MỤC
LỤC
Lời
nói đầu
Tựa.
PHẦN
I
[01-0]
Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh
[01-1]
I. Vấn đề truyền bản
1.
Truyền bản đời Trần
2.
Truyền bản đời Hồ
3.
Truyền bản 6 quyển
4.
Truyền bản đời Lê sơ
5.
Truyền bản đời Lê I
6.
Truyền bản đời Lê II
7.
Truyền bản đời Nguyễn
8.
Bản chép tay A.2767
9.
Vấn đề chọn lựa truyền bản.
[01-2]
II. Vấn đề tên gọi.
[01-3]
III.Vấn đề soạn niên và tác giả
1.
Là một tác phẩm đời Trần
2.
Viết vào năm 1337
3.
Vấn đề tác giả Thiền uyển tập anh
[01-4]
IV. Nguồn sử liệu và phương pháp viết sử
1.
Những nguồn sử liệu cơ sở
2.
Những nguồn sử liệu phụ
3.
Phương pháp viết sử
[01-5]
V. Vấn đề hiệu bản, phiên dịch và chú thích
Bảng
hiệu đối
PHẦN
II
[02-0]
Bản dịch Thiền uyển tập anh
Bài
tựa in lại Thiền uyển tập anh
[02-1]
Thiền uyển tập anh ngữ lục quyển thượng
[02-2]
Thiền
uyển tập anh ngữ lục quyển hạ
PHẦN
III
[03-0]-[03-8]
Chú thích Thiền uyển tập anh
PHẦN
IV
[04]Phụ
lục:
1.
Trích văn bản đời Trần
2.
Trích văn bản đời Hồ
3.
Trích văn bản đời Lê sơ
4.
Thiền uyển tập anh bạt hậu
PHẦN
V
[05]
Thư mục chú thích
PHẦN
VI
Sách
dẫn
PHẦN
VII
Nguyên
bản Hán văn
LỜI
NÓI ĐẦU
Tổng
tập Văn học Phật giáo Việt Nam 3 dành trọn quyển cho việc
in lại tác phẩm Thiền uyển tập anh cùng phần nghiên cứu,
bản dịch và chú thích của chúng tôi, mà trước đây đã
từng được xuất bản. Việc dành tập 3 cho Thiền uyển tập
anh này tất nhiên không đáp ứng hoàn toàn tiêu chí sắp xếp
do chúng tôi đã đề ra trong Tổng tập 1, đó là “sắp xếp
các tác phẩm Văn học Phật giáo Việt Nam theo niên đại ra
đời của các tác gia, tác phẩm từ khi Phật giáo truyền
vào nươc ta cho đến thế kỷ XX”.
Lý
do nằm ở chỗ Thiền uyển tập anh ra đời sớm lắm thì
cũng từ năm 1337, tức là sau các tác giả như Trần Thái Tông,
Tuệ Trung, Trần Nhân Tông v.v… rất nhiều, mà phần lớn
thuộc vào thế kỷ thứ XIII. Thêm vào đó, nếu chấp nhận
giả thiết của chúng tôi về tác giả Thiền uyển tập anh
là thiền sư Kim Sơn, thì niên đại càng muộn màng hơn nữa,
vì Kim Sơn phải sống cho tới lúc vua Trần Minh Tông mất vào
năm 1357.
Tuy
thế, vì Thiền uyển tập anh là một tác phẩm tập hợp các
tư liệu liên hệ với giai đoạn Phật giáo từ khi Sáu lá
thư ra đời cho đến lúc vua Trần Thái Tông lên ngôi. Cho nên,
về một mặt nào đó, ta có thể coi Thiền uyển tập anh như
một đại biểu cho văn học Phật giáo Việt Nam của giai đoạn
ấy. Đó là nguyên do tại sao chúng tôi đã đưa Thiền uyển
tập anh vào Tổng tập 3 này.
Trong
lần in lại đây, chúng tôi cho bổ sung một số dữ kiện
mới phát hiện được. Thứ nhất, về người đứng in bản
in 1715 là thiền sư Như Trí, chúng tôi đã thu thập được
một số thông tin về vị thiền sư này cùng những người
đệ tử của ông, mà trước đây chưa có. Đó là Tiêu Sơn
Thiên Tâm tự cúng tổ khoa, trong ấy ta tìm thấy thiền sư
Như Trí được kể ra như một vị trú trì của chùa Thiên
Tâm tại Tiêu Sơn.
Tên
của thiền sư Như Trí này cũng được kết liên với thiền
sư Như Trúc (1691-1735) và được coi là thầy của Như Trúc.
Tiểu sử của Như Trúc khắc trên tháp Tâm Hoa tại chùa Bút
Tháp ở thôn Bút Tháp xã Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh cho biết
Như Trúc là đệ tử của Như Trí của chùa Thiên Tâm ở Tiêu
Sơn. Sau khi Như Trí tịch, ông đã đến chùa Đông Sơn, 5 năm
sau lại đến Long Động, rồi về trụ trì chùa Bút Tháp 13
năm thì mất.
Thế
có nghĩa Như Trí mất lúc in Thiền uyển tập anh xong không
lâu, bởi vì Như Trúc chỉ sống được 45 tuổi ta và thời
điểm ông bắt đầu đến chùa Đông Sơn khoảng vào năm 1717,
nếu tính thời gian ông ở Đông Sơn và Bút Tháp cọng lại
khoảng 18 năm, trừ năm ông mất là 1735. Vậy, Như Trí có
thể mất vào năm 1717.
Thứ
hai, từ việc phát hiện Như Trí từng làm trú trì tại chùa
Thiên Tâm tại Tiêu Sơn, ta mới biết thêm thông tin về bản
đáy, mà An Thiền đã dùng để in lại Thiền uyển tập anh
trong thế kỷ thứ XIX, đặc biệt khi An Thiền ghi chú trong
bản in mình là đã dựa vào “Tiêu Sơn cựu bản”. Như thế,
Tiêu Sơn cựu bản chính là bản gỗ cũ chùa Tiêu Sơn. Và
đã là bản gỗ cũ chùa Tiêu Sơn thì rõ ràng phải do Như
Trí đứng in, vì Như Trí đã từng là trụ trì của chùa Tiêu
Sơn này. Do đó, ta không còn nghi ngờ gì về nguồn gốc bản
đáy của bản in đời Nguyễn và bản gỗ cũ chùa Tiêu Sơn
chỉ bản nào.
Thứ
ba, đồng thời với việc phát hiện một số thông tin liên
hệ đến nhân thân và niên đại của Như Trí, qua việc nghiên
cứu Hương Hải thiền sư ngữ lục cùng với một số văn
bia liên hệ, ta biết thêm những đệ tử của Như Trí đã
tham gia vào việc đứng in bản in năm 1715 như Tính Nhu và Tính
Phụng là thuộc dòng thiền của Minh Châu Hương Hải. Từ
đó, dù Như Trí không thấy được ghi vào trong Hương Hải
thiền sư ngữ lục, ta vẫn có thể chắc chắn Như Trí thuộc
dòng thiền này.
Thứ
tư, về những dữ kiện chứng tỏ Thiền uyển tập anh là
một tác phẩm đời Trần, chúng tôi đưa thêm sự kiện chống
quân xâm lược Tống của vua Lê Đại Hành mà cả Thiền uyển
tập anh lẫn Đại Việt sử lược đều ghi nhận là xảy
ra vào năm Thiên Phúc thứ nhất (981), chứ không phải vào
năm Thiên Phúc thứ hai như Đại Việt sử ký toàn thư 1 tờ
14a1 đã ghi.
Trên
đây là một số những bổ sung mới cho bản in lại Thiền
uyển tập anh lần này. Ngoài ra, chúng tôi cũng cho sửa chữa
lại những thiếu sót và sai lầm in ấn do những lần in trước
gây ra, mà chưa khắc phục được. Cụ thể là truyện Từ
Đạo Hạnh trong lần in năm 1999 đã in sót cả một đoạn
nguyên chú liên hệ với Đạo Hạnh trong Quốc sử. Từ việc
in sót này, dẫn tới sự in thiếu các chú thích số (22) và
(23) có trong phần chú thích. Không những in sót và thiếu,
các bản in trước còn có in sai. Chẳng hạn, thế hệ thứ
12 của dòng thiền Pháp Vân thì bị in sai thành thế hệ thứ
7. Những sai sót vừa nói, hy vọng lần in này sẽ được khắc
phục một phần nào.
Vạn
Hạnh
Tiết
hạ nguyên năm Tân Tỵ (2001)
Lê
Mạnh Thát
TỰA
Bộ
sách Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh đây là bản in lại
của lần in thứ nhất năm 1976, biết dưới tên Thiền uyển
tập anh, nhưng thường được trích dẫn bằng nhan đề như
ta có trong lần tái bản này. Về cơ bản, nó không có gì
thay đổi lớn so với lần in trước. Điều ấy có nghĩa nó
vẫn có phần nghiên cứu về Thiền uyển tập anh, phần dịch
và phần chú thích. Tuy nhiên, do gần một phần tư thế kỷ
đã trôi qua, có một số tiến bộ về mặt nghiên cứu cũng
như in ấn, nên trong lần in này có một số bổ sung mới.
Thứ
nhất, về phần Văn bản học, nhờ có điều kiện nghiên
cứu kỹ hơn và tiếp cận một số tư liệu mới, chúng tôi
đã tái dựng được quá trình phát triển truyền bản của
Thiền uyển tập anh từ đời Trần, Hồ, Lê sơ, cho đến
Lê trung hưng, đời Nguyễn và ngày nay.
Thứ
hai, do việc sở hữu được cả hai bản đời Lê I và Lê
II, tức bản in 1715 và bản in khoảng 1750, chúng tôi đã phân
biệt được hai bản in này là hai bản khác nhau, mà trước
đây Trần Văn Giáp chỉ mô tả qua loa và không liệt ra được
những sai biệt giữa chúng trong Le Bouddhisme en Annam dès origines
jusqu’au 13è siècle[1] và khi viết Tìm hiểu kho sách Hán Nôm
II[2] thì cũng nói đại lược. Còn E. Gaspardone trong Bibliographie
Annamite[3], cũng chỉ sở hữu được bản Lê II, tức bản
mang ký hiệu số A.2767, nên căn cứ trên nó mà đưa ra những
nhận xét hồ đồ về giá trị văn bản của bản Lê I do
Trần Văn Giáp phát hiện ở Hải Phòng vào năm 1927, nhưng
hình như bảy năm sau đã thất lạc nên Gaspardone đã không
có cơ hội tham khảo.
Thứ
ba, về bản đời Lê I, tức bản in 1715, đã thất lạc từ
thời Gaspardone, mà ngày nay thư viện Hán Nôm cũng không thể
tìm ra được bản khác như Di sản Hán Nôm Việt Nam III[4]
đã ghi nhận. Do thế, chúng tôi cho in lại bản Lê I này để
làm tài liệu cho những nghiên cứu về sau.
Thứ
tư, về bản chép tay A.2767, trong lần xuất bản trước, chúng
tôi không đề cập tới do việc cho rằng những bản in đời
Lê và đời Nguyễn hiện đã được bảo tồn, nên bản chép
tay này không có giá trị nhiều. Tuy nhiên, sau hơn hai mươi
năm vì dựa vào nó, những lần in thạch của Ban Tu thư Viện
đại học Vạn Hạnh ấn loát và phát hành rộng rãi, gây
nhiều lầm lạc cho những người nghiên cứu nghiêm túc ở
trong cũng như ngoài nước. Cho nên trong lần in này chúng tôi
có mô tả sơ bản chép tay ấy và chỉ ra những khuyết tật
của nó, đồng thời cũng đưa nó vào bản hiệu đối.
Thứ
năm, về vấn đề tác giả, trước đây chúng tôi đề nghị
thiền sư Kim Sơn có thể là người chấp bút viết ra Thiền
uyển tập anh, nhưng không chỉ ra được hướng để tìm hiểu
thêm về lai lịch cũng như cuộc đời của ông. Trong lần
tái bản này, do tìm hiểu các văn bia đời Mạc, chúng tôi
có một số dẫn chứng để suy được thiền sư Kim Sơn có
thể đã sống tại tháp Kim Sơn trên núi Nguyệt Áng, tức
núi Chè, ở vùng Hải Dương. Thiền sư Kim Sơn không những
chỉ viết Thiền uyển tập anh, mà có khả năng đã viết
Thánh đăng ngữ lục và Cổ châu Pháp Vân Phật bản hạnh
ngữ lục, nếu khi ta tiến hành so sánh cấu trúc ngữ vựng
và cú pháp của ba tác phẩm này với nhau.
Thứ
sáu, chúng tôi đánh số thứ tự liên tục các thiền sư có
trong bản Thiền uyển tập anh này nhằm tiện cho việc tra
cứu các chú thích liên hệ đến họ. Đồng thời ghi luôn
niên đại (tính theo Dương lịch) sau khi đã điều chỉnh và
hiệu đính văn bản.
Thứ
bảy, lần in này chúng tôi có tăng cường thêm phần phụ
lục về trích văn từ các truyền bản đời Trần, đời Hồ
và đời Lê. Trích văn bản đời Hồ vẫn giống như trong
bản in cũ, và lấy từ An nam chí nguyên cùng hiệu đối với
các bản đời Lê và đời Nguyễn. Riêng trong bản đời Trần
và đời Lê sơ thì do truyền bản của Lĩnh nam chích quái
quá phức tạp, chúng tôi sử dụng bản in mới nhất do Trần
Khánh Hạo chủ trương, Viễn đông học viện của Pháp xuất
bản và do Học sinh thư cục của Đài Loan ấân hành năm 1992.
Điều đáng tiếc là bản in Lĩnh nam chích quái này có quá
nhiều thiếu sót trong phần hiệu kham. Tuy nhiên, cho đến lúc
này nó vẫn là bản tương đối phổ biến và đầy đủ nhất
trong các bản in về Lĩnh nam chích quái ra đời từ trước
cho tới nay, nên chúng tôi vẫn sử dụng.
Như
vậy, bản in lần này so với bản in năm 1976 có triển khai
một số dữ kiện mới, để củng cố thêm cho những kết
luận đã đề ra lần trước. Hy vọng rằng nếu có những
phát hiện thêm, chúng tôi sẽ cho bổ túc và điều chỉnh
trong những lần tái bản sau.
Vạn
Hạnh
Mùa
Vu Lan 2543
Lê
Mạnh Thát