NIÊN
ĐẠI CỦA ĐẠO CAO,
PHÁP
MINH VÀ LÝ MIỄU
Qua
những bàn luận trên, bây giờ nó có thể trở nên rõ ràng
là, trong tình trạng tư liệu và dữ kiện hiện tại, chúng
tôi không thể xác định được một cách chắc chắn như
mong muốn những tác giả của Sáu lá thư trên là những người
ra sao, sống vào những năm tháng nào và viết những lá thư
tại những thời điểm nhất định nào. Điểm chắc chắn
là, họ phải viết chúng sau năm 435, năm Quân thiện luận
lưu hành, và trước năm 455, năm Đàm Hoằng tự thiêu tại
chùa Tiên Sơn. Từ những dữ kiện chắc chắn ấy, chúng tôi
đã dựa vào một số những bằng cớ trường tại và rút
ra niên đại 454-455 như là khoảng thời gian ra đời của Sáu
lá thư.
Nếu
chấp nhận khoảng thời gian đó, niên đại của Lý Miễu,
Đạo Cao và Pháp Minh có thể giả thiết như thế này. Miễu
có lẽ sống vào khoảng 400-470 và rất có thể đồng nhất
với Lý Trường Nhân. Lý Đam Chi, trước khi làm thứ sử Giao
Châu vào năm 435 đến 437, đã làm thứ sử Giao Chỉ. Ông do
đó, căn cứ vào nguyên lai của những thái thú, tất có thể
là người nước ta. Ông cùng với Lý Miễu và Lý Trường
Nhân có những liên lạc gì, ngày nay chúng ta không thể bàn
cãi được. Nếu Lý Đam Chi là Lý Miễu, thì cố nhiên niên
đại của Lý Miễu phải mở rộng ra và thành khoảng 390-470.
Nói cách khác, niên đại của Lý Miễu có lẽ nên đặt trong
khoảng 390-470, ngay cả khi ông chỉ sống giữa những năm 420-470.
Niên
đại của Pháp Minh, nếu lá thư thứ sáu của ông viết vào
khoảng 434-455, thì chúng ta có thể đặt ông giữa khoảng
370-460, bởi vì khi viết nó, ông đã “đầu bạc”. Về niên
đại của Đạo Cao, tuy Cao không cho biết tóc tai của ông
thế nào, nhưng với cách xưng danh “đại hòa thượng” của
Lý Miễu, ta có thể giả thiết ông sống cùng thời với Pháp
Minh, và chắc già hơn Pháp Minh. Hơn nữa, hai lá thư đầu
trả lời cho Lý Miễu thì do Đạo Cao viết, nhưng đến lá
thư thứ ba, Pháp Minh phải viết. Tại sao? Có thể Cao vì đau
yếu hay không muốn trả lời, nên đã giao cho Pháp Minh viết
hộ. Hay cũng có thể Đạo Cao đã chết, nên không thể viết
được. Dù với trường hợp nào chăng nữa, thì rõ ràng Đạo
Cao với chức vị “đại hòa thượng” của mình cũng phải
già hơn Pháp Minh. Vì vậy, chắc Đạo Cao phải sống giữa
những năm 365-455.
Bây
giờ, phối hợp niên đại này với những phê bình và dữ
kiện nêu trên, ta có thể vẽ sơ lại cuộc đời của Đạo
Cao thế này. Sinh khoảng năm 365. Ông viết Tá âm và Tá âm
tự khoảng những năm 390-450. Khoảng những năm 435-455 ông
viết những lá thư cho Lý Miễu. Ông mất khoảng năm 455 hay
trước đó, khi đang có những trao đổi thư tín giữa ông
và Miễu. Cuộc đời ông chắc viết nhiều, nên đã có Đạo
Cao pháp sư tập lưu truyền ở Trung Quốc cho đến khi nó lưu
lạc đến Nhật Bản và được ghi vào Nhật Bản quốc kiến
tại thư mục lục vào thế kỷ thứ IX.
Một
lần nữa, những niên đại ấy là những niên đại giả thiết.
Nếu nay mai những dữ kiện mới tìm thấy, như việc khai quật
gặp ngôi mộ hay bia văn của một trong những người vừa
kể chẳng hạn, chúng ta đương nhiên phải tái kiểm và tái
cải định chúng. Ở giai đoạn này, nếu chúng có thể được
chấp nhận, thì ít nhất trước Huệ Thắng và Đạo Thiền,
Phật giáo nước ta còn có hai vị sư khác, đó là Đạo Cao
(365-455) và Pháp Minh (370-460).
Trong
khi Đạo Cao và Pháp Minh đối diện với cuộc khủng hoảng
niềm tin do Quân thiện luận gây ra dưới ngòi bút của Lý
Miễu, thời một vị sư khác vẫn tiếp tục lối tín ngưỡng
thực tiễn của nền Phật giáo truyền thống. Vị sư ấy
ngày nay được biết dưới tên Hiền pháp sư. Để thấy rõ
những xu hướng cũng như những thái độ phản ứng chung của
Phật giáo thời bấy giờ đối với vấn đề tín ngưỡng,
ta nên tìm hiểu về vị sư này.
VỀ
HIỀN PHÁP SƯ
Hiền
pháp sư lần đầu tiên được Maspéro nêu ra trong bài nghiên
cứu về giấc mộng người vàng của Hán Minh đế trong liên
hệ với câu chuyện giấc mộng người vàng do Vương Diệm
ghi lại ở Minh tường ký. Có lẽ là Maspéro, đã Trung hóa
cách đọc tên của pháp sư thành Kiên, nên cả Trần Văn Giáp
lẫn thầy Mật Thể, mặc dù có kể đến bản nghiên cứu
vừa nói của Maspéro, đã không liệt ra cái tên Hiền pháp
sư, và không tra khảo nó, trong những luận văn của họ[69].
Thêm vào đó, vì chú trọng đến giấc mộng người vàng Maspéro
không bao giờ thử nghiên cứu vị sư tên Hiền pháp sư ấy,
trừ chuyện kể tới tên, như đã nói.
Ngày
nay, chúng ta có cả thảy ba tư liệu cho việc nghiên cứu vị
sư này, đó là một tóm tắt của Đạo Tuyên trong Tập Thần
châu tam bảo cảm thông lục quyển trung ĐTK 2106 tờ 419a15-b6
viết năm 664, mà hai năm sau Đạo Thế cho chép lại trong Pháp
uyển châu lâm 14 tờ 388c10-29 và tạo nên tư liệu thứ hai.
Cuối cùng là lời tự của chính Vương Diệm cho tác phẩm
Minh tường ký của ông, mà may mắn là Đạo Thế đã cho trích
một cách hoàn toàn cũng trong Pháp uyển châu lâm 17 tờ 411a8b13.
Căn
cứ vào tóm tắt của Đạo Tuyên thì: “Vào khoảng đầu
Tề Kiến Nguyên, Vương Diệm xưa khi tuổi còn nhỏ dại, ở
Giao Chỉ thọ ngũ giới với Hiền pháp sư. Sư cho một tượng
Quan Âm bằng vàng bảo cúng dường, Diệm bèn đem về Dương
Đô, gửi ở chùa Nam Giản. Diệm ban ngày ngủ, mộng thấy
tượng đứng ở một góc nhà, bèn cho là thật lạ, liền
đến chùa thỉnh về nhà. Chiều đó, Nam Giản mất hơn 10
tượng, người ta ăn trộm, để hủy mà đúc tiền. Đến
mùa thu Tống Đại Minh năm thứ 7, nó liền phóng quang, rọi
tới 3 thước, ánh vàng rọi lóa mắt, cả nhà đều thấy.
Sau đem tượng gửi ở chùa Đa Bảo, vì Diệm đi lên đất
Sở châu kinh. Trải gần 10 năm, không biết tượng ở đâu.
Đến khi về lại Dương Đô, bèn mộng thấy tượng rõ ràng
ở giữa những tiểu tượng tại phía đông của điện chùa.
Sáng mai bèn đến chùa thì tìm được như trong mộng, ấy
là ngày 13 tháng 7 năm Kiến Nguyên thứ nhất. Cho nên lời
tự của Diệm trong Minh tường ký nói rằng...”.
Đấy
là lời tóm tắt của Đạo Tuyên, mà Đạo Thế đã trích
dẫn. Chúng tôi cho dịch hết, trừ đoạn dẫn lời tự tựa
của Vương Diệm. Chúng tôi không cho dịch đoạn dẫn ấy,
bởi vì nó chỉ là một trích dẫn ngắn không đầy đủ và
vì chúng tôi có ý dịch cả lời tự tựa dưới đây.
Với
tóm tắt vừa nêu, thì Vương Diệm là người Thái Nguyên,
lúc nhỏ đến ở nước ta và thọ năm giới với một vị
sư, mà ký ức bé nhỏ của Diệm chỉ cho biết là tên Hiền
pháp sư. Vị sư cho Diệm một tượng Quan Âm và sau đó những
thần dị đã xảy ra giữa khoảng Tống Đại Minh và Tề Kiến
Nguyên, tức giữa khoảng năm 457- 483. Lời tóm tắt này như
vậy quá đại lược. Vì nó quá đại lược và vì tầm quan
trọng của việc xác định niên đại của vị sư, toàn lời
tự tựa của Diệm đáng được dịch ra đây.
Lời
tự tựa ấy như đã nói, may mắn được Đạo Thế cho dẫn
một cách đầy đủ trong bộ Pháp uyển châu lâm của ông.
Nó như thế này:
“Diệm
dưới thời Tống lúc nhỏ ở tại Giao Chỉ. Xứ ấy có Hiền
pháp sư là một vị sư chùa Đạo Đức - hay một vị sư Đạo
Đức - bèn thấy trao cho Diệm ngũ giới, rồi lấy một cái
tượng vàng Quán Thế Âm đem cho, bảo cúng dường. Hình của
tượng làm khác với ngày nay, nhưng không phải là loại rất
xưa. Nó được đúc trong khoảng Nguyên Gia, thêm công trau chuốt
nên tợ như có sự chân hảo. Diệm thỉnh về Dương Đô,
thì lúc đó tuổi mới lên tám, cùng với hai người em, thường
hết lòng siêng năng chuyên tinh cúng dường không mệt. Sau
nhà hư phải sửa, nên không có chỗ an thiết, phải đem gửi
trong chùa Nam Giản ở Kinh sư. Bấy giờ, trăm họ đua nhau
đúc tiền, cũng có kẻ ăn trộm vàng về phá ra mà đúc. Khi
ấy, tượng ở tại chùa đã trải vài tháng. Diệm ban ngày
nằm ngủ thì mộng thấy tượng đứng ở một góc nhà, ý
cho là rất lạ. Lúc ấy ngày đã chiều, Diệm lập tức chạy
đến chùa xin nghênh về. Tối hôm đó, hơn mười cái tượng
tại Nam Giản bị ăn trộm mất. Sau đấy khá lâu vào lúc
hoàng hôn, tượng phóng ánh sáng, chiếu dọi hơn ba thước,
ánh vàng đẹp dậy, sáng chóa cả mắt. Anh em của Diệm và
nô bộc trong nhà đều thấy, cả thảy hơn mười người.
Bấy giờ vì Diệm đang còn bé nhỏ, không thể lập tức ghi
chép, sau đó viết ra thì đã quên ngày tháng; chỉ nhớ là
ở vào mùa thu năm Tống Đại Minh thứ 7 thôi. Đến cuối
đời Thái Thỉ, Diệm dời đến ở chùa Chu Toàn phố Ô Y.
Nhà sư chùa ấy đem tấm tượng ấy quyền ngụ chùa Đa Bảo.
Diệm lúc đó tạm lên ở Giang Đô, vị sư ấy đồng thời
cũng đi lên Kinh sở, nên không biết tượng ở nơi đây, trải
gần mười năm, thường sợ thần tượng nhân đó mất tuyệt.
Đến cuối đời Tống Thăng Minh, lại lướt gót tới Giáp
Biểu, trong khi đi ngang qua Giang Lăng, thì gặp vị sa môn ấy,
mới biết cái tượng ở đâu. Năm ấy Diệm trở về kinh
sư, liền đến chùa Đa Bảo hỏi. Vị chủ chùa là Ái Công
nói 'không có cái tượng ấy'. Diệm trở về nhà, nghĩ vị
sư đó đi đứng đó đây nên làm mất cái tượng ấy, lòng
buồn vô hạn. Đêm ấy nằm mộng thấy một người hiện
ra nói rằng: 'Tượng ở tại Đa Bảo, Ái Công quên đó thôi,
đáng nên được đó'. Rồi hiện đem Diệm tới chùa, người
ấy tự tay mở điện, thì thấy tượng rõ ràng rành rành
giữa những tượng nhỏ tại phía đông của điện. Đến
sáng mai Diệm liền đến chùa nói cho Ái Công biết hết thảy
những gì mình mộng thấy. Ái Công liền vì thế mở điện,
thì quả nhiên thấy tượng tại phía đông của điện, như
ở trong mộng, liền đem tượng về. Lúc bấy giờ là ngày
13 tháng 7 năm Kiến Nguyên thứ nhất. Tượng ấy, Diệm ngày
ngày thường tự cúng dường, gần như là rường cột cho
suốt đời mình. Chép lại việc này, lòng tôi vẫn xúc động
sâu xa, nhân đó đem những gì mình đã thấy, dệt thành cuốn
ký này. Rằng soi nhận tình gần, không gì hơn là nghi tượng;
thụy nghiệm phát ra, phần lớn từ đấy mà nổi lên. Kinh
nói rằng: 'Những loại hình tượng đúc, đẽo, vẽ, dệt
đều có hành động và phát ra ánh sáng'. Nay hai bức tượng
Thích Ca và Di Lặc ở Tây Vức đã phát ra ánh sáng như ánh
bình minh, ấy bởi thuộc loại hình tướng đấy ư? Nay Hoa
Hạ đã rộng noi theo, nên thần ứng rất hiển trước, ấy
cũng vì qua năm, quần sinh nhạn gặp mà cảm, thì thánh linh
liền mượn nhờ ở gỗ đá mà hiện ra sự u dị, mà không
cần phải hình dung cho đẹp đẽ mới có thể được vậy.
Cho nên, đá chìm nổi đáy, thật làm rõ sự giáo hóa của
Mân Ngô; bụi vàng dờn dụa, dùng chỉ ra cái họa của Hành
Tống. Số còn lại giải bày cũng có liên hệ, tuy khó cắt
nghĩa một cách khúc chiết, nên đem hết chỗ hay của chúng
cùng họp lại thành từng mục. Rằng, nếu kinh tháp có hiển
hiệu thì sự chỉ chứng của chúng cũng giống thế. Về những
chuyện không được nhất quán cho lắm, tôi xếp chúng tiếp
theo ở cuối sách”.
Đấy
là toàn bộ lời tự tựa của Vương Diệm viết cho cuốn
Minh tường ký của ông vào khoảng những năm 479-502. Chúng
tôi cho dịch hết, không những vì nó sẽ giúp xác định niên
đại của vị sư tên Hiền pháp sư mà còn vì Vương Diệm
là một người đã sống tại nước ta và tiên phong khai sáng
ra nền văn học tiểu thuyết của Trung Quốc.
Nguyên
bản Minh tường ký ngày nay đã tán thất, nhưng được nhiều
tác phẩm Phật giáo trích dẫn, mà với một kiểm điểm sơ
sài, chúng tôi đã đếm tới hơn một trăm câu chuyện của
nó đã xuất hiện chỉ trong Pháp uyển châu lâm thôi. Nó chắc
chắn phải viết thời Nam Tề, tức khoảng năm 479-502, bởi
vì Huệ Hạo đã dẫn nó như một nguồn tài liệu trong lời
tựa ông viết vào năm 519 cho Cao tăng truyện 14 tờ 418b29-c1.
Căn
cứ vào lời tự tựa trên thì trong khoảng Nguyên Gia, Diệm
đang ở tại nước ta và thọ giới với một Hiền pháp sư.
Pháp sư cho ông một cái tượng đức Quán Thế Âm bằng vàng.
Đến tám tuổi, ông trở về Dương Đô, đem theo cái tượng
vàng ấy. Số tuổi này, chúng tôi dịch sát nghĩa đen của
chữ “điêu sấn” trong câu “thời niên đại điêu sấn”,
dựa trên định nghĩa của Hàn thi ngoại truyện, theo đó “con
trai tám tháng thì sinh răng, tám tuổi thì điêu răng; con gái
bảy tháng thì sinh răng, bảy tuổi thì sấn răng”. Thuyết
văn giải tự cho biết “sấn” có nghĩa “rụng”.
Đến
năm Tống Đại Minh thứ bảy, tức năm 463, Diệm đang còn
than vãn là “ấu tiểu” nên không thể làm chuyện “đề
ký tỷ gia soạn lục”, đến nỗi sau khi lớn lên, quên cả
ngày tháng xảy ra cái biến cố thần dị, ở đó cái tượng
Quán Thế Âm do Hiền pháp sư cho phóng quang, và chỉ nhớ năm
Đại Minh thứ 7 vừa nêu.
Bằng
hai chi tiết này, chúng ta có thể giả thiết là, Diệm ở
tại nước ta vào khoảng năm 445-450. Hiền pháp sư của chú
bé Diệm như vậy chắc phải sống giữa những năm 360-450.
Vì Hiền pháp sư truyền giới cho Diệm, lúc Diệm còn quá
nhỏ, nên trong lúc viết về nhà sư này, ông không có một
ký ức rõ ràng nào cho việc mô tả, mà chỉ có thể viết
một cách ngắn ngủi: “Hiền pháp sư giả, đạo đức tăng
dã”.
Bốn
chữ “đạo đức tăng dã” này, ở trên chúng tôi cho dịch
thành hoặc như “là một nhà sư chùa Đạo Đức” hoặc
như “là một nhà sư đạo đức”. Hai trường hợp này đều
có thể. Nếu là trường hợp đầu, chúng ta biết thêm một
ngôi chùa xưa nhất của nước ta, đấy là chùa Đạo Đức.
Nếu là trường hợp sau, giá trị tin tức của nó không gì
là nhiều, đấy là cách hiểu thông thường về bốn chữ
ấy. Dù với trường hợp nào đi nữa, Hiền pháp sư đã phải
sống vào khoảng 360-450 và đã có một ảnh hưởng sâu đậm
trên nhà văn nổi tiếng Trung Quốc với cái tượng Quan Âm
của người.
Về
Vương Diệm, một số người viết văn học sử Trung Quốc
đã coi ông như một nhà sư xuất gia tại nước ta[70], và
như vậy là một đệ tử của Hiền pháp sư. Nhưng căn cứ
vào lời tự tựa trên, thì điểm này không rõ ràng gì hết,
ít nhất là trước lúc Diệm tới ở chùa Ô Y khoảng những
năm 470-472, bởi vì ông không những nói tới căn nhà tranh
của ông, mà còn nói tới những nô bộc trong nhà. Trước
năm 470-472, Diệm chắc hẳn đang còn tại gia, và Hiền pháp
sư không gì hơn là một bổn sư qui y, chứ không phải là
một bổn sư thọ giới.
Với
sự có mặt mới này của Hiền pháp sư, lịch sử Phật giáo
nước ta trước năm 440 bây giờ có thêm một người nữa.
Điều đáng tiếc là, trong tình trạng nghiên cứu và tư liệu
hiện tại, chúng ta không thể biết gì hơn ngoài cái tên của
nhà sư. Và ngay cả cái tên ấy, nó cũng không phải là một
cái tên tiêu chuẩn đầy đủ ý nghĩa như đa số những tên
Phật giáo tiêu chuẩn khác.
Cố
nhiên, việc Diệm nhớ cái tên ấy như Hiền pháp sư, chứng
tỏ, vị sư ấy chắc hẳn được gia đình cha mẹ Diệm kính
trọng và tin tưởng một cách đặc biệt. Ông rất có thể
có một liên lạc mật thiết với gia đình Diệm, điển hình
là cái tượng ông cho Diệm và bảo Diệm hãy cúng dường.
Trong
lời tự tựa trên, Diệm không cho ta biết nguyên quán ở đâu.
Theo Huệ Hạo, từ đấy Đạo Tuyên, thì Diệm đến từ quận
Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây. Một lần nữa, đó là tất cả
những gì chúng ta biết về nhà văn, và rất có thể nhà sư
này, vì thế không thể bàn cãi gì thêm. Tuy thế, chúng tôi
nghĩ, dù phát tích từ Trung Quốc, Diệm rất có thể đã sinh
ở nước ta, căn cứ vào sự thọ giới sớm kể trước.
Điều
đáng ngạc nhiên là, trừ cái tượng Quan Âm thần dị ấy,
những trích dẫn còn lại hiện nay trong những bộ sách Phật
giáo Trung Quốc như Tập Thần châu tam bảo cảm thông lục
hay Pháp uyển châu lâm v.v... không một câu chuyện nào đã
liên hệ với tình trạng Phật giáo nước ta. Trong khi đó,
nước ta chắc chắn không phải là thiếu những chuyện thần
dị kiểu của Minh tường ký.
Sự
vắng mặt này không biết đã đến chính từ Diệm hay từ
những người trích dẫn Trung Quốc, vì nguyên bản của Minh
tường ký ngày nay đã tán thất, như đã nói[71]. Dù không
có một bằng cớ hiển nhiên nào, chúng tôi nghĩ, sự vắng
mặt xảy ra vì những người trích dẫn. Bởi vì về một
mặt Diệm nói tới chuyện ông “tu phục kỳ sự, hữu cảm
thân hoài, diên thử trưng dịch”, để “chuyết thành”
cái cuốn Ký của ông. Về mặt khác, nước ta có những chuyện
thần dị xuất hiện vào thời Diệm làm chuyện chuyết thành
đó, kiểu câu chuyện Lý Thúc Hiến và Huệ Đào, mà chúng
ta đã có dịp thưởng thức ở trên.
Dẫu
với những thiếu thốn và bất xác đáng tiếc ấy, việc
có một pháp sư tên Hiền sống vào khoảng những năm 360-450,
là một điều chắc chắn. Qua những phân tích trên, ta thấy
dù có những luận điểm do những lá thư của Lý Miễu nêu
lên, niềm tin vào sự thần dị linh ứng vẫn tiếp tục được
ngợi ca và cổ xúy. Dĩ nhiên, xu hướng chung hẳn phải là
chống một niềm tin như vậy, nên sau này Vương Diệm, vị
học trò của Hiền pháp sư, đã phải viết Minh tường ký
để xác định và tuyên truyền niềm tin tưởng vào u minh,
vào những điềm lành, điềm gở. Điều này, ta sẽ thấy
rõ, khi phân tích nội dung của cuộc khủng hoảng.