)
Tham chiếu Truyền đăng lục về cuộc đối thoại đầu tiên
giữa Đạo Tín và Hoằng Nhẫn: “Một hôm Tín đến huyện
Hoàng Mai, giữa đường gặp một đứa trẻ cốt tướng kỳ
vĩ, khác với trẻ thường, Sư hỏi: “Con họ gì?” Trẻ
đáp : “Là họ Phật”. Sư hỏi: “Ngươi không có họ sao?”
Trẻ đáp: “Tánh không vậy”. Sư lặng biết nó là một
bậc tài giỏi của đạo, liền sai người hầu đến nhà nó
gặp cha mẹ, xin cho nó xuất gia. Cha mẹ cho là có duyên xưa,
nên không có chút vẻ làm khó khăn, liền cho đi làm đệ tử,
có tên gọi Hoằng Nhẫn”. Xem Truyền đăng lục 3 tờ 222b10-16.
(4)
Tục cao tăng truyện 18 tờ 573b25-c14 trong truyện của Đàm
Thiên ghi rõ là vua Tùy Cao Tổ ban xá lợi gồm cả thảy ba
lần. Lần đầu cho 30 châu vào tháng 6 năm Nhân Thọ thứ nhất
(601). Lần thứ hai cho 51 châu khác vào tháng giêng năm sau.
Và lần thứ ba vào tháng giêng năm Nhân Thọ thứ 4 (604), ra
lệnh các châu lớn xây thêm hơn một trăm bảo tháp, để
nhận thêm xá lợi. Cứ Xá lợi cảm ứng ký trong Quảng Hoằng
minh tập 17 tờ 216b10 thì lần ban xá lợi thứ nhất, chùa
Thiền Chúng của Giao Châu được chọn làm một trong 30 chỗ
xây tháp của Cao Tổ. Nhưng năm đó, cứ Đại Việt sử ký
ngoại kỷ của Đại Việt sử ký toàn thư 4 tờ 23a1-8
và Tùy thư 2 tờ 10a6-7, nước ta hiện đang là một nước
độc lập dưới quyền lãnh đạo của Lý Phật Tử, thì việc
ban xá lợi có thể coi như một công tác ngoại giao. Cho nên,
chắc phải trước năm 602 khi Lưu Phương đã dụ hàng thành
công Lý Sư Lợi, người con nối nghiệp của Lý Phật Tử,
thì mới có chuyện ban xá lợi cho Giao Châu. Việc ban năm hòm
xá lợi cùng một lần do thế là một có thể, và việc Pháp
Hiền chọn chùa Pháp Vân, chứ không phải chùa Thiền Chúng
của Xá lợi cảm ứng ký làm nơi xây bảo tháp là một sự
thực.
(5)
Xá lợi cảm ứng ký của Quảng hoằng minh tập 17 tờ 216b10
nói xây tháp tại chùa Thiền Chúng để cúng dường xá lợi
ở Giao Châu. Nhưng đây nói là “xây ở chùa Pháp Vân của
Luy Lâu”, thì tỏ ra đúng sự thực hơn. Cứ Đại Việt sử
lược 2 tờ 6a5-7 thì vào năm 1034 các nhà sư chùa Pháp Vân
ở Cổ Châu dâng thư nói rằng trong chùa phóng ánh sáng ra
vài luồng, theo ánh sáng đó mà đào lên thì được hòm đá
một hòm, trong hòm có hòm bạc, trong hòm bạc có hòm vàng,
trong hòm vàng có bình lưu ly, trong bình có xá lợi”. Hòm
nói đến đây dĩ nhiên là hòm xá lợi mà Tùy Cao Tổ đã
ban, bởi vì theo Xá lợi cảm ứng ký của Quảng hoằng minh
tập 17 tờ 213a18-22 đã mô tả với một sai khác không quan
trọng là, thay vì bình bạc, nó có bình đồng bên trong bình
đá.
(6)
Cương mục tiền biên 1 tờ 1b7-2a3 viết: “Phong Châu, sử
cũ chua là Bạch Hạc. Địa lý chí đời Đường nói Phong
Châu gồm năm huyện. Thái Bình hoàn vũ ký của Nhạc Sử chép
quận Thừa Hóa của Phong Châu tức nước Văn Lang xưa. Thế
thì, Phong Châu tức nay thuộc địa hạt cả phủ Vĩnh Tường
và Lâm Thao, tỉnh Sơn Tây”
(7)
Cương mục tiền biên 4 tờ 15b2-6 viết: “Hoan Châu xưa là
bộ Hoài Hoan đời Hùng Vương, đời Tần thuộc Tượng Quận,
đời Hán thuộc quận Nhật Nam, đời Lương đổi Đức Châu.
Đời Tùy Khai Hoàng đổi Hoan Châu, khoảng Đại Nghiệp đổi
Nhật Nam. Đời Đường Trinh Quán Lại đặt Hoan Châu. Đời
Đinh Lê nhân theo. Đời Lý đổi làm châu Nghệ An. Đời Trần
cải trấn Lâm Giang. Đời thuộc Minh là các phủ Nghệ An và
Diễn Châu. Đời Lê Quang Thuận đặt Nghệ An thừa tuyên.
Nay là tỉnh Nghệ An”. Đất Hoan Châu hiện nay thuộc tỉnh
Nghệ Tĩnh.
(8)
Cương mục tiền biên 4 tờ 20b1-2 nói: “Trường Châu, xưa
là bộ Vũ Định, nay là tỉnh Tuyên Quang”. Nhưng Cựu đường
thư 41 tờ 42a11-12 nói Trường Tây ở phía tây nam của Giao
Châu, còn Ái Châu ở phía tây của châu đó. Ngoài ra, ở tờ
44b8-9 nó viết: “Trường Châu, thổ tục nó giống với Cửu
Chân. Đời Đường đặt Trường Châu. Năm tháng bắt đầu
nó nay đã mất. Năm Thiên Bảo thứ nhất (742) đổi làm quận
Văn Dương. Năm Càn Nguyên thứ nhất (758) lại đặt Trường
Châu, gồm bốn huyện Văn Dương, Đồng Thái, Trường Sơn
và Kỳ Thường, đều cùng đặt với châu một lần”.
Cứ
vào báo cáo đó của Cựu đường thư thì Trường Châu rõ
ràng phải rơi vào địa phận những tỉnh Ninh Bình, Nam Định
ngày nay, chứ có thể nào lại ở tại tỉnh Tuyên Quang, như
Cương mục đã có. Bởi vì không những thổ tục của Trường
Châu giống với Ái Châu, mà ngay cả vị trí của chúng cũng
liên tiếp nhau, đấy là Trường Châu ở phía tây nam trị
phủ Giao Châu, trong khi Ái Châu ở phía tây.
(9)
Cựu đường thư 41 tờ 43b8 nói: “Ái Châu, đời Tùy là quận
Cửu Chân. Năm Vũ Đức thứ 5 (622) đặt Ái Châu, gồm bốn
huyện Cửu Chân, Tùng Nguyên, Dương Sơn và An Định”. Đại
nam nhất thống chí 16 tỉnh Thanh Hóa, mục Kiến trí diên cách
nói: “Tỉnh Thanh Hóa, xưa thời Hùng Vương là quận Cửu
Chân, đời Lưỡng Hán nhân theo tên quận cũ thuộc Giao Chỉ.
Đời Ngô năm Nguyên Hưng thứ 1 (264) phân một huyện của
quận Cửu Chân, mà đặt quận Cửu Đức. Đời Tấn và Tống
nhân theo. Đời Nam Tề lúc đầu ở quận Cửu Chân đặt thêm
Cao An, Quân An và Đô Lung mà làm thành 10 huyện. Vua Vũ Đế
lấy quận Cửu Chân làm Ái Châu, và tên Ái Châu bắt đầu
từ đây. Đời Tùy lúc đầu thì gọi Ái Châu, sau đổi tên
gọi là quận Cửu Chân gồm 7 huyện. Đời Đường gọi Ái
Châu gồm huyện Cửu Chân 6 huyện. Đời Minh phân làm đạo.
Đời Lê đổi làm lộ. Đời Lý năm Thuận Thiên thứ 1 (1010)
đổi làm trại, sau cải làm phủ Thanh Hóa... Xem việc ghi thời
Lý Nhân Tông, tên Thanh Hóa bắt đầu từ đây. Đời Trần
năm Thiên Ứng Chính Bình 11 (1242) định làm lộ Thanh Hóa.
Năm Nguyên Phong thứ 3 (1253) đổi làm trại. Trong khoảng Thiệu
Long lại làm lộ gồm sở thuộc ba lộ Thanh Hóa, Cửu Chân
và Ái Châu, sau gọi là trấn... Đời thuộc Minh gọi là phủ
Thanh Hóa. Lê Quang Thuận năm thứ nhất (1460) thuộc đạo Hải
Tây. Năm Quang Thuận thứ 7 (1466) đặt Thanh Hóa thừa tuyên.
Năm thứ 10 (1469) cải làm Thanh Hóa thừa tuyên...Gia Long năm
thứ nhất (1802) triều ta gọi là trấn Thanh Hóa...Năm Thiệu
Trị thứ nhất (1840) cải làm tỉnh Thanh Hóa..”.. Nay là đất
tỉnh Thanh Hóa.