(4a1)
THIỀN UYỂN TẬP ANH NGỮ LỤC
QUYỂN
THƯỢNG
1.
THIỀN SƯ VÔ NGÔN THÔNG (1)
(759?
- 826)
Chùa
Kiến Sơ, làng Phù Đổng, Tiên Du (2). Sư vốn người Quảng
Châu, họ Trịnh, nhỏ đã mộ đạo, không màng gia sản, đến
thọ nghiệp tại chùa Song Lâm ở Vụ Châu (3). Tính tình trầm
hậu, ít nói, im lặng mà biết, rõ hiểu mọi việc một cách
tổng quát. Cho nên, người đương thời gọi là Vô Ngôn Thông*.
Một
hôm vào lúc Sư lễ Phật, có một Thiền khách đến hỏi:
“Tọa chủ lễ cái gì đó?”
Sư
đáp: “Lễ Phật”.
Thiền
khách chỉ tượng Phật hỏi: “Cái này là cái gì?”
Sư
không đáp được. Đêm đó Sư y phục nghiêm chỉnh đến lạy
thiền khách, thưa rằng: “Điều ngài hỏi khi nãy tôi chưa
biết ý chỉ như thế nào?”
Thiền
khách hỏi: “Tọa chủ xuất gia đến nay trải được mấy
hạ?”
Sư
thưa: “Mười hạ”
Thiền
khách hỏi: “Lại từng xuất gia chưa?”
Sư
trở thành hoang mang.
Thiền
khách bảo: “Nếu không hiểu điều đó, thì dù có trăm hạ
cũng chẳng ích gì!”
Rồi
ban đêm Sư cùng đến tham vấn Mã Tổ (5). Đi đến Giang Tây
(6), thì Tổ đã tịch (4b1), bèn đến yết kiến thiền sư
Bách Trượng Hoài Hải (7).
Bấy
giờ có vị tăng hỏi: “Thế nào là pháp môn đốn ngộ
của Đại thừa?”
Bách
Trượng đáp: “Đất lòng nếu không, trời tuệ tự chiếu
(8)”
Nghe
xong Sư tỉnh ngộ.
Trở
về Quảng Châu, trụ trì chùa Hòa An. Có người hỏi: “Thầy
phải là thiền sư chăng?”
Sư
đáp: “Bần đạo không từng học thiền”.
Chặp
lâu, Sư gọi. Người đó đáp: “Dạ”.
Sư
chỉ cây soan. Người đó không trả lời.
Thiền
sư Ngưỡng Sơn (9), khi còn là Sa di. Có lần Sư gọi: “Tịch
con, đem cái giường lại đây cho ta”. Ngưỡng Sơn đem giường
đến. Sư bảo: “Trả lại chỗ cũ”. Ngưỡng Sơn vâng theo.
Sư
lại hỏi: “Tịch, bên này có cái gì?”.
Đáp:
“Không có vật”.
Hỏi:
“Còn bên kia?”
Đáp:
“Không có vật”.
Sư
lại hỏi: “Tịch con!”.
Ngưỡng
Sơn thưa: “Dạ”.
Sư
bảo: “Đi đi”.
Tháng
chín, mùa thu năm Canh Tý Đường Nguyên Hòa thứ 15 (820), Sư
đến trác tích chùa đấy (10). Ngoài việc cơm cháo, vui cái
vui thiền, thường ngồi quay mặt vào vách, chưa từng nói
năng, nhiều năm mà không ai biết. Chỉ có thầy Cảm Thành
chùa đó (5a1) càng tôn kính, hầu hạ hai bên, thầm nấu huyền
cơ, được hết yếu chỉ.
Một hôm Sư không bệnh, tắm rửa, thay y phục, gọi Cảm Thành
đến bảo: “Xưa, Tổ ta là Nam Nhạc Nhượng thiền sư (11),
khi quy tịch, có dạy:
“Tất
cả các pháp
Đều
từ tâm sinh
Tâm
không chỗ sinh
Pháp
không chỗ trụ
Nếu
đạt tâm địa
Chỗ
làm không ngại
Chẳng
gặp thượng căn
Cẩn
thận chớ nói” (12).
Dạy
xong, Sư chắp tay mà mất. Cảm Thành làm lễ trà tì thu xá
lợi (13), dựng tháp tại núi Tiên Du. Bấy giờ là nhằm ngày
12 tháng giêng năm Bính Ngọ Đường Bảo Lịch thứ 2 (826),
thọ sáu mươi tám tuổi (14).
Đến
năm Khai Hựu Đinh Sửu (1337) phàm có 512 năm (15). Thiền học
nước Việt ta bắt đầu từ Sư vậy (16).
Pháp
tự của thiền sư (Vô Ngôn) Thông ở Kiến Sơ.
THẾ
HỆ THỨ NHẤT
(
MỘT NGƯỜI)
2.
THIỀN SƯ CẢM THÀNH
(?-
860)
Chùa
Kiến Sơ, đời thứ 2, Người Tiên Du, họ Thị (1). Ban đầu
Sư (5b1) xuất gia, tên đạo là Lập Đức, ở tại núi Tiên
Du (2) của quận mình. Sư lấy việc đọc kinh làm sự nghiệp.
Có hương hào họ Nguyễn mến Sư đức hạnh cao cả, muốn
đổi nhà làm chùa mời Sư tới ở, bèn đến lấy tình mời
Sư, Sư chẳng chịu nhận. Ban đêm mộng thấy thần nhân mách:
“Nếu theo ý của Nguyễn, thì chẳng mấy năm sẽ được
điều lành lớn”, bèn đáp lại lời mời.*
Chẳng
bao lâu thì thiền sư Vô Ngôn Thông đến. Sư biết Thông là
người phi thường, sớm hôm phục dịch, chưa từng biếng
nhác. Thông cảm động trước lòng thành của Sư, bèn đặt
tên là Cảm Thành. Một hôm, Thông gọi Sư đến dạy: “Xưa,
Đức Thế Tôn vì một nhân duyên lớn, mà xuất hiện ở đời
(3), hóa duyên xong xuôi, ngài vào niết bàn. Chân tâm vi diệu
như thế gọi là chánh pháp nhãn tạng, thật tướng vô tướng,
tam muội pháp môn, chính ngài tự thân trao cho đệ tử là
tôn giả Ma Ha Ca Diếp làm Sơ Tổ (4), đời đời truyền nhau,
đến đại sư Đạt Mạ từ Ấn độ sang, lặn lội hiểm
nguy, để truyền pháp này cho đến Lục Tổ Tào Khê, đắc
pháp với Ngũ Tổ. Khi Đạt Mạ (6a1) mới đến, vì người
đời chưa biết tin, nên lấy sự truyền y để làm rõ việc
đắc pháp. Nay đức tin đã chín muồi, thì y bát là đầu
mối của tranh chấp, phải dừng lại ở nơi ông, không nên
truyền nữa (5). Từ đó, lấy tâm truyền tâm, không nhận
y bát. Bấy giờ Nam Nhạc Nhượng đầu tiên được tâm truyền,
rồi Nhượng trao cho Mã Tổ Nhất, Nhất lại trao cho Bách Trượng
Hải (6). Ta nhờ ở Bách Trượng mà được tâm pháp đó. Lâu
nghe phương này, nhiều người hâm mộ Đại thừa, nên ta xuôi
Nam để tìm thiện tri thức. Nay gặp được ngươi, ấy bởi
duyên xưa, nghe ta nói kệ:
Các
phương đồn đãi
Dối
tự rao truyền
Rằng
thủy tổ ta
Chính
tự Tây Thiên
Truyền
Pháp nhãn tạng
Gọi
đấy là Thiền
Một
hoa năm cánh (7)
Hạt
giống liên miên
Ngầm
hợp mật ngữ
Muôn
vàn có duyên (8)
Tâm
tông đều gọi
Thanh
tịnh bản nhiên
Tây
Thiên đất này
Đất
này Tây Thiên
Xưa
nay nhật nguyệt
Xưa
nay sơn xuyên
Đụng
đâu cũng vướng (9)
Phật
tổ thành oan
Sai
một mảy may
Đi
mất trăm ngàn
Ngươi
khéo xem xét
Chớ
lừa cháu con
Dẫu
có hỏi ta
Ta
vốn Vô Ngôn (10)
(6b1)
Nghe xong lời đó, Sư liền lĩnh ngộ.
Một
lần có vị Tăng hỏi: “Thế nào là Phật?”
Sư
đáp: “Khắp hết mọi
nơi”.
Lại
hỏi: “Thế nào là tâm
Phật?”
Sư
đáp : “Chẳng từng che
dấu”.
Lại
thưa: “Người học không
hiểu”.
Sư
bảo: “Đi quá xa rồi”.
Về
sau, Sư không bệnh mà mất. Bấy giờ là năm Canh Thìn Đường
Hàm Thông thứ nhất (860).
THẾ
HỆ THỨ HAI
(MỘT
NGƯỜI)
3.
THIỀN SƯ THIỆN HỘI
(?-
901)
Chùa
Định Thiền (1) làng Siêu Loại (2). Người Điển Lãnh (3).
Lúc nhỏ xuất gia với sư Tiệm Nguyên chùa Đông Lâm
(4) cùng làng, tự gọi là Tổ Phong. Sư rảo khắp cõi ngoài,
cầu học Thiền chỉ. Sau gặp Cảm Thành chùa Kiến Sơ, bèn
xin ở lại hầu hạ hơn mười năm, không chút vẻ mệt. Một
hôm Sư vào thất hỏi: “Trong kinh (5) nói:” Đức Thích Ca
Như Lai, nhân địa tu hành trải qua ba a tăng kỳ kiếp mới
được thành Phật” (6). Nay Đại đức lại luôn luôn bảo:
“Tức tâm tức Phật”. Tôi thật chưa hiểu, xin một phen
khai thị cho”.
(7a1)
Thành hỏi: “Trong kinh đó là người nào nói?”
Sư
thưa: “Há chẳng phải Phật nói sao?”.
(7a1)
Thành hỏi: “Nếu là Phật nói thì tại sao trong kinh Văn Thù
bảo: “Ta ở đời 49 năm, chưa từng nói một chữ cho ai”.
(7) Vả lại cổ đức nói: “Người tìm văn lấyng thì thêm
vướng mắt. Người khổ hạnh cầu Phật thì đều lầm mê.
Lìa tâm cầu Phật là ngoại đạo. Chấp tâm tức Phật là
ma”. (8)
Sư
hỏi: “Như vậy tâm nầy là cái gì? Cái chẳng phải Phật
là gì?”.
Sư
tiếp: “Như vậy tâm nầy là Phật gì?”
Thành
đáp: “Xưa có người ở Mã Tổ hỏi: “Tâm tức là Phật,
cái nào là Phật?” Mã Tổ dạy: “Ông nghi cái nào không
phải là Phật hãy chỉ ra xem?”. Người ấy không trả lời.
Tổ dạy: “Hiểu được khắp nơi có, không ngộ mãi xa sai”
(9). Chỉ một câu thoại đầu nầy, ngươi lại hiểu chưa?”.
Nghe
lời đó xong, Sư thưa: “Con đã hiểu rồi”.
Thành
hỏi: “Ngươi hiểu thế nào?”.
Sư
thưa: “Khắp cả mọi nơi, không chỗ nào là chẳng phải
tâm Phật”.
Sư
liền sụp xuống lạy.
Thành
bảo: “Cần (7b1) phải làm thế a?”
Nhân
đó đặt tên là Thiện Hội. Về sau, Sư mất tại chùa mình,
tức năm Canh Thân Đường Quang Hóa thứ 3 (900).
THẾ
HỆ THỨ BA
(MỘT
NGƯỜI)
4.
THIỀN SƯ VÂN PHONG
(?
- 957)[20]
Chùa
Khai Quốc (1), kinh đô Thăng Long, người Từ Liêm, quận Vĩnh
Khương (2), họ Nguyễn. Khi mẹ mang thai, bà ăn chay, tụng kinh,
lúc sinh có ánh sáng lạ chiếu khắp nhà. Cha mẹ thấy điềm
lạ, nên hứa cho xuất gia. Lớn lên, Sư theo hầu Thiện Hội
ở Siêu Loại làm đệ tử nhập thất (3), lặng nắm huyền
chỉ, thiền học ngày thêm. Hội có lần bảo Sư: “Sống
chết là việc lớn, cần phải giải quyết ngay”.
Sư
hỏi: “Khi sống chết đến, làm sao tránh khỏi?”
Hội
đáp: “Hãy nắm lấy chỗ không sống chết mà tránh”.
Sư
hỏi: “Thế nào là chỗ không sống chết?”.
Hội
đáp: “Ngay trong sống chết biết nắm lấy nó mới được”.
Sư
hỏi: “Làm sao mà biết?”.
Hội
đáp: “Ngươi hãy đi, chiều muộn sẽ đến”.
Sư
bèn (8a1) quả đến, như đã hẹn, Hội bảo: “Đợi đến
sáng mai mọi người sẽ chứng minh cho ngươi”.
Sư
hoát nhiên tỉnh ngộ, liền sụp lạy.
Hội
hỏi: “Ngươi thấy đạo lý gì?”
Sư
thưa: “Con đã lĩnh hội”.
Hội
hỏi: “Ngươi hiểu thế nào?”.
Sư
đưa nắm tay lên, thưa: “Bất tiếu là cái này đây”.
Hội
liền bảo thôi.
Về
sau, Sư mất vào năm Bính Thìn Hậu Chu Hiển Đức thứ 3 (950).
THẾ
HỆ THỨ TƯ
(HAI
NGƯỜI, MỘT NGƯỜI KHUYẾT)
5.
ĐẠI SƯ KHUÔNG VIỆT [21]
(930-1011)
Chùa
Phật Đà, hương Cát Lợi, Thường Lạc (1). Người Cát Lợi,
họ Ngô, thuộc dòng dõi Ngô Thuận Đế. Tướng mạo khôi
ngô, chí chuộng phóng khoáng, nhỏ theo học Nho, lớn lên quy
y Phật. Sư cùng bạn học Trụ Trì đến Vân Phong chùa Khai
Quốc, thọ giới Cụ túc (2). Từ đó, Sư đọc khắp sách
Phật, tìm hiểu yếu chỉ của Thiền. Năm bốn mươi tuổi,
tiếng vang tới triều, vua Đinh Tiên Hoàng mời đến, Sư đối
đáp hiệp ý vua, bèn phong làm Tăng thống (3). Năm Thái Bình
thứ hai (971), vua ban hiệu Khuông Việt đại sư (4).
Hoàng
đế Lê Đại Hành càng kính trọng Sư hơn, phàm việc quân,
việc nước ở triều đình, Sư đều dự vào.
Một
lần Sư đi chơi núi Vệ Linh (5) ở quận Bình Lỗ, (6) thích
phong cảnh vắng đẹp, bèn muốn lập am để ở. Đêm tới
nằm mộng thấy một vị thần, mình mặc áo giáp vàng, tay
trái cầm thương vàng, tay phải đỡ bảo tháp, hơn mười
người theo hầu, tướng mạo dễ sợ, đến nói rằng: “Ta
là Tỳ Sa Môn thiên vương (7), những người theo ta là Dạ
xoa (7). Thiên đế (7) có sắc sai ta đến nước này để giữẵ
gìn biên giới, khiến cho Phật pháp thịnh hành. Ta có duyên
với ông, nên đến đây báo cho biết”. Sư kinh ngạc thức
dậy, nghe trong núi có tiếng kêu la ầm ĩ, lòng rất lấy làm
lạ. Đến sáng Sư vào núi, thấy một cây to, cao khoảng mười
trượng, cành lá sum sê, bên trên lại có mây lành bao phủ,
nhân đó sai thợ đến chặt. Đem về, khắc tượng như đã
thấy trong mộng, để thờ.
Năm
Thiên Phúc thứ 1 (980), binh Tống đến cướp. Vua vốn biết
việc đó, liền sai Sư đến đền cầu đảo. Quân giặc kinh
hãi, rút về giữ sông Hữu Ninh (8), lại thấy sóng gió nổi
lên, giao long nhảy nhót, giặc bèn (9a1) tan vỡ (9).
Năm
Thiên Phúc thứ 7 (986), người Tống là Nguyễn Giác sang sứ.
Bấy giờ Pháp sư Đỗ Thuận cũng nổi danh. Vua sai Pháp sư
đổi áo làm giang lệnh, đón Giác ở Giang Khúc. Giác thấy
sư giỏi bàn văn chương, bèn đem thơ tặng, có câu: “Ngoài
trời lại có trời soi rạng”. Vua đưa hỏi Sư. Sư thưa rằng:
“Đây nó tôn kính Bệ hạ cùng với chúa nó không khác”.
Khi Giác trở về, Sư làm một bài từ nhan đề Vương lang
qui (10), để tiễn đưa. Bài từ như sau:
Trời
lành gió thuận, gấm buồm dương
Thần
tiên về đế hương
Muôn tầng vạn dặm vượt trùng dương
Đường về thẳm chín tầng
Tình lưu luyến chén lên đường
Bịn rịn sứ tinh lang
Nguyện
đem thâm ý vì Nam bang
Phân minh tâu thánh hoàng (11).
Sau,
Sư lấy cớ già yếu, xin từ quan về núi Du Hý ở quận mình
(12), lập chùa trụ trì; người học tìm tới đông đảo.
Một hôm, đệ tử nhập thất là Đa Bảo hỏi: “Thế nào
là chung thủy của sự học đạo”.
Sư
đáp: “Thủy chung không vật, diệu hư không
Hiểu được chân như , thể tự đồng”.
Bảo
tiếp: “Làm sao giữ được?”.
Sư
đáp: “Không có chỗ cho người xuống tay”.
(9b1)
Bảo lại hỏi: “Hòa thượng nói xong rồi?”.
Sư
nói: “Ông làm sao hiểu”.
Bảo
bèn hét lên.
Ngày
15 tháng 2 năm Thuận Thiên thứ 2 (1011) triều Lý, khi sắp cáo
tịch, Sư dạy Đa Bảo bài kệ:
Trong cây vốn có lửa
Có lửa, lửa mới bừng
Nếu bảo vốn không lửa
Cọ xát do đâu bùng.
Nói kệ xong, Sư ngồi kiết già mà mất, thọ 82 tuổi[22] (13).
THẾ
HỆ THỨ NĂM
(HAI
NGƯỜI, KHUYẾT MỘT)
6.
THIỀN SƯ ĐA BẢO
Chùa
Kiến Sơ, làng Phù Đổng, Tiên Du. Không biết người đâu,
và cũng không biết họ gì. Khi đại sư Khuông Việt giảng
dạy tại chùa Khai Quốc, Sư đến tham học. Đại sư khen là
người gặp việc thì chóng hiểu, xử sự cẩn thận, nên
riêng cho nhập thất.
Sau
khi đắc pháp, Sư chỉ một bình một bát, tiêu dao ngoài vật.
Sau được chùa Kiến Sơ, bèn đến ở đó. Lý Thái Tổ lúc
chưa lên ngôi, Sư thấy tướng mạo anh tuấn khác thường,
bèn bảo “chú này cốt tướng khác phàm, ngày kia làm vua
ắt là nó đây”. Vua cả kinh, thưa: “Hiện nay (10a1) đức
thánh thượng anh minh còn đó, trong ngoài cả nước an vui,
Thầy ta sao lại nói lời phải tội tru di nầy?”.
Sư
bảo: “Mệnh trời đã định, người dù muốn trốn cũng
chẳng được nào. Giả như lời này mà đúng, thì mong chớ
bỏ nhau”.
Khi
Vua lên ngôi, nhiều lần triệu Sư vào cung, hỏi bàn yếu chỉ
của Thiền và lễ Sư rất hậu. Cả đến công việc chính
trị của triều đình, Sư đều dự phần giải quyết. Vua
xuống chiếu trùng tu chùa Sư (1). Sau không biết Sư tịch ở
đâu.
THẾ
HỆ THỨ SÁU
(BA
NGƯỜI, MỘT NGƯỜI KHUYẾT LỤC)
6.
TRƯỞNG LÃO ĐỊNG HƯƠNG
(?-1051)
Chùa
Cảm Ứng, Ba Sơn (1), phủ Thiên Đức (2), Sư họ Lã, người
Châu Minh (3), gia thế dòng tịnh hạnh. Thuở nhỏ thọ giáo
với thiền sư Đa Bảo tại chùa Kiến Sơ. Trải qua 24 năm,
môn đồ của Bảo hơn trăm người, chỉ có Sư cùng với Quốc
Bảo Hòa được chọn đứng đầu, nhưng Sư rất được tôn
chỉ của Bảo.
Một
hôm Sư hỏi Bảo: “Làm thế nào được thấy chân tâm?”
Bảo
dạy: “Chính ngươi tự phát hiện”.
Sư
bỗng nhiên hiểu được yếu chỉ, liền thưa: “Hết thảy
đều như thế, chứ có riêng gì tôi”.
Bảo
hỏi: “Ngươi đã hiểu chưa?”
Sư
đáp: “Khi đệ tử hiểu rồi, cũng giống như lúc không hiểu”
(4).
Bảo
dạy: “Nên đem tâm đó mà quyết chắc”.
Sư
bưng tai, đứng quay lưng lại. Bảo liền quát “Đi”. Sư
sụp lạy.
Bảo
dạy: “Từ nay ngươi hãy như một kẻ đui điếc trong việc
tiếp người”.
Đô
tướng thành hoàng sứ là Nguyễn Tuân khâm phục tài đức
của Sư, nên mời về chùa đó ở. Người học vân tập, dạy
dỗ dắt dìu, công Sư không ít.
Ngày
mồng 3 tháng 3 năm Canh Dần (5) Sùng Hưng Đại Bảo thứ 2
(1050) triều Lý Thái Tông, Sư nhuốm bịnh, họp chúng để
từ biệt, đọc kệ :
“Bản
lai không xứ sở (6)
Xứ
sở ấy chân tông
Chân
tông huyễn như vậy
Huyễn
hữu tức không không” (7).
Nói
kệ xong, Sư lặng lẽ viên tịch.
8.
THIỀN SƯ THIỀN LÃO (1)
Chùa
Trùng Minh, núi Thiên Phúc, (2) Tiên Du. Ban đầu Sư đến tham
bái Đa Bảo tại chùa Kiến Sơ, hiểu được tâm yếu rồi
đến trác tích tại núi ấy (3). Gió thiền ngày càng nổi,
kẻ học hàng nghìn, đông đảo làm cho tòng lâm thịnh vượng.
Vào
khoảng Thông Thụy (1034- 1038), Lý Thái Tông có lần đến (11a1)
chùa và hỏi Sư rằng: ”Hòa thượng ở núi này đến nay
được bao lâu?”.
Sư
đáp: “Chỉ biết tháng ngày nay
Ai hay xuân thu trước” (4).
Vua
hỏi: “Hàng ngày làm việc gì?”
Sư
đáp: “Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh ngoại (5)
Trăng trong mây bạc hiện toàn chân”.
Vua
hỏi: “Có ý chỉ gì?”
Sư
đáp: “Lắm lời không ích về sau”.
Vua
hoát nhiên như có sở đắc.
Khi
sắp sai sứ rước Sư về triều làm cố vấn, thì Sư đã
viên tịch trước đó (6). Vua rất buồn tiếc, làm thơ thương
viếng sai trung sứ ban nhiều lễ hậu, lập đàn trà tỳ, thu
linh cốt, xây tháp ở cửa núi, lại sửa sang rộng rãi chùa
Sư, đặt môn đồ lo việc hương hỏa.
THẾ
HỆ THỨ BẢY
(BẢY
NGƯỜI, KHUYẾT MỘT)
9.
THIỀN SƯ VIÊN CHIẾU
(999-1090)
Chùa
Cát Tường, kinh đô Thăng Long, Sư họ Mai, tên Trực, người
Long Đàm (1) Phúc Đường (2), là con anh bà Linh Cảm thái hậu
nhà Lý (3). Thuở nhỏ thông minh hiếu học, nghe đồn vị trưởng
lão tại chùa Mật Nghiêm (4) quận mình xem tướng giỏi, bèn
đến xem thử cho biết. Vị trưởng lão nhìn kỹ (11a1) rồi
bảo: “Ngươi có duyên với Phật pháp, nếu xuất gia sẽ
là người trong hàng thiện Bồ tát, bằng không thì việc thọ
yểu khó bảo đảm”. Sư cảm ngộ, giã từ cha mẹ, đến
núi Ba Tiêu theo học với Định Hương, hầu hạ nhiều năm,
nghiên cứu Thiền học. Sư thường trì kinh Viên giác, rõ được
phép Tam quán (5). Một tối trong lúc thiền định, Sư thấy
Bồ tát Văn Thù cầm dao mổ bụng, rửa ruột rồi dùng thuốc
rịt lại. Từ ấy, những gì đã học trong lòng, trở thành
rõ ràng như từng biết (6), chứng sâu ngôn ngữ tam muội,
(7) thuyết giảng lưu loát. Sau đó, Sư đến bên tả kinh thành
dựng chùa để ở. Người học đổ về như rừng.
Có
tăng hỏi: “Phật với Thánh, nghĩa nó thế nào?”.
Sư
đáp: “Cúc trùng dương dưới dậu
Oanh thục khí đầu cành (8)".
Lại
hỏi: “Cảm ơn, nhưng người học này không hiểu, xin thầy
dạy lại”.
Sư
đáp:
“Ngày thì ác vàng dọi
Đêm đến thỏ bạc soi”.
Tăng
lại hỏi: “Chân ý thầy đã rõ máy huyền phải tỏ thế
nào?”.
Sư
đáp:
“Bưng chậu nước đầy đi bất cẩn
Một phen vấp ngã hối mà chi?”.
Vị
tăng nói: “Cảm ơn thầy”.
Sư
chỉ nói:
“Sóng sông chìm chớ tát
(12 a1) Đem mình tự đắm thôi”.
Lại
hỏi: “Thiếu Thất, Ma Kiệt rất huyền, từ xưa đến nay,
ai nối nhau làm chủ?” (9).
Sư
đáp:
“Sáng tối tượng trời do quạ thỏ
Lõm lồi hình đất nọ núi sông” (10).
Lại
hỏi: “Thế nào là
căn nguyên đại đạo thẳng đường đi?”.
Sư
đáp: “Gió lộng bờ
cao hay cỏ cứng
Nhà tan nước mất biết trung lương” (11).
Lại
hỏi: “Tất cả chúng sanh
từ đâu mà đến? Trăm năm sau sẽ về đâu?”.
Sư
đáp: “Rùa đui
chui vách đá
Trạch què bò núi cao”.
Lại
hỏi: “Xanh xanh trúc
biếc thảy chân như (12). Thế nào là dụng của chân như?”.
Sư
đáp: “Tặng anh ngàn
dặm xa,
Cười mang trà một bình (13) ”.
Tăng
thưa: “Đến suông
có ích gì là sao?” (14).
Sư
đáp: “Ai biết
đi Đông a
Nửa đường đầu đã bạc” (15) .
Lại
hỏi: “Dã hiên một
cửa vắng
Thong thả gõ ai hay (16).
Sư
đáp:
“Kim cốc đìu hiu hoa cỏ rối
Mà nay hôm sớm thả trâu dê”.
Tăng
thưa: “Vì sao như vậy?”.
Sư
đáp:
“Giàu sang cùng kiêu thái
Lầu chợ khiến tan hoang” (17).
Lại
hỏi:
“Long nữ (12b1) dâng châu thành Phật quả, đàn na bố thí
phước ra sao” (18).
Sư
đáp:
“Trong trăng quế muôn thuở
Rậm, thưa vẫn một vành”.
Tăng
thưa: “Nhọc mà vô ích là sao?” (19).
Sư
đáp:
“Như gương treo trên trời
Nhân gian soi khắp nơi”.
Lại
hỏi: “Qua sông phải dùng bè
Đến bến hết cần ghe
Khi không qua sông thì sao?” (20).
Sư
đáp:
“Ao khô cá lên cạn
Sống cả vạn năm xuân”.
Tăng
thưa: “Thế nào là “theo dòng mới đạt được Diệu lý?”
(21).
Sư
đáp:
“Nghe nói bạn Kinh Kha
Một đi không trở lại” (22) .
Lại
hỏi:
“Lẫn lộn quặng vàng cùng một chất
Xin
thầy phương tiện luyện tinh ròng” (23)
Sư
đáp:
“Không phải khách Tề quân
Sao biết biển cá lớn!“ (24).
Tăng
thưa:
“Quách quân nếu không nhận
Can gián chẳng làm chi” (25).
Sư
đáp:
“Nếu muốn bưng uống trước
Vẽ rắn khéo hãy thôi” (26).
Lại
hỏi:
“Rắn chết giữa đường
Xin thầy cứu sống” (27).
Sư
đáp:
“Ngươi là người phương nào?”.
Tăng
đáp:
“Vốn người ở núi”.
Sư
dạy:
“Mau về (13a1) non cũ ẩn
Chớ gặp Hứa Chân Quân” (28).
Lại
hỏi:
“Hải tạng mênh mông không nên hỏi
Tào Khê từng giọt nghĩa ra sao?” (29).
Sư
đáp:
“Rừng tùng tiếng gió thê lương thổi,
Mưa tạnh bùn nhơ ngập lối đi”.
Tăng
thưa: “Không khác với ngày nay, là thế nào?”(30)
Sư
đáp:
“Cúc trùng dương dưới giậu
Oanh ngày nắng đầu cành”.
Lại
hỏi:
“Sờ sờ ở khoảng mắt lòng
Rành rành trong chốn sắc thân
Nhưng lý không thể phân
Tướng không thể thấy
Vì sao không thấy được?” (31).
Sư
đáp:
“Trong vườn hoa rực rỡ
Trên bờ cỏ tràn lan”.
Tăng
thưa: “Năm lạnh mầm non rụng
Lấy gì để thưởng công”.
Sư
đáp:
“Mừng cho ông tự rõ
Sung sướng biết chừng nào!”.
Tăng
thưa: “Hôm nay, may nghe giải
Từ đây hết hoang mang”.
Sư
dạy:
“Đắm cạn vừa vớt ra
Ngoảnh đầu đầm muôn trượng”.
Lại
hỏi: “Trong thành niết bàn vẫn còn nguy hiểm (32). Thế nào
là chỗ không nguy hiểm?”.
Sư
đáp:
”Trên rèm che làm tổ
Cành lau xõa tóc maiõõ.
Tăng
thưa: “Nếu gặp lúc cấp bách
Đôi đường xử lẽ nào?”.
(13b1)
Sư đáp: “Trượng phu theo phóng khoáng
Trăng gió hãy vui chơi” (33).
Lại
hỏi: “Hết thảy chúng sanh đều bảo là Phật, lẽ ấy chưa
tường, mong thầy chỉ dạy?”.
Sư
đáp: “Nông trang hãy gắng khuyên anh thế
Đợi thỏ người kia chớ nhọc theo” (34).
Tăng
thưa: “May được thầy chỉ rõ
Trọn chẳng đến ai tìm”.
Sư
dạy: “Khá thương
một lần nghẹn
Ngồi đói trót quên ăn”.
Lại
hỏi: “Bao năm dồn
chứa ngọc trong túi
Tận mặt hôm nay thấy rõ rành (35)”.
Sư
đáp : “Trăng trung
thu chờ mãi
Gặp phải mây mưa xông” (36).
Tăng
thưa: “Tuy nghe thầy
dạy bảo
Lý đó vẫn chưa thông”.
Sư
dạy: “Cười
người suông ôm cột
Chết đuối nhắm giữa dòng!” (37).
Tăng
hỏi:
“Thế nào là một phái?” (38).
Sư
đáp: “Vừa thấy
xuân gieo và hạ lớn
Gặp ngay thu chín với đông thâu”.
Tăng
thưa: “Thành Phật
nhiều thế là sao?”.
Sư
đáp: “Tổ Long thôi
nghĩ chạy
Từ Phúc luống đường xa“ (39).
Tăng
hỏi: “Kiến tính
thành Phật, nghĩa ấy thế nào?”.
Sư
đáp: “Xuân đến
cây khô hoa đua nở
Gió đưa ngàn dặm nức (14a1) hương thần” (40).
Tăng
thưa: “Học nhân không
hiểu, xin thầy dạy lại”.
Sư
đáp: “Muôn năm cây
cà ấy,
Xanh ngát tận chân mây”.
Lại
hỏi: “Ma ni cùng các
sắc
Chẳng hợp chẳng phân ly” (41).
Sư
đáp: “Hoa xuân cùng
bươm bướm
Lúc luyến lúc ruồng nhau”.
Tăng
hỏi:
“Theo người xen lẫn là sao”.
Sư
đáp: “Chẳng phải
mắt Hồ tăng (42)
Uổng công dâng ngọc Biện” (43).
Lại
hỏi: “Thế nào
là chạm mắt là bồ đề?” (44).
Sư
đáp: “Cây cong chim
mãi sợ
Dưa nguội người thổi hoài”.
Tăng
thưa: “Học nhân không hiểu, xin thầy cho ví dụ khác”.
Sư
đáp: “Kẻ điếc
nghe tiếng đàn
Người mù ngắm bóng trăng”.
Lại
hỏi:
“Vốn đã có hình thêm có ảnh
Có lúc ảnh cũng lìa hình sao?”
Sư
đáp: “Trăm sông đổ về đông kìa, muôn dòng đua chảy.
Ngàn
sao chầu Bắc đẩu kìa, thiên cổ quy tâm”.
Lại
hỏi: “Thế nào là một câu tỏ ngộ, vượt muôn ngàn?”
(45).
Sư
đáp: “Xa kẹp Thái sơn qua biển Bắc
Ngửa quăng gậy chống vào cung trăng”.
Lại
hỏi: “Chỉ một sự này thật, (14b1) Còn hai chẳng phải
chân (46) Thế thì, chân là gì?”.
Sư
đáp:
“Gió dễ lay đầu gậy
Mưa thành nẩy trên đường”.
Lại
hỏi:
“Không nhắm Như Lai xin Diệu tạng
Không mong lửa tổ nối đèn chong
Ý chỉ rốt ráo thế nào?”.
Sư
đáp :
“Trời thu lúa xào xạt
Cảnh tuyết mẫu đơn cười”.
Lại
hỏi:
“Thế nào là câu tối diệu?”
Sư
đáp:
“Một người ngoảnh mặt khóc
Cả tiệc uống không vui”.
Lại
hỏi:
“Xưa nay việc lớn xin không hỏi
Điểm lạ Tây lai ý thế nào?” (47).
Sư
đáp :
“Kẻ khéo lời đẹp mặt (48)
Phường đập ngói hong rùa”.
Lại
hỏi: “Tâm, pháp đều
quên, thì tính tức chân (49) Thế nào là chân ?”.
Sư
đáp: “Đàn Bá Nha
gió khua sân trúc (50)
Lệ Nữ Thần mưa rắc hoa non (51).
Lại
hỏi: “Thế nào là
câu tối diệu?”.
Sư
đáp: “Yết hầu còn
mắc nghẹn
Yên ở chẳng vui gì“.
Lại
hỏi: “Có tu có chứng,
khơi bốn bệnh (52)
Ló đầu sao được thoát hồng trần”.
Sư
đáp: “Núi cao chất
ngất dung muôn vật
Biển rộng bao la chứa vạn sông”.
Lại
hỏi: “Chỉ có Phật
với Phật mới biết (15a1) việc đó (53) Thế thì việc đó
là thế nào?”.
Sư
đáp: “Đường hẹp
chi chít trúc
Gió thổi nhạc tự thành”.
Lại
hỏi: “Chẳng cần bình thường, chẳng cần thiên nhiên, chẳng
cần tác dụng, thì nay làm gì đây?”.
Sư
đáp: “Cỏ bồng én
đậu thấp
Biển rộng ẩn cá lân”.
Lại
hỏi: “Tứ đại mang
về từ nhiều kiếp
Xin thầy phương tiện thoát luân hồi”.
Sư
đáp: “Loài thú trên
đời Tê là quý
Nó ăn gai góc mẹp bùn nhơ” (54).
Lại
hỏi: “Mọi thứ thủ, xả đều luân hồi, không thủ không
xả thời thế nào?” (55).
Sư
đáp: “Giềng hồng
đẹp đẽ xưa nay vậy
Có lá sum sê chẳng có hoa”.
Lại
hỏi:
“Dứt hết nói năng ý ấy thế nào?” (56).
Sư
đáp:
“Theo gió tiếng còi luồn bụi trúc
Kèm trăng trái núi quá đầu tường”.
Lại
hỏi:
“Chư Phật thuyết pháp là để giáo hóa mọi loài, nếu hiểu
được bản ý thì gọi là xuất thế, bản ý là gì?”.
Sư
đáp:
“Xuân dệt hoa như gấm
Thu sang lá tựa vàng”.
Lại
hỏi:“Thế nào là một đường nhắm thẳng?”(57)
Sư
(15b1) đáp: “Đ