PHẦN
II
BẢN
DỊCH
THIỀN
UYỂN TẬP ANH
(1a1)
BÀI TỰA IN LẠI THIỀN UYỂN TẬP ANH
Thiền
uyển tập anh, sao dùng nghĩa đó? Xin thưa, dùng sự anh tú
của nó làm nghĩa vậy.
Sao
thế ?
Người
theo thiền tông cố nhiên là nhiều, nhưng kẻ biết lẽ huyền
thật ra lại hiếm; Chính như một con phụng giữa bầy gà,
một cây lan trong đám cỏ. Nếu chẳng phải phú bẩm anh dị,
tri kiến siêu quần, làm sao thấu được ý chỉ huyền vi,
để có thể làm lãnh tụ cho kẻ hậu học và mô thức cho
người đời sau?
Đáng
tin thay! Trong vườn Thiền, người anh kỳ là hiếm, nhân đấy
trích lấy những bậc danh công, thạc đức để làm tỏ sự
tổ thuật của thiền học. Nên cái nghĩa của Tập anh chính
do đó mà có tên.
Kể
từ hỗn độn bắt đầu, bấy giờ có Phật Uy Âm xuất thế
(1), sáng làm tị tổ của thiền tông. Nhưng thời ấy, tục
còn thuần hậu, người nhiều chất phác, kinh giáo ở tại
hư không (1b1), không cần nói ra để làm máy hóa độ. Kẻ
nào lấy ma làm Phật kẻ đó trá ngụy ngày càng sinh, gian
dâm ngày càng dấy, nghiệp nợ kết đầy, chướng tội thêm
thẳm. Nếu chẳng dùng đến thuyền từ cứu vớt, thì chẳng
thể được.
Cho
nên cha cả Thích Ca xuất hiện ở Ta bà (2), vì họ mà nói
ra kinh kệ, dạy dỗ chúng sanh, chín kiếp vượt tu (3), công
thành quả mãn. Do thế, Phật giáo đại hành, thiền tông tiếp
nối, như gió thổi qua sáu nẻo (4), để đem mát lành, tuyết
rơi trên ba đường (5) để dẹp nóng dữ. Bí quyết thành
Phật làm Tổ, từ đó mới mở được mối manh.
Nước
Đại Việt ta, lời Phật thấm nhuần khắp cả, mưa pháp sóng
gội nhiều nơi, cắt tóc xuất gia, chứng ấn ngộ không thì
cũng có người. Về hành tích, lòng thiền họ sáng như mặt
trời, gương đạo trong như băng giá. Có người ra đời để
giúp nước an dân, có kẻ nhập thế để đỡ ngã, vớt chìm.
Có người sớm ngộ ấn tâm, chống gậy làm thần diệu cơ
mầu của Đạt Mạï (6) (2a1). Có kẻ muộn vào cửa thiền,
chú sen (7) khiến hiển hiện bí quyết của Đồ Trừng. Còn
những kẻ, chim rừng chuộng niềm đức, nghe kinh trong cửa,
dã thú mến lòng nhân, cửa bếp dâng cơm. Đó là lòng thành
cảm cách đã hiệp, chỗ học thần hóa được xong, há chẳng
là sự mầu nhiệm của bốn mắt nhìn nhau ư! Thật đã đủ
để làm bậc anh tú trong vườn thiền vậy.
Ôi!
Phật đạo chí huyền, mà lòng lại huyền ở trong huyền.
(8) Phật đạo rất lớn mà lòng lại lớn ở trong lớn. Lòng
ư! Lòng ư! Nó là cái chủ tể của sự tu đạo ư!
Một
sách Thiền uyển này, bắt đầu từ việc thiền sư Vô Ngôn
Thông truyền đạo, đèn đèn nối nhau, ánh ánh huy hoàng, song
rút gọn lời dài, làm ngắn chuyện rộng thì cũng đều cái
lòng ấy là Chánh giác vô thượng vậy. Xét nguyên do nó, nếu
chẳng phải gột rửa sáu trần, rời bỏ bốn tướng (9) mà
có thể được như thế sao ?
Tôi
ròng học sách Nho, xem (2b1) thêm kinh Phật, xét về lý hữu
vô của chúng, tuy nói là hai đường, nhưng khảo về chỗ
quy kỉnh thì tợ cùng một lẽ. Nhân khi rảnh rỗi giảng dạy
ở trường (10), gặp một bạn thiền đến bàn lời Phật,
đối thoại hồi lâu, là những vấn đề lông rùa sừng thỏ.
Y nhân đó lấy ra từ trong tay áo, có Tập anh một tập nhờ
tôi chỉnh cú, để tiện in lại, nhằm khỏi sai lầm. Tôi
xem trong sách ấy có nhiều cao thiền, danh tổ, học tu hết
sức, chứng ngộ rất thiêng, bất giác trong lòng vừa kính
vừa phục. Họ bàn không, nói giác, đấy đương nhiên không
phải nằm trong phần việc của tôi.
Nhưng
kinh Dịch có nói: “Trẻ nhỏ cầu ta” (11). Cho nên, tôi không
thể không theo lời xin của Y để sửa lại những chữ thiếu
và mất, thêm vào những chỗ sót và thoát lạc. Trong khoảng
tuần nhật, lời văn nghĩa lý của sách này rõ ràng trở lại
như xưa, không kém gì ánh trăng thêm sáng. Y nhân đó xin tôi
một bài tựa dùng để khắc vào đầu sách, nhằm hiển dương
Phật giáo (3a1). Tôi không tiếc công, cho gọi đứa ở đến
trước mặt, bảo lấy bút giấy, chuẩn bị viết lách, rồi
thảo một thiên lời quê. Y nhân đó vái chào mà nhận. Cẩn
tự.
In
lại vào ngày tốt tháng tư năm Lê Vĩnh Thạnh thứ 11 (1715).
(3b1)
Thác tích của thiền tông: Thích tử Như Trí
Môn
đồ:
Sa
di Tính Nhu
Thiện
nam tử Tính Phận
Tính
Xuyến
Tính
Thành
Tính
Trung
Tính
Từ
Tính
Huy
Tính
Hưng
Tính
Kiến
Tính
Minh
Tính
Bổn
Tính
Băng
Tính
Phụng
Thiện
nữ nhân: hiệu Diệu Tặng
hiệu
Diệu Đạo
Tính
Phụng