NGUYÊN
BẢN HÁN VĂN
1-
Cựu tạp thí dụ kinh
2-
Pháp kính kinh
3-
An ban thủ ý kinh
4-
Tạp thí dụ kinh
5-
Sáu lá thư
[1]
Lê Mạnh Thát, Góp vào việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo
Việt Nam thế kỷ V, Tư tưởng (1969) và Sơ thảo lịch sử
Phật giáo Việt Nam II, Tp. HCM: Tu thư Phật học Vạn Hạnh,
1979.
[2]
Lê Mạnh Thát, Khương Tăng Hội và Lịch sử khởi nguyên dân
tộc ta, Sài Gòn: 1972.
[3]
Pànõcatantra I, Benfey in, tr. 239.
[4]
Babrius I, Leuis in, tr.122.
[5]
Phaedrus, Oredhi in, tr.55,128.
[6]
Lê Mạnh Thát, Lịch sử hình thành văn hệ bát nhã, Sài gòn:
Vạn Hạnh, 1968.
[7]
Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam I-V Hà
Nội: Văn Học, 1957.
[8]
Lê Mạnh Thát, Chân Nguyên thiền sư toàn tập II, Tp. Hồ Chí
Minh: Tu thư Vạn Hạnh, 1980; Toàn Nhật thiền sư toàn tập
I, Tp. Hồ Chí Minh: Tu thư Vạn Hạnh, 1979.
[9]
Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Mâu Tử tập 1, Tu thư Vạn Hạnh,
1982, tr. 70-83.
[10]
Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Mâu Tử tập 1, Tu thư Vạn Hạnh,
1982, tr. 231-293.
[11].
Về Mâu Tử, xem thêm Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Mâu Tử,
Sài gòn: Vạn Hạnh, 1974.
[12]
Về văn hệ Bát nhã, xem Lê Mạnh Thát, Lược khảo lịch sử
hình thành văn hệ Bát nhã, Cảo bản, 1968.
[13].
Lê Mạnh Thát, Sơ khảo lịch sử Phật giáo Việt Nam II, Sài
Gòn: Tu thư Vạn Hạnh, 1974.
[14]
Kinh này xét bài tựa đầu kinh và xem văn kinh thì hình như
là người chép lẫn kinh chú không phân tích ra mà chép liền
vào. Đúng lẽ ra phải cắt ra mà chú, nhưng thường có nhiều
chỗ không thể phân, nên không dám tự tiện cắt ra, xin để
lại cho các bậc hậu hiền.
[15]
Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh, Tp. Hồ
Chí Minh: NXB Tp.Hồ Chí Minh, 1999, tr. 203-204.
[16]
Lê Mạnh Thát, Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên
dân tộc ta, Sài Gòn: Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1972, tr.
254-321.
[17]
Lê Mạnh Thát, Khương Tăng Hội toàn tập I, Sài Gòn: Tu thư
Đại học Vạn Hạnh, 1975.
[18]
Lê Mạnh Thát, Sơ khảo lịch sử Phật giáo Việt Nam II, Tp.
Hồ Chí Minh: Tu thư Phật học Vạn Hạnh, 1979.
[19].
Theo Lịch đại tam bảo ký 15 ĐTK 2034 tờ 125c16 thì Tăng Hựu
viết xong bộ Xuất tam tạng ký tập vào thời Tề Kiến Vũ,
tức khoảng những năm 495-498. Nhưng trong Chúng kinh mục lục
3 ĐTK 3253 tờ 127b 10 dưới mục Tát bà nhã đa quyến thuộc
trang nghiêm kinh, nó dẫn Hựu lục và bảo là dịch vào năm
Thiên Giám thứ 9 tức năm 511. Như vậy, Xuất tam tạng ký
tập chắc đã được Tăng Hựu khởi thảo trước năm 495
nhưng vẫn tiếp tục hoàn thiện cho đến năm 511. Điều đó
chỉ cho thấy, những là thư này của chúng ta trong Hoằng minh
tập phải được sưu tập trước năm ấy.
[20].
Nghiêm Khả Quân, Toàn Thượng cổ tam đại Tần Hán lục triều
văn tập 3, bản in Quảng Nhã thư cục, Bắc Kinh: Trung Hoa thư
cục ảnh ấn, 1962.
[21].
Chúng tôi không kể đến những bản in của Hoằng minh tập
trong Tứ bộ tùng san và Tứ bộ bị yếu cùng những sao trích
của Nghiêm Khả Quân trong Toàn thượng cổ tam đại Tần Hán
tam quốc lục triều văn tập 3, vì văn bản chúng xuất hiện
quá chậm nên không có giá trị văn bản học gì nhiều.
[22].
Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Hà Nội: 1942;
Lê Văn Siêu, Lịch sử văn học Việt Nam thời Bắc thuộc,
Sài gòn: 1958. Những bộ Văn học sử xuất bản gần đây
cũng không có.
[23]
Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Mâu Tử, Tu thư Vạn Hạnh, 1982.
[24]
E. Zurcher, The Buddhist conquest of China, Leiden: E. J. Brill, 1959,
tr. 424, chú thích 169.
[25]
Thang Dụng Đồng, Hán Ngụy lưỡng Tấn Nam Bắc triều Phật
giáo sử, Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục, 1962, tr. 63.
[26]
Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Mâu Tử 1, Tu thư Vạn Hạnh,
1982, tr. 341- 398.
[27]
Morahashi Tetsuji, Dai Kan Wa jiten I-XII, Tokyo: 1959-1961; Trương Kỳ
Quân, Trung văn đại từ điển I- XL, Đài Bắc: Trung Quốc
văn hóa nghiên cứu sở, 1963-1968. Xem quyển thứ 11 tờ 384a11-13.
[28].
Văn tuyển, bản in đời Tống Thuần Hy của họ Hồ ở Phiên
Dương, Kyoto: Trung văn xuất bản xã ảnh ấn, 1971.
[29].
Maitreyàvadàna, trong Divyàvàdàna, P.L. Vaidya in, Darbhanga: Mithila
Sanskit Institute, tr. 34-40.
[30].
Về cuộc đàn áp này, xem Lê Mạnh Thát, Lịch sử hình thành
văn hệ bát nhã, chương Bối cảnh lịch sử và địa lý của
văn hệ Bát Nhã. Sài Gòn: 1968.
[31].
Tuy rằng có mặt ở truyện thứ 38 nhan đề Maitrakanyakàvadàna
trong cùng tập Divyàvadàna nói trên.
[32]
Toàn thượng cổ Tam đại Tần Hán Tam quốc Lục triều văn
tập 3 bản in Quảng Nhãn thư cục, Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục
ảnh ấn, 1958.
[33].
Fujiwara no Sukeyo (?-894), Nihonkoku genzaisho mokuroku, Hanawana Kinoichi
(1746-1821) in trong Zoku Gunsho Ruiju quyển 884, Tokyo: Rôku gunsho
kanseikai, 1930; Lê Thứ Xương (1837-1897) in trong Cổ dật tùng
thư, Nghiêm Xuất Bình xuất bản, Đài Bắc: Bách bộ tùng
thư tập thành, 1961. Số tờ chúng tôi dẫn là dùng bản in
của Zoku Gunsho Ruiju.
[34].
Wada Enmatsu, Nihonkoku genzaisho mokuroku ni tsuite, Shigaku Zasshi XII
(1930) 1080-1093. ss. Yajima Genryô, Nihonroku genzaisho mokuroku shushô,
Tokyo: Sendai, 1960.
[35].
Kariya Ekisai (1775-1835), Nihonkoku genzaisho mokuroku shochubô, Masamune
Atsuo in trong Nihon Koten Zenshu, Tokyo: Nihon Koten zenshu kanseikai,
1929; Yamada Yoshio, Nihonkoku genzaisho mokuroku kaisetsu, Tokyo: Koten
basen kai, 1925; Kobase Keikichi, Nihonkoku genzaisho mokuroku kaisetsukô,
Tokyo: Komiyashoten, 1956; Yajima Genryô, Nihonkoku genzaisho mokuroku
shushô, Tokyo: Sendai, 1960.
[36].
Washio Junkei (1868-1941), Nihon bukke jinmei jisho, Tokyo: Tokyo Bijitsu:
1966, in lần ba, Tăng đính tái bản.
[37].
Bukkyô shoseki mokuroku trong Dai Nihon Bukkyôzensho, Nanjio Bunyiu in
Tokyo: Bussho Kankaikai, 1914.
[38].
Saichô, Saichô daishi zenshu IV, trong Dai Nihon Bukkyô zensho, Tokyo:
1918.
[39].
Shushu, Meishodensho, trong Tục tạng kinh (viết tắt TcT) quyển
134, Hương Cảng: Ảnh ấn Tục tạng kinh hội ấn hành, 1970.
[40].
L. Giles, Descriptive catalogue of the Chinese manuscripts from Tunhuang
in the British Museum, London: The Trustees of the British Museum, 1957;
Vương Trọng Dân, Đôn Hoàng di thư dẫn mục sách dẫn, Bắc
Kinh: Khoa học xuất bản xã, 1962; M. I. Vorob'eva-Desyatovskaya,
I.S. Gurevic, L.N. Mensikov, V.S Spirin và S.A. Skolyar, Opisanie kitaiskix
rukopisei Dun'xuanskogo fonda Instituta Narodov Aziie, I.L.N. Mensikov
in, Moskva: Izd Nauka, 1963; Vorob'eva Desyatovskaya, I.T. Zograf, A.S.
Martinov, Mensikov và B.L. Smirnov, Opisanie kitaiskix rukopisei Dun'zuangskogo
fonda Instituta Narodov Aziie II, Mensikov in, Moskva: Izd. Nauka, 1967;
P. Démiéville Catalogue des manuscripts de Touen-houang conservés à
la Bibliothèque nationale de Paris, Paris: Librairie Orientale Maisonoeuvre,
1973.
[41].
Kariya Ekisai Nihonkoku genzaisho mokuroku shôchukô, Masamune Atsuo in,
Tokyo: 1929, tr.77.
[42].
Yajima Genryô, Nihonkoku genzaisho mokuroku shushu, Tokyo: 1960, tr.29.
[43].
Về Tùy thư, Cựu Đường thư, Tân Đường thư v.v… chúng
tôi dùng bản Tứ bộ bị yếu.
[44].
Ngô Thế Nam, Bắc Đường thư sao, Khổng Quảng Đào in, 1888;
Âu Dương Tuân, Nghệ văn loại tụ, Uông Thiệu Doanh in, Bắc
Kinh: Trung Hoa thư cục, 1965; Từ Kiên, Sơ học ký, Hồng Hạo
Hạo in. Đài Bắc: Tân hưng thư cục, 1966; Lý Phưởng, Thái
bình ngự lãm I-IV, Nhiếp Sùng in, Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục,
1965.
[45].
Cố Dã Vương, Ngọc Thiên, Tứ bộ bị yếu; Okai Shingo, Gyokuhen
no kenkyu, Tokyo, 1933; Huyền Ứng, Nhất thiết kinh âm nghĩa,
Chu Pháp Cao in, Đài Bắc: Trung ương nghiên cứu viện lịch
sử ngôn ngữ nghiên cứu sở, 1962.
[46].
Tạ Khải Côn, Tiểu học khảo, Kiều diễn quán ảnh ấn,
Đài Bắc: Quảng văn thư cục, 1967.
[47].
Diêu Chấn Tôn, Tùy thư kinh tịch chí khảo chứng, trong Nhị
thập tứ sử hỗ biên, Thượng Hải: Khai minh thư điếm, 1938.
[48].
Morahashi Tetsuji, Dai Kan Wa jiten I-XII, Tokyo, 1958-1961; Trương Kỳ
Quân, Trung văn đại từ điển I- XL, Đài Bắc: Trung Quốc
văn hóa nghiên cứu sở, 1963-1968. Tiền Hán thư 99 hạ tờ
7a8 có cụm từ giả tá âm do Nhan Sư Cổ (581-645) dùng.
[49].
Cựu Đường thư 46 tờ 1b2-2a4 viết: “Khai Nguyên năm thứ
ba (715) tả tân kỵ thường thi Tự Vô Lương và Mã Hoài Tổ
hầu yến, đề cập tới chuyện kinh tịch, Huyền Tôn nói:
'Sách cũ trong Nội khố là của các đời Thái Tôn, Cao Tôn
trước và đã thường sai quan nhân coi sóc. Song những gì mất
thiếu thì chưa từng được viện bổ vào, thiên quyển lộn
xộn khó coi. Các khanh thử vì trẫm chỉnh đốn lại chúng'.
Đến năm thứ bảy (719) vua ra chiếu cho các nhà công khanh
sĩ thứ nào có sách lạ thì cho triều đình mượn để chép
đóng lại. Tới khi bốn bộ đã thành, vua ra lệnh bách quan
vào hành lang phía đông điện Càn Nguyên xem thì không ai là
không khiếp sự nhiêu rộng của chúng. Năm Khai Nguyên thứ
chín (721) Ân Tiễn Du, Vương Hiệp, Vy Thuật, Dư Khâm, Vô Cảnh,
Lưu Ngạn Châu, Vương Loan, Lưu Trọng và những người khác
sửa sang lại thành Quần thư tứ bộ lục 200 quyển. Hữu
tán kỵ thường thị Nguyện Hành Xung tấn dâng lên. Về sau,
Vô Cảnh lại rút gọn nó thành 40 quyển, đặt tên Cổ kim
thơ lục. Nay xin ghi lại các sách của bốn bộ trong thời
thịnh Khai Nguyên để tỏ rõ sự thịnh vượng của nghệ
văn vậy”. Tân Đường thư 57 tờ 1a13-1b5 viết: “Việc chứa
sách không lúc nào thịnh hơn thời Khai Nguyên. Người ta ghi
lại tới những 53.915 quyển, mà sách do học giả đời Đường
tự làm ra tới những 28.469 quyển. Ô hô, thế không đáng
gọi là thịnh sao?... Nhưng chúng điêu linh ma diệt cũng không
thể kể xiết... Nay ghi vào sách sổ đây thì có tên chúng,
nhưng sách chúng thì đã mất 10 phần hết năm sáu rồi há
không tiếc sao?”
[50].
Lý Phưởng, Thái bình ngự lãm I, Nhiếp Sùng Chính ảnh ấm,
Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục, 1965; Vương Nghiêu Thần, Sùng văn
tổng mục, trong Nhã Việt đường tùng thư, Ngũ Sùng Diệu
in, Quảng Đông: 1854.
[51].
Tùy thư 32 tờ 20a9-12: “Tự Hậu Hán Phật pháp hành ư Trung
Quốc, hựu đắc Hồ thư, năng dĩ thập tứ tự, quán nhất
thiết âm, văn tính nhi nghĩa quảng, vị chi Bà la môn thơ,
dự bát thể lục văn chỉ nghĩa thủ biệt. Kim thủ di phụ
thể thế chi hạ. Hưu hậu Ngụy sở định Trung nguyên, quân
dụng hiệu lệnh giai dĩ di ngữ, hậu nhiễm Hoa tục, đa bất
năng thông, cổ lục kỳ bản ngôn, tương truyền giáo tập,
vị chi quốc ngữ, kim thủ phu âm vận chi mạt”. Thật ra,
câu “năng dĩ thập tứ tự” phải đọc thành “năng dĩ
tứ thập tự” mới đúng, vì mẫu tự Ấn Độ có tới 40
chữ. Việc “Hồ thư năng dĩ thập tứ tự” này chắc chắn
đã đến từ Đại bát Niết bàn kinh quyển 8 ĐTK 375 tờ 652c23-655b6
do Huệ Nghiêm và Tạ Minh Vận dịch nhuận. Bởi vì trong phần
Văn tự của nó, mặc dù nó viết: “Hữu thập tứ âm, danh
vi tự nghĩa”, song tiếp đó nó lại liệt kê tới những
40 mẫu âm chính của Phạn ngữ. Việc chúng tôi sửa “thập
tứ”thành “tứ thập” do thế không phải là không lý do.
[52].
Lý Năng Hòa, Triều Tiên Phật giáo thông sử 1-111, Hán Thành:
Khánh Hy xuất bản xã ảnh ấn, 1967.
[53].
Lê Mạnh Thát, Về bài thơ xưa nhất tiếng ta và nguồn gốc
chữ quốc âm, Cảo bản, 1971.
[54].
Ngô chí 4 tờ 8b1-3: “Nhiếp mỗi khiển sứ Nghệ Quyền, trí
tạp vật hương tế cát, chiếp dĩ thiên số, minh châu, đại
bối, lưu ly, phỉ thúy, đồi mồi, tê tượng chi trân, kỳ
vật dị quả, tiêu, dừa, long nhãn chi thuộc, vô tuế bất
chí”.
[55]
Lê Mạnh Thát, Toàn tập thiền sư Pháp Tính (sắp xuất bản)
[56].
O.Jansé, Archaeological research in Indochina 1, Cambridge, Mass: Harward
University Press, 1956, ảnh 146. 1.
[57].
Sukemoto, Honzô Wanyô, Moriki E (1802-1885) chú và in, Tokyo: Nihokoten
Zonchu, 1939, Fukai Honzô, trong Zoku Gunsho Ruju quyển 892.
[58].
Đường Thận Vi, Trùng tu chính hòa kinh sử chứng loại bị
dụng bản thảo, Bắc Kinh: Nhân dân vệ sinh xuất bản xã
ảnh ấn, 1957.
[59].
Giles, sđd, 1. 267b: “A list of characters, many rather uncommon, arranged
more or less according to rhymes or phonetics. Each is followed by one
or more chars giving a rough due to the sense, and in many cases the exphanatory
term is followed by a number (varying from 1 to 6, with one 8) of doubful
import. Badly mtd, most of the lower portion torn away. Indifferent Ms.
Verso: A date (10th of the 12th moon of the 6th year of Ch'ien fu (25 Jan
880) and a few fragmentary notes: Buff paper. 3ft.
[60].
Tsukamoto Zenryo, Kannon rinenki ni tsuite, Tôhôgakuhô 25 (1954).
[61].
Giles, Descriptive catalogue of the Chinese manuscripts from Tunhuang in
the British Museum, London; The trustees of the British Museum, 1957.
[62].
M.1. Vorob'eva Desyatovskaya và những người khác, Opisanie Kitaiskix
rukopisei Dun'xuanskogo fonda Intituta Norodox Aziie II, Noskva: Izd, Nauka,
1967.
[63].Thái
bình ngự lãm, bản ảnh ấn do Nhiếp Sùng Kỳ đề tựa và
Trung Hoa thư cục xuất bản ở Bắc Kinh năm1963.
[64].
Trường hợp điển hình của sự tình này ta có thể tìm thấy
trong Đại Việt sử lược, ở đó một số những từ đã
bị quan lại nhà Thanh lược bỏ vì chúng đụng chạm tới
hệ ý thức của bọn chúng.
[65].
Nói thế này không có nghĩa tập thể Phật giáo về sau đã
tha thứ cho Lâm. Hoài Tín viết Thích môn tự cảnh lục quyển
thượng tờ 809c29-c8 vào năm 843 đã không quên nói đến chuyện
“Huệ Lâm hủy pháp, bị lưu, mục manh”, dù rằng ông hình
như lấy làm hãnh diện về sở học và kiến thức của Lâm,
bởi vì ông xếp Lâm vào loại “tục học vô ty”– sở
học thế gian không thua ai.
[66].
Nam sử 78 tờ 17a9-18a1, sau khi cho chép y lại đoạn ấy của
Thẩm Ước, đã thêm phương diện thất bát, tòa thường bằng
mãn, Lâm trước cao kịch, phi diệu cừu, trí thông trình thơ
tá, quyền mâu tể phụ. Hội khế Khổng Khải thường nghệ
chi, ngộ tân khách trân yết huyên lương nhi dĩ. Khải khái
viết: “Toại hữu hắc y tể tướng, khả vi quan lý thất
sở hĩ”.
[67].
Bản in Đại Chính ngày nay có một cuốn Lương kinh tự ký
ĐTK 2094 tờ 1014a15-b26, nhưng không có câu chuyện này của
chúng ta. Chắc hẳn đây không phải là toàn bản. Cuốn này
phải viết vào năm 535, căn cứ vào niên đại muộn nhất
do nó kể ra.
[68].
Nhan đề Tiểu thời mê học Trúc Pháp Độ tạo dị nghi ký.
[69].
H. Maspéro, Le songe et l’ambassade de l’Emporeur Ming, BEEO X (1910),
112-3, Trần Văn Giáp, Le Bouddhisme en Annam, cc XXXII (1932), 198-268,
Mật Thể, Việt Nam Phật giáo sử lược, Hà Nội: 1943.
[70].
Xem chẳng hạn Chen Shou Yi, Chinese literature, 1961, New york “Ordined
as Buddhist monk when he was young, he was as a devout Buddhist especially
impressed by the Buddhist miracles (t. 271); xt. Hồ Hoài Trâm, Trung
Quốc tiểu thuyết luận, 1967, Đài Bắc: tr. 43; Chu Tổ Truyền
và Trần Tân Trung, Trung Quốc văn học sử, 1965, Hạ môn Đại
học hàm thụ bộ xuất bản, tr. 74.
[71].
Về Minh tường ký, xem thêm K. Syogi, Meizoki ni tsuite, Shukan Toyogaku
22 (1969) 41-65.
[72].
Tiếp theo những bản dịch của Lokaksema, Chi Khiêm dịch Đại
minh độ kinh khoảng giữa những năm 222-257, Pháp Hộ dịch
Quang tán Bát nhã Ba la mật kinh khoảng năm 286, Mộc Xoa La dịch
Phóng quang Bát nhã Ba la mật kinh, khoảng năm 291, Đàm Ma Ti
và Trúc Phật Niệm dịch Ma Ha Bát nhã sao kinh khoảng năm 382,
rồi những bản dịch của Kumarajiva.
[73].
Hoàng minh tập 1 tờ 2a7-13. “Phật giả thụy hiệu dã, do
danh Tam hoàng thánh dã. Phật nãi đạo đức chi nguyên tố,
thần minh chi tôn tự Phật chi ngôn giác giả, hoảng hốt biến
hóa, phân thân tán thể, hoặc tồn hoặc vong, năng tiểu, năng
đại, năng viên năng phương, năng lão năng thiếu, năng ẩn
năng chương, đạp hỏa bất thiêu, lý nhẫn bất thương, tại
ô bất nhục, tại họa vô ương, dục hành tắc phi, tọa tắc
dương quang, cố hiệu vi Phật dã”
[74].
Đó là một số từ Mâu Tử dùng để mô tả Phật được
các dịch giả Trung Quốc dùng để mô tả con người. Ban châu
tam muội kinh ĐTK 417 tờ 899a1-4 do Chi Lâu Ca Sấm dịch vào
khỏang năm 179 đã viết về thân người như sau: “Liễu thân
bản do như huyễn…, vô vi thường, vi hoảng hốt,…”
[75].
Thang Dụng Đồng, Hán Ngụy lưỡng Tấn Nam Bắc triều Phật
giáo sử, tr.101.
[76].
Thang Dụng Đồng, sđd, tr.102.
[77].
Lục độ tập kinh 7 tờ 42b14-15: Đắc vô hàn, vô nhiệt, vô
cơ, vô khát, công phước hội tụ, chúng độc bất gia, xử
thế vi Phật, tam giới đặc tôn.
[78].
Lục độ tập kinh 7 tờ 43a27-1b: Ngô sanh oán hồ, bất tri
Phật thể, bất văn Phật kinh, thập phương hiện tại chí
chơn Thế Tôn, đổng thị triết thính, giai nhất thiết tri,
hoảng hốt phảng phất, huy my bất chi, nguyện hiện tôn linh,
linh ngô đổ Phật.
Định nghĩa này Khương Tăng Hội cũng có phần nào tiếp thu
xu thế chung của quan niệm Phật giáo Trung Quốc, để quan
niệm Phật có thêm yếu tố “đều biết tất cả” (nhất
thiết tri), nhưng đã lồng yếu tố này vào trong cái khung
của một quan niệm Phật quyền năng với những đặc tính
như không đói không khát, không bị nóng bị lạnh, hoảng
hốt phảng phất, khi ẩn khi hiện.
[79]
P. Mus, Barabudur, BEFEO XXXIV (1934) 175-400, đặc biệt là chương
8 và 9.
[80]
Lê Mạnh Thát, Pháp Liên và Pháp hoa quốc ngữ kinh, Tu thư
Vạn Hạnh, 1982.
[81].
Lê Mạnh Thát, Góp vào việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo
Việt Nam thế kỷ V, Tư tưởng 1 (1972) 69-88 và 2 (1972) 57.
[82].
Xem chẳng hạn K.P.K. Whitaker, Tsaur Jyr and the introduction of Fannbay
into China, Bulletin of the School of Oriental and African Studies XX (1957)
585-587.
[83].
Trần Văn khê, Musique bouddhisque au Việtnam, trong Encyclopédie
des musiques sacrées, I.J. Porte chủ biên, Paris, 1968, tr. 222-240;
Les traditions musicales: Việt Nam 1967, Buchet Chastel, tr. 141-2.
[84].
Trần Văn Khê, La musique Vietnamienne traditionelle, 1962, Paris, tr.15:
“Pendant cette période obscure, aucun document ne nous permet d’avoir
une idée sur la musique Vietnamienne”. Về những bàn cãi rộng
hơn, xem Lê Mạnh Thát, Lịch sử âm nhạc Việt Nam, Tp. Hồ
Chí Minh: NXB Tp. Hồ Chí Minh, 2001.
[85].
Đấy là không kể đến chuyện Chu Phù “cổ cầm thiêu hương,
đọc tà tục đạo thơ” lúc ông nhậm chức thứ sử tại
Giao Châu khoảng năm 189-198. Việc “đánh trống gảy đàn”
như vậy đã xảy ra khá sớm ở nước ta.
[86].
Việc đồng nhất Đại Thừa Đăng với Phổ Quang và Đại
Thừa Quang cùng những tác phẩm Câu xá luận ký, Duy thức
chỉ nguyên v.v ... xem Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Đại Thừa
Đăng. Bài thơ Thương pháp sư Đạo Hy của Đại Thừa Đăng
được chép ra đây, vì không một cuốn sách nào nói về Đăng
đã chép ra.
“Ta
hỹ Tử vương
Kỳ
lực di cường
Truyền
đăng chi sĩ
Yếm
dĩ vân vong
Thần
châu vọng đoạn
Thánh
cảnh hồn dương
Quyến
dư trường nhi lưu thế
Khải
bố tố nhi tình thương.”
“Khốn
nỗi tử vương
Sức
vẫn còn cường
Truyền
đăng một đấng
Bỗng
chốc vân vong
Châu
trần vọng đoạn
Cảnh
thánh hồn dương
Đoái
trong buồn mà rơi lệ.
Nghĩ
khổ cực mà tình thương.”
Chép
theo Đại Đường Tây Vức cầu pháp Cao tăng truyện quyển
thượng tờ 4c11-13.
[87].
Lê Mạnh Thát, Khương Công Phụ và những bài đối phú đầu
tiên, Cảo bản, 1970.
[88].
Lê Mạnh Thát, Về nhà thơ Liêu Hữu Phương, bản đánh máy,
1969.
[89].
Lê Mạnh Thát, Truyện Tấm Cám lưu hành ở nước ta vào lúc
nào, Cảo bản, 1970.
[90].
Lê Mạnh Thát, Phật giáo truyền vào nước ta từ lúc nào,
Tư tưởng 3 (1973) 145-160, 5 (1973) 105-126, 7 (1973) 75-92, 8-9 (1973)
171-206 và Lịch sử Phật giáo Việt Nam I, Huế: NXB Thuận Hóa,
1999.
[91].
Tiêu điểm tư trị thông giám tiểu tổ hiệu đính, Bắc Kinh:
Trung Hoa thư cục cổ tịch xuất bản xã, 1956.
[92].
Lê Mạnh Thát và Lê Xuân Liêu, Thử viết lại lịch sử dân
tộc, Cảo bản, 1968; Lê Mạnh Thát, Khía cạnh kinh tế của
những cuộc vận động độc lập thế kỷ thứ V-VI, Cảo
bản, 1972.
[93]
Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam 1, Huế: NXB Thuận
Hóa, 1999, tr. 626-747.
[94].
Kobayashi Toshio, Ryushi no shiseki ni tsuite, Shinagaku 15 (1946) 1-22;
Hồ Sở Sanh, Thích danh khảo, Đài Loan tỉnh lập sư phạm
đại học quốc văn nghiên cứu sở tập san 8 (1964) 1-218; Lê
Mạnh Thát, Lịch sử manh động của Nho giáo tại Việt Nam,
Cảo bản, 1970; Lưu Hy, Thích danh, Vương Vân Ngũ in, 1936, Thượng
Hải, tr. 90; N.C. Bodman, A lingnistic study of the Shih Ming initial
and consonant clusters, Cambridge, Mass.: Harward University Press, 1954.
Về việc Thích danh chỉ nói đến cách phát âm địa phương
Tề của miền Bắc Trung Quốc, đưa ra một vài nghi vấn về
nguồn gốc hoàn thành của nó. Xem G.E. Sargent, The Intellectual
atmosphère in Lingnan at the time of the Introduction of Buddhism, trong
Symposium on Historical, Archaelogical and Lingnistic studies on Southern
China, Southeast Asia and the Hong Kong region, Hongkong: Hongkong University
Press, 1967, tr. 161-171.
[95].
Về điểm này, xem Lê Mạnh Thát, Lịch sử manh động của
Nho giáo tại Việt Nam, Cảo bản, 1970; Miyakawa Hisayuki, The Confucianization
of south China, trong The Confucian Persuasion, A. Wright in, Stanford:
Stanford University Press, 1960, tr. 21-46.