V.
VẤN ĐỀ HIỆU BẢN, PHIÊN DỊCH
VÀ
CHÚ THÍCH
Trong
khi bàn về vấn đề truyền bản, chúng tôi đã vạch ra là
giữa ba truyền bản hiện còn lưu hành, đấy là bản đời
Lê I, bản đời Lê II và truyền bản đời Nguyễn, thì bản
đời Lê I có nhiều ưu điểm vượt hẳn lên so với bản
đờ Lê II và bản đời Nguyễn, đáng được chấp nhận làm
bản đáy cho bản dịch của chúng tôi. Tuy nhiên, bản đời
Lê I này vẫn còn chứa đựng những sai lầm và thiếu sót.
Do thế, để thực một hiện bản dịch nghiêm chỉnh và đầy
đủ, chúng tôi đã hiệu đối bản đáy đó với bản đời
Lê II và bản đời Nguyễn cũng như trích từ truyền bản
đời Trần trong Lĩnh nam chích quái, bản đời Hồ trong An
nam chí nguyên và tham khảo thêm những sách sử khác, khi cần
thiết, mà hầu hết, đều có ghi lại và giải thích trong
phần chú thích, trừ một số rất ít chúng tôi đã hiệu
lại theo cách của chúng tôi.
Trong hiệu bản này, dấu * đi với chữ nào là muốn chỉ
chữ đó sau đấy vẫn tiếp tục được hiệu như thế. Còn
những chữ viết tắt thì có ý nghĩa như sau:
Al
= An nam chí lược
An
= An nam chí nguyên
Đ
= Đại Việt sử lược
H
= Đại phương quảng Phật
hoa nghiêm kinh
Ty
= Truyền đăng lục
L
= Lĩnh nam chích quái truyện
T
= Đại Việt Sử ký toàn
thư
Tr
= Trần thư
V
= Việt sử tiêu án
Về
phương pháp phiên dịch, chúng tôi cố gắng dịch sát theo
hiệu bản chúng tôi về cả văn xuôi lẫn văn vần. Về văn
vần thì chúng tôi giữ đúng tể thơ và số chữ của nguyên
bản trong khi dịch. Trong phần dịch nếu có chú thích dấu
hoa thị * ở cuối trang thì đó là nguyên chú của Thiền uyển
tập anh.
Về
chú thích, chúng tôi nhắm vào những mục đích sau.
§
Một là, để đính chính, khảo chính bản văn, nhằm giải
thích những sai lầm trong nguyên bản.
§
Hai là, để giúp cho những người nghiên cứu ở những bộ
môn khác nhau sử dụng Thiền uyển tập anh có những tư liệu
liên quan tới những điểm họ muốn khảo cứu trong tác phẩm
đây. Điểm này, chúng tôi muốn nhắm tới trước hết những
người nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam và lịch sử
Phật giáo Việt Nam, để họ có những tư liệu nhằm phát
hiện những nét dị biệt giữa Phật giáo cùng tư tưởng
nước ta và Phật giáo cùng tư tưởng Trung Quốc. Ngoài ra
nhằm bổ sung một số kiến thức mới về lịch sử dân tộc
ta, chúng tôi cố gắng thu thập một số tài kiệu khác có
liên quan tới các vị thiền sư trong Thiền uyển tập anh.
Thí dụ những văn kiện ngoại giao mà vua Lê Đại Hành gởi
cho vua Tống mà theo tác giả Thiền uyển tập anh thì có thể
chính bản thân thiền sư Pháp Thuận đã thảo ra. Cũng như
chúng tôi chú thích rõ và xác định tại sao bài từ đầu
tiên của văn học cũng như ngoại giao của nước ta là gồm
bao nhiêu chữ cấu trúc từ pháp như thế nào, nhờ nghiên
cứu điệu từ Nguyễn lang quy của đời Tống bên Trung Quốc.