|
c
TỔNG
TẬP VĂN HỌC PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Lê
Mạnh Thát
Viện
Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam
716
Nguyễn Kiệm, Q. Phú Nhuận, Sài Gòn
II.
VẤN ĐỀ TÊN GỌI
Ba
truyền bản hiện lưu hành, đấy là truyền bản đời Lê
I, đời Lê II và truyền bản đời Nguyễn, mang những tên
gọi khác nhau về Thiền uyển tập anh. Truyền bản đời Nguyễn
thì gọi Đại nam thiền uyển truyền đăng tập lục ở tờ
1a1, hay Đại nam thiền uyển truyền đăng ở tờ 65a10 và Thiền
uyển Truyền đăng lục ở gáy từ tờ 1 đến tờ 65. Điều
này không có nghĩa người đứng in truyền bản đời Nguyễn,
tức An Thiền không biết đến tên Thiền uyển tập anh đâu.
Chính Đạo giáo nguyên lưu quyển thượng tờ 5a4, một tác
phẩm của Thiền, đã liệt Thiền uyển tập anh lục một
(quyển) giữa những bản gỗ tàng trữ tại các chùa chiền
miền Bắc nước ta vào thế kỷ thứ XIX. Như vậy, “bản
gỗ cũ chùa Tiêu Sơn”, mà Thiền dùng để in ra quyển thượng
của bộ Đại nam thiền uyển truyền đăng tập lục, cứ
vào ghi chép vừa dẫn của Đạo giáo nguyên lưu, phải có
tên là Thiền uyển tập anh lục. Và chính lời tựa San khắc
truyền đăng thủ Trần gia bản tờ 1b4-5, Thiền đã nói thẳng
ra tên sách mình dùng cho việc in ra quyển thượng đó là Thiền
uyển tập anh, bởi vì Thiền viết: “Kịp đến nước ta
thì xưa có Thiền uyển làm lục, Tập anh làm tên, ghi lấy
cao tăng thạc đức của ba triều trình sơ nét chính”. Do
thế, mặc dù truyền bản đời Nguyễn ngày nay xuất hiện
dưới tên Đại nam thiền uyển truyền đăng tập lục, hay
Đại nam thiền uyển truyền đăng, hay Thiền uyển Truyền
đăng lục, ta biết chắc chắn là tự nguyên ủy nó vẫn có
tên Thiền uyển tập anh.
Về
truyền bản đời Lê I và Lê II, trong bảy lần nó nhắc tới
tên sách ở những tờ 1a1, 4a1, 26a1, 44a1, 61a1, 71b1, và 72b11
thì sáu lần là đã có tên Thiền uyển tập anh. Chỉ trừ
một lần ở tờ 4a1, nó thêm hai chữ “ngữ lục” ở sau
thành Thiền uyển tập anh ngữ lục. Bản chất của Thiền
uyển tập anh, tuy có chứa đựng ngữ lục, nhưng không phải
là một tác phẩm thuần túy thuộc loại ngữ lục. Thực tế
mà nói, nó có những truyện không chứa đựng một ngữ lục
nào hết. Truyện Pháp Thuận, truyện Ma Ha thuộc dòng thiền
Pháp Vân là những thí dụ. Có lẽ vì nhận ra sự trạng đó,
nên người hiệu đính và viết tựa cho bản in năm 1715 đã
không ngần ngại nêu ngay cái tên Thiền uyển tập anh, mà
giải thích ý nghĩa và đã không một lời đề cập xa gần
gì tới ngữ lục cả. Hơn nữa, cứ vào số lần xuất hiện
của nó thì Thiền uyển tập anh chắc chắn là tên của tác
phẩm từ nguyên ủy, nhất là khi ta biết chúng là khởi đầu
cho những quyển khác nhau theo truyền bản sáu quyển. Chúng
tôi vì vậy nghĩ rằng chữ “ngữ lục” là một thêm thắt
vào thời Lê dưới ảnh hưởng của quan niệm, theo đó thì
mỗi khi nói đến tác phẩm của các vị thiền sư, người
ta phải đề cập tới ngữ lục. Và tên nguyên ủy của tác
phẩm chúng ta nghiên cứu đây là Thiền uyển tập anh.
Tên
đó từ thế kỷ thứ XV đã được Nguyễn Văn Chất (1422-?)
dẫn ra trong phần Tục tập của Việt điện u linh tập tờ
42, mà sau này một “Nho sĩ họ Đoàn” thuộc thế kỷ thứ
XVI đã sao lại vào trong quyển thứ ba của Lĩnh nam chích quái
truyện tờ 115. Qua thế kỷ thứ XVIII, ngoài bản in năm 1715,
Lê Quý Đôn là người sử dụng nhiều nhất Thiền uyển tập
anh và đã gọi nó bằng chính cái tên đó trong Đại việt
thông sử cũng như trong Kiến văn tiểu lục 4 tờ 12b8. Đến
Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, phần
Văn tịch chí chỉ ghi lại Thiền uyển tập thôi, trong khi
“bản gỗ cũ của chùa Tiêu Sơn” cũng như Đạo giáo nguyên
lưu quyển thượng tờ 5a4 đều chép tên Thiền uyển tập
anh lục. Cái tên Thiền uyển tập anh có một lai lịch xa xưa
và thống nhất như thế. Do đó, chúng tôi đề nghị chúng
ta gọi tên tác phẩm mang những đề danh khác nhau trên bằng
cái tên Thiền uyển tập anh thống nhất vừa nêu.

|