BẢN
DỊCH SÁU LÁ THƯ
Lá
thư thứ nhất:
Lý
Miễu của Giao Châu
viết
cho Cao pháp sư
Rằng,
chỗ đạo trong vắng, bốn đại lẽ thường, nhưng giáo pháp
nhiệm mầu lan khắp mọi cõi. Nếu bảo lời dạy ấy khéo
hay lợi vật, độ thoát nhiều người thì sao chân hình nó
lại không hiện ở đời? Ấy phải chăng chẳng qua là nói
suông không thật? Nay chính là lúc phải nên tìm nguồn gốc
phương Tây của nó. Nguyện xin đại Hòa thượng rủ lòng
thương xót, nhận lấy lòng con, mà không tiếc lời dạy thần
tình.
Đệ
tử Lý Miễu cúi đầu đảnh lễ.
Lá
thư thứ hai:
Đáp
lại thư của Lý Giao Châu
Thích
Đạo Cao thưa rằng:
Nhận
được câu hỏi về dấu tích ẩn hiện của đấng Chí Thánh,
lý vị đã sâu rộng, mà từ nghĩa lại rõ ràng, trân trọng
xem qua đọc lại, thì lời hay càng thêm. Sứ quân, thành quách
cao sâu, nhận được giáo pháp mà tự hỏi, thì xin đem hết
ống ngu của mình, để làm chuyện võng tượng đi tìm huyền
châu.
Rằng,
đức Như Lai ứng vật, phàm có ba cách, một là hiện ra xác
thân, phóng quang động địa; hai là để lại chính pháp, như
khi Phật còn tại thế; ba là để lại tượng giáo từa tựa,
Pháp tắc từa tựa. Pháp tắc ngày nay đang đáp lại nhân
tình, nhân tình đang cảm lấy tượng giáo thì ai làm cho Phật
hiện ra ư? Cho nên kinh Tịnh Danh nói rằng: “Khéo hiểu được
pháp tướng thì biết được căn cơ của chúng sinh”. Đến
khi có ba hội Long Hoa ở thành Sí đầu mạt, nhân tình cảm
lấy sự hiện thân thì ai làm cho Phật ẩn đi ư? Cho nên kinh
Pháp hoa nói rằng: “Lúc bấy giờ đức Phật cùng chúng Tăng
đều ra khỏi núi Linh Thứu”. Cung vua Nhượng Khư đương
nhiên có thể định kỳ như thế, thì nguồn gốc phương Tây
sao lại không thấy? Nhưng kẻ nghi ở đời phần nhiều nói
lời kinh không hợp, nên mắc phải sự ám muội thiếu tình,
ấy là vì lấy chuyện không thấy mà sinh trệ.
Rằng,
Tam hoàng Ngũ đế, Tam đại Ngũ bá, Cơ Đán Khổng Khưu san
kinh Thi chế sách Lễ, đều chỉ nghe ở sử sách, có ai thấy
đâu? Họ Thích gióng trống Pháp tại vườn Nai, đức Phu Tử
dương lời đức ở Châu Lỗ, ấy đều là những việc tai
mắt không biết được và đều phải tin vào sách vở. Nếu
không tin việc sau, thì chẳng nhọc lòng nghi chuyện trước.
Nhưng nếu đã hay rõ được việc sau thì sao lại chỉ trệ
ở chuyện trước?
Sứ
quân nghĩ suy sâu rộng, xem suốt ba đời, thì xin hãy tìm xem
lời dạy của Thọ Lượng chưa dứt, gần theo dấu Định
Quang Nho Đồng, giữa suy tập Đại Thông Trí Thắng, để cởi
mở chỗ trệ mọi người. Như đem mây đùn che lấy thái dương,
lời cạn văn quê của bần đạo nói không hết lòng. Mong
đến ngày gặp nhau, thì sẽ nói rõ ràng hơn về vấn đề
trên.
Kính
bạch.
Lá
thư thứ ba:
Thư
của Lý Miễu
viết
cho Pháp sư Đạo Cao
Lý
con xin cúi đầu đảnh lễ,
Con
xem đi xem lại lời bàn thanh nhã của thầy, vị thứ đã khu
biệt, mà lời lẽ lại sâu đẹp. Con mong đến ngày gặp rất
nhiều. Cái gọi là “cảm hóa có lúc khác nhau, chánh pháp
và tượng pháp lời lẽ hơi khác”, thầy đã viện việc
ngoài để rõ nghĩa trong, trưng lấy văn để nghiệm sự thật,
cẩn thận theo lối mà dẫn tới đích, tất cả chúng không
có chỗ nào hở hang hết.
Song
rằng, căn do của sự giác ngộ tất phải nhờ nhìn thấy,
khi đã mắc vào ám muội thì phải sinh nghi. Nghi ngờ không
phải là cội nguồn của sự giác ngộ. Nếu sách vở đang
còn, thì những đời khác đều có thể hiểu được, và vạn
thế về sau có thể không đợi một bậc thánh để làm thầy.
Nếu nay đã nhờ đến cả tiếng tăm lẫn dấu tích, thì lời
nói và hiện thân phải giúp đỡ cho nhau. Đạo nghĩa đã bị
khó khăn, bọn Nho Mặc đang tranh nhau nổi lên, thì há để
cho chính tín lu mờ, làm cho sự hủy báng hiểu lầm càng tăng
hấn sao? Có thể nào không thấy sự thị hiện và ấn ký
để làm chứng nhằm giữ lấy mình sao? Đấng Đại Thánh
ban ra cái trí vô ngại, duỗi lòng thương không cầu, thì sao
lại tiếc cái ánh sáng rực rỡ của mình, để làm tăm tối
hơn những tài năng đi tìm hiểu, dứt hết cả hy vọng của
mọi người sau khi nhập diệt và gia thêm tội lỗi trước
lúc có ba hội Long Hoa? Chó rơm suông đặt, thì ai mà có thể
giác ngộ được? Nghi tượng giả bày, thì ai mà có thể tin
được?
Đến
cái chuyện đế vương Cơ Khổng, thì lời dạy của họ đều
dừng lại ở đời này. Việc lai sanh, họ để ra mà không
bàn tới. Cho nên, sự ẩn hiện phế hưng quyền thật của
họ không cần phải nói. Nay đức Như Lai đạo nghiệp bao
gồm cả ba đời, lòng thương thấm nhuần khắp cả, thì không
được lấy đời hiện tại mà làm giới hạn. Mọi người
mê muội đang tìm xin hiểu biết, thì không được lấy việc
nhập diệt mà cho là chỗ cùng. Vì thế, mà việc hóa độ
không thể hạn cục vào sách vở và việc Phật la liệt bày
ra hàng vạn. Xin hỏi rằng, cái gọi là việc Phật ấy ngày
nay nằm ở đâu ư? Nếu như dẫn chuyện tin bên này, nghiệm
bên kia, nhưng đấng Chí Thánh không ra đời, Khổng và Thích
hai đường khác nhau, tức sự mà bàn không phải là không
mâu thuẫn, thì chúng có cái gì có thể chứng nghiệm cho nhau
ư?
Vì
chưa thể im lặng bỏ đi, nên con lại phải mượn lời, xin
thầy giải rõ thêm một lần nữa, trong khi chờ đợi gặp
nhau cho việc trình bày rõ ràng hơn.
Lá
thư thứ tư:
Lại
đáp thư của Lý Giao Châu
Thích
Đạo Cao thưa rằng:
Lại
nhận được lời dạy sâu sắc. Ý nghĩa đã đẹp đẽ, mà
tôn chỉ lại cao xa, ba đọc chín suy mới nắm hết chỗ uyên
áo. Cho nên biết rằng, điều chí lý thì không phải người
tầm thường thiển cận có thể lường đo, lẽ vi tế ẩn
khúc thì không phải kẻ cạn cợt dốt nát có thể tham hiểu.
Nay xin đem sự thường thiển mà trình bày sơ cái sở hoài
của mình.
Rằng,
lấy muôn điều lành làm lời dạy thì đường đi không phải
là một. Có kẻ ngồi thiền trong rừng rú, có người tu đức
ở bên cạnh thành, hoặc cung kính chấp tay, hoặc ca hát tán
tụng ngâm vịnh, đều là những việc tai mắt cùng biết,
và người thực hành chúng cũng rất nhiều. Đó là bến bờ
của sự thọ ngộ. Gọi việc mắc sự ám muội, sao lại là
nguồn gốc của sự thọ ngộ, ấy là vì nếu đã nhìn thấy
thì hà tất lại có sự mắc phải ám muội. Có mắc ám muội
thì mới sinh nghi. Nghi ngờ do thế cũng là cội gốc của sự
giác ngộ. Xin đáng bàn rõ điều này. Có nghi ngờ thì người
ta đi tìm sự hiểu biết. Có hiểu biết thì người ta có
thể giác ngộ. Đã giác ngộ thì vào đạo. Nếu không phải
gốc thì nó là gì?
Tuy
Nho Mặc đang tranh nhau nổi lên, các học phái cãi cọ phải
trái, ấy là vì ngọn đuốc cháy mãi không dứt, chứ đâu
phải trời trăng không sáng chiếu, thì sao lại phải gấp
gáp trong việc thị hiện và hấp tấp trong việc đồng qui?
Nay không phải là giống lúc đời mạt không chứng. Chứng
nghiệm là để bày tỏ sự chân thành, đồng thời cũng để
tỏ ra nó không phải là lỗi của đấng Chí Thánh đầy dẫy
ánh sáng rực rỡ. Nhưng kẻ nghi cứ lấy việc không thấy
bản thân Ngài, rồi dài mê trong đại mộng, ngang ngạnh chìm
trôi, để mà chết đắm trong sanh tử. Tiên Nho vãng triết
đều có nói sơ điều này từ lâu. Đường không khác lối.
Họ chỉ thuật lại mà không làm.
Rằng,
quên mình mà đem hết lòng thành thì tất có cảm. Có cảm
tất phải có thấy. Không có cảm thì không thấy. Người
có thấy đem nói với kẻ không thấy, kẻ không thấy cuối
cùng cũng không tin sự thấy. Thánh nhân đâu phải là không
thường ở với quần sanh, đâu phải là không thường thấy
ư? Nghe Pháp âm mà bảo là hay, thì chó rơm không thể nói
là đặt suông, thấy hình tượng mà cung kính thì linh nghi
há là bày giả.
Cơ
Khổng cứu đời đọa lạc không nổi, thì rảnh đâu mà bày
tỏ sự việc của lai sinh? Nếu Khâu và Đán sinh gặp thời
kết nốt, họ đã nói rõ chuyện ba đời chẳng thôi. Ngài
hỏi, nay việc Phật nằm ở đâu ư, thì cúi đầu chắp tay,
không gì là không phải việc Phật. Chúng chỉ nhằm khiến
người ta thâm ngộ một cách có phương pháp. Chúng thù đồ
mà đồng qui. Thư trước đã dẫn bên này bên kia, kẻ nghi
người tin, ấy chính vì người đời hễ không thấy thì cho
là không có thật. Cho nên phải nói chuyện không thấy của
Chu và Khổng để làm mực thước vậy. Đấy là để dắt
dìu mà cùng theo nhau, há có thể gọi là mâu thuẫn sao?
Sứ
quân sinh ra đã biết sự không giả dối. Với tài năng phú
bẩm, ở vào địa vị của một đấng thiên tử, dùng lấy
sự nghĩ suy dĩnh thoát, bơi lội trong rừng nghĩa, đi lại
tại vườn sách, thì ngài có thể nghỉ ăn búi tóc tiếp khách,
có rỗi bàn hay suốt ngày. Lời hay đã nói thì không thể
không lắng nghe. Bần đạo học nghiệp thô thiển, rất thẹn
lá thư. Trả lời xằng gọn, sợ làm bẩn vẻ đẹp của văn
đầy. Nghĩ lại càng thêm thẹn thùng, mồ hôi lấm tấm.
Kính
bạch.
Lá
thư thứ năm:
Thư
của Lý Miễu
viết
cho Pháp sư Đạo Cao
Lý
con xin cúi đầu đảnh lễ,
Lời
bàn thanh nhã của thầy đã làm rõ bến bờ của sự thọ
ngộ, ấy là sự tự nghi. Được mắc ám muội có thừa, chứ
không cần phải nhìn thấy, có cung kính tán tụng thì đều
đủ để dẫn vào đạo vậy. Xem đi đọc lại, con càng thấy
sự sâu sắc của nó.
Song,
cái gọi là tượng pháp và chính pháp trái nhau, nên đi tìm
sự giác ngộ, vì lý thô, phải mượn nơm để chỉ bày tôn
chỉ mà không cần phải nhờ đến sự thị hiện, điều này
vẫn giống như lý do Cơ và Khổng đã ban ra lời dạy của
họ và ánh sáng đã tỏ ra sự chiếu minh của nó. Một khi
đã bày tỏ thì ai cũng nhận được. Điểm này, sách vở
đời ghi chú cũng đã nhiều đủ. Thế thì phóng quang động
địa mà làm chi ư?
Nếu
chính tín không dừng lại ở sự lạy lục, và việc Phật
gồm đủ cả sự thực hành lẫn giáo hóa, thì nguyên do của
sự đại giác phải làm thần diệu cái nét đẹp của nó,
để cho việc đi tìm có thể định được sự bắt nguồn.
Cho nên, biết rằng, người tin thì tất phải dùng đến Nho
Mặc để giải quyết những nghi ngờ và kẻ học thì sẽ
do dự không chứng mà tự hối hận. Tam hoàng Ngũ đế, dù
có bỏn sẻn sự minh triết, cũng không phải là lỗi của
họ. Mười hiệu của đức Phật, tuy thầm lặng chiếu sáng,
đã diễn hết mọi đạo đức. Chúng há lại không thế sao?
Còn
về chuyện Cơ và Khổng chỉ chú trọng đến cứu đời đọa
lạc, mà không rảnh để đề cập tới lai sinh, và chuyện
giả như họ sống vào thời kết nốt thì đã tự nói rõ
cả việc ba đời, những chuyện này lại cũng không phải
thế. Bảy kinh trình bày, ý nghĩa gồm cả tới những gì chưa
đến. Sách Phật phu diễn sự việc thì dừng lại ở duyên
báo. Cho nên kinh Dịch nói rằng: “Chứa lành thừa vui, chứa
dữ thừa khổ”, và kinh Phật dạy: “Không có chủ thể
làm, không có đối tượng làm, không có kẻ bị làm, hành
động lành và dữ cũng không mất”. Điều này chứng tỏ
lời dạy về duyên báo là một lẽ thường mà giáo huấn
cả hai bên đều đã truyền rộng, há có thể bảo bên này
vụ điểm này, bên kia chú trọng điểm kia ư?
Bàn
lại những điểm ấy càng hay, nên con xin nói lại chúng vậy.
Hy vọng thầy lại đem điều mới trình bày những chỗ khác
để gột rửa cái trệ của xưa nay, khiến cho đường cong
thành thẳng, chướng ngại lại thông. Thầm nguyện Đại hòa
thượng duỗi lòng thương rộng nhận chút lòng con.
Đệ
tử Lý Miễu kính trình.
Lá
thư thứ sáu:
Đáp
lại thư của Lý ở Giao Châu
Thích
Pháp Minh thưa rằng:
Lá
thư dài vừa mới tới, trân trọng xem nó suốt ngày. Nó thơm
tựa lan rừng, thanh như gió huệ. Bần đạo tài năng không
phải là của Sương Dĩnh, thời vận không phải là của Bào
Sinh, việc làm thì sai trái, lý luận thì hở hang, chỉ vấp
phải nghi ngờ từng đống, ấy đều vì lời dốt ý trệ.
Song đã gắt hỏi thì xin trình tỉ mỉ vụn vằn như sau:
Kẻ
ngu này cho rằng, nghi ngờ điều mờ ám, ghi nhớ sự lạ lùng,
nhìn thấy việc thị hiện, cung kính tán tụng, cảm động
linh biến, đều là bến bờ dẫn về chỗ đạo, là cơ hội
đẹp đẽ cho sự thăng hoa. Cho nên thắc mắc và nhìn thấy
đáng được nêu đều, nghi ngờ và chứng nghiệm đáng phải
đi đôi, thì há có thể quăng phăng sự thị hiện, mau tiết
lộ vỏ thần thái, để đặt đức Phật ngang hàng với Cơ
và Khổng, xếp giáo pháp cùng với lời dạy của đời được
sao? Phóng quang động địa đều là lời suông.
Rằng,
pháp thân ngưng tịch, sắc màu sáng trong, cho nên có thể ẩn
hiện theo thời, hành tàng chẳng biết. Hiển thì dựa theo
sự thật mà ra. Ẩn thì khéo trôi mà đi. Thế, đã nói đi
tìm tôn chỉ, sao lại phải dòng dài về mười hiệu? Tia lóe
của một ánh thừa cũng đủ làm sáng rạng cả cái đời
đồi trụy này thì người tin há đi lấy một đốm lửa leo
lét để làm tăng thêm nỗi nghi ngờ của mình sao? Chỉ cần
hướng đến mặt trời mới rạng thì trắng đen sẽ sánh
vai nhau. Tháp tượng kinh sách đầy khắp cả thế giới, kẻ
học há lại đi lấy điều không chứng để tự hối hận
sao?
Ngài
lại dẫn đến bảy kinh, ý nghĩa gồm cả những gì thuộc
vị lai như “chứa lành thừa vui, chứa dữ thừa khổ”,
thì tuy nói thế, chúng đã không nói đến việc sinh diệt
mỗi mới, đổi vai gánh thay, hành động lành dữ không thể
không chịu báo được. Điều này quả đã rõ cả ba đời,
càng rộng rãi sâu sắc hơn cả bảy kinh. Dù vậy, trưng văn
để nghiệm lấy sự thật, điểm ấy vẫn được lắm. Thư
trước ngài nói rằng: “Đế vương Cơ Khổng lời dạy dừng
lại ở đời này, việc lai sinh họ để riêng ra mà không
bàn tới, cho nên sự ẩn hiện phế hưng quyền thật của
họ không cần phải rõ”, thì tựa hồ như có vẻ mâu thuẫn.
Song, ý nghĩa nó bây giờ đã ổn ký thì đáng lòng thương
không nên trách. Chỉ xin nghe rõ hơn nữa điều sâu sắc.
Thơ
đáp trước có nói sơ đến đấng Chí Thánh và sự chìm nổi
của chúng sinh, nhưng nghĩa cứ chưa rõ ràng, lời lẽ chưa
thông suốt, nên nay xin bàn rõ lại, để cùng nhau rộng truyền
đạo lớn.
Rằng,
quần sinh dài mê trong ba cõi, chúng thức tối mờ trước sáu
trần, trôi chìm với sinh tử là ông chúa của sự cấu xé
ăn nuốt, tương tục ở tâm thức là bánh xe của sự lăn
lóc luân hồi, xác thân thì đầy dẫy quán trọ của nghịch
lữ, tâm hồn thì chỉ đáng cho khách khứa nghỉ chân, lui
tới trong ba ác mà khổ sở, qua lại trong tám nạn mà chua
cay, hân lạc thì tạm vui mà lo sợ lại suốt kiếp; một thân
chết đi lại chịu một thân khác. Dẫu thế trí biện thông,
sách vở đầy bụng, trăm nhà thấu suốt, chín phái rõ qua,
biết sống chết có mạng, giàu sang tại trời, quỉ thần
không thể đòi hỏi, thánh hiền không thể dự tri, ấy cũng
chưa thoát khỏi sự sai lầm để che lấp tâm tình hay sự
nghi ngờ từa tựa để lo nghĩ lông bông. Rồi phó thác cho
đồng bóng, đầu thành với phù chú, ôm lấy chuyện bậy
để hy vọng điều phải, giữ chặt việc giả để chờ đợi
sự chân, chần chờ hai lòng, trù trừ đôi ngả, thì Phật
dù có phóng quang động địa, ai mà có thể thấy cho ư? Sở
dĩ sách Phật lưu bố, ấy là giống như bày nơm mà chờ cơ.
Căn cơ động thì tất có cảm. Có cảm thì sau đó tất có
ứng vậy.
Tự
khi đặt chí vào nhà huyền, dốc hết lòng vào chỗ uyên áo,
rõ được mạng người như giọt sương mai, hiểu được ba
đời là không giả, thì phải tung mở cái thuật thanh chân,
kiểm chận lấy con đường trược giả, gầy đức nhổ tà
mà tà vẫn um tùm, trồng phước vun chính mà chính vẫn thưa
thớt, khổ tiết giành lấy thời gian với tấc bóng, sạch
mình tranh lại phút giây với già nua, ôm ấp lòng thành, bảo
hoài chí hướng, cho đến khi có cảm thì mọi việc liền
thông. Há lại không tự mình đem lấy ánh sáng quang minh mà
thấy được sự linh biến của nó đó hay sao? Hoặc qua sự
chứng kiến rõ ràng của tai mắt hoặc qua sự mơ thấy trong
giấc mộng như Hán Minh đế nhơn mộng mà thấy được đấng
Chí Thánh, đại pháp do thế mà đã du nhập Trung Quốc, vua
chúa đem hết lòng thành để trở về với bậc đức, anh
hào vén áo để được giáo hóa, sa môn sánh vai với vương
công, tăng ni trực cung trước thiên tử. Đối với 96 thứ
ngoại đạo thì ai là cao hơn?
Tống
Vũ Hoàng đế, khi mới lên ngôi, nằm mộng thấy một thầy
tu mang bát đến xin, nhân thế mà nói rằng: “Ông đời trước
vì bố thí cho Phật Di Vệ một bát cơm, nên nay mới được
ở ngôi này”, bèn sai đến hỏi Nghiêm công giải bày thực
giả. Nghiêm công liền đưa kinh Bảy Phật cho xem. Chúa Ngô
là Tôn Quyền ban đầu nghi Phật pháp không nghiệm, đáng nên
đình chỉ bãi bỏ, thì liền nhận được ngọc xá lỵ, chiếu
sáng rực rỡ, vàng sắt không thể đập nát, lò nung không
thể thiêu chảy, nay đang còn thấy ở chùa Kiến Sơ tại kinh
đô. Ngô quận có một tượng Phật đá, nổi trên nước biển,
đạo sĩ đồng cốt, người theo hàng trăm, ra vẽ phù đọc
chú, đánh trống nhảy múa, không một tên có thể làm nhúc
nhích. Năm sáu thầy tu cùng Chu Trương và khoảng bốn người
đã nhẹ nhàng nâng lên và cùng nhau bưng đi một cách dễ
dàng, tức nay thấy tại chùa Ngô quận Bắc. Thuần thành chí
đạo, thì không gì là không có cảm ứng. Nhà Chu Trương suốt
đời thờ Phật, do thế mà thấy được sự ứng nghiệm.
Quách Văn Cử sùng phụng Tam bảo, chính tín kiên minh, tay rờ
họng cọp, rất biết sự an nguy. Lan công phủi tuyết buốt
cho thú dữ, Hộ công cảm suối khô thành dòng nước lũ, họ
đều là những bậc cao hạnh siêu quần, thanh trần thoát tục
mà hành tích khác thường đều có ghi lại ở đời vậy.
Ngoài họ ra còn không biết bao nhiêu nữa.
Bần
đạo lúc nhỏ học hành nhác nhớm, nên đến khi bạc đầu
trở thành quê mùa cạn cợt; tỏ rõ lòng thành của mình,
thì lời thẳng văn vụn, vị tất có thể hoa mỹ nên sợ
không duẫn đáng. Suy đi nghĩ lại càng thêm thẹn thùng.
Kính
bạch.
Hậu
bút:
Tống
cư sĩ ở Kinh Châu làm ra quyển Minh Phật luận, bảo rằng,
theo lời thuật của Bá Ích trong Sơn hải kinh thì nước Thân
Độc gần người mà thương người. Quách Phác chú thích là,
Thân Độc tức là Thiên Trúc, nơi Phù đồ đang nổi lên -
Phù đồ tức Phật đó vậy. Liệt tiên truyện của Lưu Hướng
kể lại 47 người tiên trong kinh Phật. Đó phải là do cái
nhìn hẹp hòi về vấn đề ấy của những học giả, chứ
không phải là Phật giáo bắt đầu với Hán Minh đế. Nhờ
sự nhân từ thánh thiện tên Trừng vào thời Thạch Lặc và
Thạch Hổ đã gọi Hổ bảo rằng: “Tại chỗ chùa vua A Dư
xưa trong thành Lâm Truy còn có cái tháp hứng sương có một
bức tượng ở dưới một gốc cây lớn tại rừng sâu cách
đất khoảng hơn 20 trượng”. Hổ sai sứ giả y theo bản
đồ đào tìm thì được đúng như lời nói - Vua A Dư tức
là vua A Dục vậy. Chú của Diêu Lược là Tấn vương ở Phố
Pha Hà Đông. Ở chỗ mà những người già gọi là chùa vua
A Dục, ông thấy có ánh sáng lóe ra, bèn dục tìm được xương
Phật trong một hộp bạc tại một tráp đá sáng tỏa lạ
thường, theo đường nghênh về kinh đô ở Nghiệp, dâng lên
cho các Tỳ kheo, nay thấy tại chùa Tấn. Do đó, thấy rằng,
Phật sự có khắp đất Tấn đã lâu vậy. Sở dĩ nó không
được nói đến ở thời Tam đại, ấy cũng giống như các
cuốn sử của Can Bảo và Tôn Thạnh đã không nói đến sự
diệu hóa thật rõ của đức Phật đã có tiến bộ và thạnh
hành ở Giang tả vậy.