GIỚI
THIỆU
TẠP
THÍ DỤ KINH
Kể
từ thời Đàm Thiên (542-607), người ta đã biết trong khi miền
Nam Trung Quốc chưa có kinh sách Phật giáo, thì ở nước ta
đã dịch được 15 bộ kinh, như Thiền uyển tập anh[15] đã
ghi. Thế thì, 15 bộ kinh mà Đàm Thiên nói tới này, ngày nay
ta có thể biết gì về chúng chăng? Và chúng gồm những bộ
sách nào? Để trả lời những câu hỏi ấy, chúng tôi cho
nghiên cứu lại toàn bộ những tác và dịch phẩm của Khương
Tăng Hội hiện còn, và phát hiện ra một hiện tượng khá
lý thú là hai tác dịch phẩm lưu hành khá rộng rãi của Khương
Tăng Hội đã chứa đựng một số những cấu trúc tiếng
Việt cổ[16]. Hiện tượng có mặt các cấu trúc này dẫn
chúng tôi đến kết luận là có tồn tại một tạng kinh tiếng
Việt vào thế kỷ thứ hai để làm bản đáy cho những bản
dịch của Khương Tăng Hội, mà nổi bật nhất là Lục độ
tập kinh[17].
Đồng
thời chúng tôi cũng cho nghiên cứu lại những bản kinh Phật
giáo bị “thất dịch” và thường được xếp vào thời
Hậu Hán, mà điển hình là Tạp thí dụ kinh.
I.
Vấn đề truyền bản và tên gọi
Tên
gọi Tạp thí dụ kinh 2 quyển xuất hiện lần đầu trong Xuất
tam tạng ký tập 4 ĐTK 2145 tờ 22a5 và được xếp vào loại
“thất dịch tạp kinh”. Chúng kinh mục lục 6 ĐTK 2146 tờ
144b7 của Pháp Kinh ghi tên Tạp thí kinh 2 quyển, một tên là
Bồ tát độ nhân kinh. Chúng kinh mục lục 2 ĐTK 427 tờ 161b19
của Ngạn Tôn năm Nhân Thọ thứ 2 cũng ghi thế và xếp vào
loại “trùng phiên”. Chúng kinh mục lục 2 ĐTK 2148 tờ 196a24
của Tỉnh Thái thay vì tên Tạp thí kinh, lại ghi Tạp thí
dụ kinh 2 quyển, một tên Bồ tát độ nhân kinh, 26 tờ và
cũng xếp vào loại “trùng phiên”. Đạo Tuyên viết Nội
điển lục 7 ĐTK 2149 tờ 301c23 và 9 tờ 325b21 ghi Tạp thí
dụ 2 quyển 26 tờ, một tên Bồ tát độ nhân kinh và xếp
vào loại “Tiểu thừa tạng kinh” và “cử yếu chuyển
độc”. Tỉnh Mại viết Cổ kim dịch kinh đồ ký 1 ĐTK 2151
tờ 250n27 ghi Tạp thí dụ kinh 2 quyển vào loại “thất dịch
nhân danh” của đời Hán. Đây là lần đầu tiên Tạp thí
dụ kinh được xếp vào loại “thất dịch đời Hán”. Đến
Minh Thuyên soạn Đại Châu san định chúng kinh mục lục 11
ĐTK 2153 tờ 438b20 và 442a17 cũng xếp nó vào loại “thất
dịch” thuộc đời Hán. Tạp thí dụ kinh 1 bộ 2 quyển, một
tên là Bồ tát độ nhân kinh 26 tờ. Trí thăng viết Khai Nguyên
thích giáo lục 13 ĐTK 2154 tờ 623a10 chép: “Tạp thí dụ kinh
2 quyển, một tên Bồ tát độ nhân kinh, thất dịch, tại
Hậu Hán Lạc Dương...” Trinh Nguyên tân định thích giáo
mục lục 2 ĐTK 2157 tờ 781a6 của Viên Chiếu cũng xếp vào
loại “thất dịch” đời Hán.
Qua
các bản kinh lục, Tạp thí dụ kinh như thế được xác định
là một bản “thất dịch nhân danh” từ lâu và đến Tỉnh
Mại thì được xếp hẳn vào loại “thất dịch” của đời
Hán. Minh Thuyên, Trí Thăng và Viên Chiếu đồng ý với lối
xếp loại và niên đại đó. Về tên gọi, ngoài tên Tạp
thí dụ kinh, từ Pháp Kinh trở đi, nó còn có tên Bồ tát
độ nhân kinh. Tên này gọi rõ ràng là lấy bốn chữ đầu
của bản kinh mà đặt. Điều đó chứng tỏ có lúc người
ta đã không biết tên chính thức của bản kinh là gì. Cho
nên, họ lấy bốn chữ bắt đầu bản kinh để đặt tên
cho nó. Và cũng nhờ tên gọi bốn chữ này, ngày nay ta có
thể chắc chắn là truyền bản Tạp thí dụ kinh 2 quyển,
mà Pháp Kinh chỉ có chép là Tạp thí kinh và Ngạn Tôn cũng
như Tỉnh Thái cũng đều làm như thế, thực sự là chỉ bản
Tạp thí dụ kinh của Tỉnh Mại, Minh Thuyên, Trí Thăng, Viên
Chiếu và bản in Tạp thí dụ kinh hiện nay.
II.
PHÂN TÍCH NỘI DUNG
Truyền
bản hiện nay gồm hai quyển thượng và hạ, có cả thảy
32 truyện. Quyển thượng có 14 truyện từ 1 đến 14. Quyển
hạ gồm 18 truyện còn lại từ 15 đến 32. Gọi là “truyện”,
nhưng thực chất có những “truyện” không phải là truyện.
Cụ thể là các truyện đánh số 1, 2 và 32. Đó là các lối
nói ví von, “thí dụ”, mà Lý hoặc luận có dịp đề cập
và phê phán (điều 18). Còn lại như vậy là 29 truyện.
Trong
29 truyện này, 11 truyện là những ngụ ngôn, nói lên một
khía cạnh của giáo lý, gồm các truyện 4, 8, 16, 23, 24, 25
và 27 đến 31. Thí dụ, truyện 4 nói đến lý thuyết 4 “đại”
là bốn con rắn độc cắn chết người. Hay truyện 23 ghi nhận
một sự thực là con người ai cũng phải chết qua việc người
mẹ không đi xin lửa được từ một nhà “không có ai chết”,
xác nhận cho tuyên bố của Mâu Tử trong Lý hoặc luận là
“không có cái đạo bất tử” (điều 34). Nói tóm lại,
chúng chủ yếu là những truyện ngụ ngôn, minh họa cho một
luận đề giáo lý.
Còn
lại 18 truyện. Nét nổi bật của các truyện này là việc
nhấn mạnh đến “oai thần” của đức Phật, “thần thông”
của các nhà sư. Đây phải nói là một khía cạnh đặc trưng
của nền Phật giáo truyền vào nước ta ở những thế kỷ
đầu. Tuy cũng quan tâm một cách nồng nhiệt đến những vấn
đề thiết thân của đời sống, những vấn đề của đất
nước, chính quyền, phẩm chất đạo đức của từng con người
v.v... như đã thấy trong Lục độ tập kinh, nền Phật giáo
ấy không quên trình bày mặt “siêu phàm” của đời sống
Phật giáo với một đức Phật có “oai thần” và các phương
pháp để đạt tới một số phẩm chất “siêu phàm” đó.
Tình
trạng này phản ảnh quan niệm Phật thể của Mâu Tử trong
điều 2 của Lý hoặc luận, theo đó “Phật là nguyên tố
của đạo đức, là đầu mối của thần minh.... nhanh chóng
biến hóa, phân thân tán thể, hoặc còn hoặc mất, hay lớn
hay nhỏ, hay tròn hay vuông, hay già hay trẻ, hay ẩn hay hiện,
đạp lửa không bỏng, đi dao không đứt, muốn đi thì bay,
ngồi thì phóng quang...”
Và
phương pháp để đạt đến những phẩm chất ấy không phải
không được đề ra. Lục độ tập kinh 7 ĐTK 152 tờ 39b16-23
viết: “Bồ tát tâm tịnh, đạt được tứ thiền kia thì
tự do theo ý, cất nhẹ bay bổng, đạp nước mà đi, phân
thân tán thể, biến hóa muôn cách, ra vào liên tục nơi không
hở, còn mất tự do, rờ trời trăng, rung đất trời, nghe
thông thấy suốt, không gì là không thấy nghe...” Đó là
phương pháp “sáu mầu nhiệm”, mà Khương Tăng Hội giới
thiệu trong An ban thủ ý kinh tự do Tăng Hựu chép lại trong
Xuất tam tạng ký tập 6 ĐTK 2145 tờ 43a1-c3, bao gồm sổ, tùy,
chỉ, quán, hoàn và tịnh.
Những
phẩm chất “siêu phàm” ấy do thế không chỉ là những
phẩm chất giả định biểu lộ một ước mơ. Ngược lại,
chúng là những phẩm chất có thực, có thể đạt được
thông qua một quá trình luyện tập sáu phương pháp “mầu
nhiệm” (lục diệu pháp môn) vừa nói, chứ không phải bằng
việc tắm “nước sông Hằng” để được thần thông, như
truyện 14 đã ghi. Chúng là những phẩm chất phụ của một
người giác ngộ, có tác dụng giác ngộ người khác như truyện
11, 12 và 13 mô tả. Nhưng những người chưa giác ngộ vẫn
có thể sở hữu chúng, và đem phục vụ những mục đích
phàm tục, thậm chí tội ác, như truyện 13 và 15 chứng tỏ.
Chúng có những hạn chế của chúng với một xác nhận là
“sức mạnh của thần thông không bằng sức mạnh của trí
tuệ”, như truyện 10 đã long trọng tuyên bố.
Điểm
lôi cuốn là xác nhận ấy lại chính do một người nổi tiếng
là thần thông số một của Phật giáo nói ra, đó là Mục
Liên. Điều này phản ánh một thực tế là Phật giáo tuy
có nói đến thần thông, nhưng bản chất vẫn là đạo trí
tuệ, coi trí tuệ vừa là phương tiện vừa là mục tiêu của
giác ngộ, là “thành tát vân nhã”, đầy đủ mọi thứ,
“không gì là không có” như truyện 18 đã nói. Tát vân nhã
là phiên âm của tiếng Phạn Sarvajnõa và thường dịch là
“nhất thiết trí”, trí hiểu biết hết thảy. Nó thường
dùng để tôn xưng đức Phật. Do thế, vai trò trí tuệ vẫn
được chú trọng và đề cao.
Vậy,
nền Phật giáo những thế kỷ đầu tại nước ta, dù có
một Phật thể quan mang tính quyền năng, vẫn không để vuột
mất sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử Phật giáo, đó là
trí tuệ và việc nhấn mạnh đến vai trò của trí tuệ. Cho
nên, bên cạnh công trình tôn thờ “tứ pháp” của Lĩnh
Nam chích quái, ta vẫn có những tác phẩm mang đầy tính trí
tuệ như Lý hoặc luận của Mâu Tử, trình bày hết sức khúc
chiết, minh bạch quan điểm của người Phật giáo Việt Nam
trước những vấn nạn đưa tới cho họ. Bên cạnh việc nói
đến thần thông, người ta vẫn nhấn mạnh đến sự nghiệp,
“vâng lời thánh giáo, giữ thân miệng ý” (truyện 18 ),
“đến việc chọn bạn mà chơi” (truyện 2 ), “đến việc
gầy dựng công đức” (truyện 6), “tuân giữ năm giới,
mười lành, bốn đẳng, sáu độ” (truyện 8, 16).v.v... Đặc
biệt việc xác nhận “được năm thần thông không phải
là đạo kiên cố, không thể nhờ cậy được” (truyện 15).
Ngoài
ra, một nét nổi bật khác của Tạp thí dụ kinh là sự kiện
nhấn mạnh đến việc cúng dường và những lợi ích của
nó. Trong 12 truyện đề cập đến khía cạnh này, ba truyện
nói tới việc cúng dường đức Phật (truyện 10, 17 và 28),
hai truyện nói tới việc cúng dường tháp tượng. Bảy truyện
còn lại đề cập tới việc cúng dường cho các đệ tử
Phật, các “đạo nhân”. Có hai điểm thú vị của việc
đề cập này.
Thứ
nhất, nó đặt vấn đề “vô ích” của các “sa môn đạo
nhân”. Đó là họ “không làm ruộng, không đi lính, không
làm bề tôi cho vua” (truyện 7). Một vấn đề phải đợi
đến hơn 500 năm sau Hàn Dũ mới nêu lên ở Trung Quốc. Trong
khi đó, ngay vào những thế kỷ đầu của Phật giáo nước
ta, nó đã được bàn tới một cách công khai với một biện
pháp giải quyết khá triệt để, ấy là nạp xác cho “quỉ
ăn thịt”. Cuối cùng, bằng thần thông, một “sa di mới
13 tuổi” đã bắt hết quỉ, cạo đầu, giảng đạo cho chúng
và chúng đã chứng quả. Tất nhiên, đó là một lối giải
quyết theo truyện kể.
Thực
tế có thể phức tạp hơn nhiều. Cho nên, đối diện với
vấn đề ấy, Mâu Tử một mặt thừa nhận “sa môn giữ
250 giới, ngày ngày chay, (...) suốt ngày thâu đêm giảng đạo,
tụng kinh, không dự việc đời” (điều 1) và “sa môn mặc
áo đỏ, ngày ăn một bữa, đóng cửa sáu tình, tự dứt với
đời” (điều 19). Nhưng mặt khác ông cũng ghi nhận tình
trạng “sa môn mê thích rượu ngon, hoặc nuôi vợ con, mua
rẻ bán đắt, chuyên làm dối trá” (điều 16). Điều này
cho thấy, đứng trước hai yêu cầu đôi khi mâu thuẫn nhau
của đời sống Phật giáo, đó là yêu cầu tỉnh tu truyền
giáo và yêu cầu tham gia lao động sản xuất, người Phật
tử Việt Nam đã sớm nhận ra vấn đề và cách thức giải
quyết, mà sau này Đạo Cao đã nói rõ trong lá thư gửi Lý
Miễu của ông: “Có người ngồi thiền trong rừng rú, có
kẻ tu phước bên cạnh thành, ca tán tụng vịnh đều là làm
việc đạo cả”.[18] Yêu cầu nào cũng đều thể hiện đời
sống đạo cả, nên phải được đáp ứng một cách thỏa
đáng và chứng tỏ đời sống đạo là hữu ích.
Điểm
thứ hai là khi nói đến cúng dường, Tạp thí dụ kinh đã
có một quan tâm đặc biệt đến những người nghèo, đến
những người với những phương tiện hạn chế, như ba tiều
phu của truyện 31, thậm chí không có một phương tiện gì
như lão mẫu của truyện 3. Đây là một mối quan tâm đặc
biệt, bởi vì theo truyện 21, nó là bản nguyện của vị đệ
tử số một của đức Phật là Ma Ha Ca Diếp. Ca Diếp chỉ
muốn “độ người bần cùng, một mình không chịu nhận”
sự cúng dường của nhà giàu. Phải nói đó là một nét đặc
trưng khá lôi cuốn của bản kinh này. Nó nói lên một thực
trạng là vào những ngày tháng đầu tiên lúc mới truyền
tới nước ta, Phật giáo đã chọn đứng về phía những người
nghèo (truyện 3, 21,28, 30 và 31), bất hạnh, đang khổ đau (truyện
20, 23), chống đối những kẻ giàu keo kiệt bủn xỉn (truyện
17), những kẻ ỷ quyền, ỷ vào sức mạnh (truyện 13), bạo
lực (truyện 8).
Nó
xác định cho Phật giáo một chỗ đứng giữa lòng dân tộc
Việt Nam, đặc biệt sau sự biến năm 42, khi nhà nước Hùng
Vương bị quân đội Mã Viện đánh sụp, kéo theo một loạt
đổ vỡ dây chuyền trong đời sống kinh tế, xã hội và văn
hóa, mà phải mất hàng chục năm mới có thể ổn định lại
được. Trong cơn lốc chính trị, kinh tế, văn hoá đó, việc
chọn đứng về phía những người nghèo, người bất hạnh,
khổ đau nhất định đem lại cho Phật giáo một vị thế
có được những tiếng nói có quyền uy giữa đại đa số
dân chúng. Đây cũng là lý do tại sao Phật giáo trở thành
nơi gửi gắm những đạo lý tinh hoa của dân tộc, những
truyền thống ngàn đời của người Việt, như ta đã thấy
trong Lục độ tập kinh.
Ngoài
hai nét đặc trưng vừa nói, Tạp thí dụ kinh với chức năng
là một bản kinh, tất phải chuyển tải một hệ thống giáo
lý. Tuy đơn giản, hệ thống này tương đối hoàn chỉnh với
các giáo lý “bốn sự thật, khổ, không, phi thân” (truyện
4) “năm giới, mười lành, bốn đẳng, sáu độ” (truyện
8), “bốn đẳng, sáu độ, 37 phẩm trợ đạo” (truyện 18),
ngu không biết gì là gốc của 12 nhân duyên (truyện 22), “năm
ấm không có gì” (truyện 27), “năm ấm, bốn đại, khổ,
không” (truyện 29). Và đặc biệt nó nhắc tới Duy Ma Cật
và giáo lý bốn ơn (truyện 27 và 2).
Như
vậy, ngay từ những thế kỷ đầu của Phật giáo ở nước
ta, không chỉ những giáo lý cơ bản chung cho các hệ phái
như bốn sự thật, mười hai nhân duyên, khổ, không, vô ngã,
bốn đẳng, sáu độ, 37 phẩm trợ đạo, năm giới, mười
lành được thuyết giảng, mà một số tư tưởng đặc biệt
Đại thừa đã truyền vào và được phổ biến rộng rãi.
Cụ thể là tư tưởng “Năm ấm không có gì”. Tư tưởng
này về sau được biết dưới tên “Năm ấm đều không”
và trở thành cốt lõi của hệ tư tưởng bát nhã. Điều
này chứng tỏ cùng với quan niệm Lục độ tập kinh, tư tưởng
bát nhã được truyền vào nước ta rất sớm, song lôi cuốn
nhất là việc nhắc đến Duy Ma Cật và lời phát biểu của
ông: “Thân như đám bọt” (truyện 27).
Nhân
vật Duy Ma Cật là một nhân vật đặc biệt đại thừa và
tư tưởng của ông cũng là một hệ tư tưởng đặc biệt
đại thừa. Nó tiêu biểu cho khuynh hướng thế tục hóa Phật
giáo, xác định một lối sống Phật giáo lấy thế tục làm
mục đích và chỉ hiện diện ở thế tục. Đó vừa là bản
chất vừa là diệu dụng của giác ngộ, là cốt lõi của
tư tưởng “Phật giáo bất ly thế gian giác” của Huệ Năng
và chủ trương “Cư trần lạc đạo” của Trần Nhân Tông.
Việc xuất hiện khá sớm của nhân vật Duy Ma Cật đây là
khá lôi cuốn, dù lúc ấy bản kinh Duy Ma Cật được dịch
qua tiếng Trung Quốc nếu không phải do Nghiêm Phù Điều vào
năm 188 như Cổ kim dịch kinh đồ kỷ 1 ĐTK 2141 tờ 350a-29b1
và Nội điển lục 1 ĐTK 2149 tờ 224c5 đã ghi, thì cũng không
thể muộn hơn năm 250, khi Chi Khiêm dịch nó, như Chi Mẫn Độ
nói trong Hợp Duy Ma Cật kinh tự của Xuất tam tạng ký tự
tập 8 ĐTK 2148 tờ 58b25 đã xác nhận.
Việc
xuất hiện khá sớm này là lôi cuốn, vì nó giải thích không
ít cho ta quan điểm “đạo” của Mâu Tử trong điều 4 của
Lý hoặc luận là “tại gia có thể dùng để thờ cha mẹ,
giúp nước có thể dùng để trị dân, sống riêng có thể
dùng để tu thân”. Nó cũng lý giải cho ta tại sao lại tồn
tại hai hình ảnh trái ngược về “sa môn”, về những người
lấy Phật giáo làm lẽ sống duy nhất của đời mình, của
Phật giáo nước ta thời Mâu Tử. Một bên là các sa môn “mê
thích rượu ngon, hoặc nuôi vợ con, mua rẻ bán đắt, chuyên
làm dối trá” (điều 16), và bên kia cũng là “các sa môn
mặc áo đỏ, ngày ăn một bữa, đóng cửa sáu tình, tự dứt
với đời” (điều 19). Như vậy bên cạnh những Phật tử
tự dứt với đời để đi tìm giác ngộ, vẫn có những Phật
tử đi tìm giác ngộ giữa cuộc đời và trong cuộc đời
muôn mặt của nó.
Dù
lối sống của những Phật tử dạng sau bị người đối
thoại của Mâu Tử cho là “đại ngụy”, trái với lý tưởng
“vô vi” của đạo Phật đời ấy, sự thật vẫn cho thấy
có một khuynh hướng sống đạo theo điều 16 mô tả. Phải
chăng họ là những Duy Ma Cật bằng xương bằng thịt hoạt
động giữa lòng cuộc đời Việt Nam thời Mâu Tử? Đây là
một có thể, vì hiện nay ta chưa có đầy đủ dữ kiện để
phủ định hay hoàn toàn khẳng định. Điều thú vị là người
Phật giáo thời ấy vẫn có một quan tâm đặc biệt về cuộc
đời, về đất nước, như chính Lục độ tập kinh đã chứng
tỏ, nếu họ không vươn lên để trở thành Duy Ma Cật Việt
Nam. Đây là một điểm cần lưu ý khi tìm hiểu Phật giáo
nước ta những thế kỷ đầu. Và chính họ đã tạo nên mô
hình sống đạo cho những người Phật giáo về sau như Lý
Miễu, Vạn Hạnh, Trần Nhân Tông, Lương Thế Vinh, Ngô Thì
Nhiệm v.v...
Kinh
Tạp thí dụ như thế tỏ ra khá lôi cuốn cho việc nghiên
cứu không chỉ lịch sử Phật giáo nước ta, mà còn ngôn
ngữ, tư tưởng, và văn học Việt Nam.
III.
VẤN ĐỀ NIÊN ĐẠI VÀ NGÔN NGỮ
Vậy,
từ thời Tỉnh Mại trở đi, Tạp thí dụ kinh được xếp
vào loại “thất dịch” của đời Hán. “Thất dịch”
nói cho đủ là “thất dịch nhân danh”, nghĩa là “mất
tên người dịch”. Như thế, đối với Tỉnh Mại, Tạp thí
dụ kinh phải được dịch từ những năm 220 trở về trước.
Tất nhiên, khi xếp loại kiểu ấy, Tỉnh Mại, Minh Thuyên,
Trí Thăng và những người về sau đã thực hiện công tác,
mà Tăng Hựu của Xuất tam tạng ký tập 4 tờ 21b22 đã gọi
là “thù giảo hiệu”, tức là so sánh các bản văn với
nhau, đánh giá khả năng xuất hiện của chúng vào thời điểm
nào. Bản thân Tăng Hựu chắc chắn đã làm công tác ấy,
nhưng hẳn vì thiếu dữ kiện, nên chưa đi đến một kết
luận về thời điểm xuất hiện của Tạp thí dụ kinh. Ông
viết: “Rồi đạo lớn truyền vào, qua sáu triều đại, soạn
ghi các sách, chỉ thấy An Công”. An Công đây là Đạo An
và bản Tổng lý chúng kinh mục lục của ông.
Thế
nhưng, đến Phí Trường Phòng soạn Lịch đại tam bảo ký
và Đạo Tuyên viết Đại Đường nội điển lục 10 ĐTK 2149
tờ 336b11 họ kể một loạt tên “24 nhà, xét truyện ghi thì
có, mà chưa thấy văn bản, nên chỉ kê mà thôi”, như Cổ
kinh lục có vẻ của Thích Lôi Phòng thời Tấn, Cựu lục
có vẻ của Lưu Hướng thời Hán, Hán thời Phật kinh mục
lục có vẻ do Ca Diếp Ma Đằng soạn, Hán lục của Chu Sĩ
Hành, Chúng kinh lục của Trúc Pháp Hộ v.v... Những liệt kê
này, chắc chắn đã qua tiếp thu thành quả từ các kinh lục
của Bảo Xướng, Lý Quách, Pháp Thượng, ngoài Tăng Hựu và
Chúng kinh biệt học của một tác giả vô danh đời Lưu Tống.
Như thế, đến thời họ, đặc biệt sau khi Dương Kiên đã
thống nhất Trung Quốc và lập nên nhà Tùy, một loạt các
kinh lục đã xuất hiện.
Do
vậy, việc xếp Tạp thí dụ kinh như một dịch phẩm đời
Hán chắc chắn đã có một lịch sử lâu dài, chứ không phải
chỉ từ thời Tỉnh Mại trở đi.
Có
khả năng Tỉnh Mại đã tiếp thu ý kiến của một số kinh
lục trước. Dù tiếp thu hay tự nghiên cứu rồi kết luận
về thời điểm đời Hán của Tạp thí dụ kinh, Tỉnh Mại
đã không để lại lý do cho một xếp loại như thế. Tuy nhiên,
ta ngày nay có thể đoán ra là ông phải dựa vào việc phân
tích ngôn ngữ và tư tưởng của bản kinh để có kết luận
trên. Cụ thể là việc sử dụng một số từ đặc thù dùng
cho một thời kỳ nhất định trong lịch sử dịch thuật Trung
Quốc. Thí dụ những cụm từ “phát vô thượng chánh chân
đạo ý” (truyện 9,10,11,13), “ngũ ấm, lục suy, khổ, không,
phi thân” (truyện 4), “vô thân chi quyết” (truyện 29) v.v...
những phiên âm “a duy tam Phật” (truyện 8), “tát vân nhã”
(truyện 18) v.v... những quan điểm “đời sau thọ phước
thiên đường” (truyện 16), “năm giới mười lành... không
phá mất, được cùng ở với Phật” (truyện 16) v.v... Thông
qua những vết tích như thế, bất cứ một người nghiên cứu
nào, chứ không nhất thiết là Tỉnh Mại, cũng có thể kết
luận Tạp thí dụ kinh là một bản kinh thuộc về thời kỳ
cổ dịch, tức thời kỳ Hán Ngụïy.
Vấn
đề niên đại của Tạp thí dụ kinh tự thân nó do đó không
lôi cuốn chúng ta cho lắm. Điểm lôi cuốn nằm ở chỗ với
một niên đại thuộc đời Hán như thế, nó cung cấp cho chúng
ta những tín hiệu gì về bản thân nó? Về mặt ngôn ngữ,
nó hiện chứa đựng một số cấu trúc ngữ học không được
viết theo ngữ pháp Trung Quốc. Trái lại, chúng được viết
theo ngữ pháp tiếng Việt. Nổi bật và điển hình nhất là
cấu trúc “tượng Phật” của truyện 31 trong Tạp thí dụ
kinh quyển hạ tờ 510a5. Cấu trúc này, các bản khắc đời
Tống (1239), Nguyên (1290) và Minh (1601) có điều chỉnh lại
thành “Phật tượng” theo đúng ngữ pháp tiếng Trung Quốc.
Nhưng các bản khắc Cao Ly (1151 và sau đó) trước các bản
khắc Trung Quốc hiện còn vẫn giữ nguyên cấu trúc cũ.
Cấu
trúc cũ đó phải chăng là một khắc chép sai cần điều chỉnh,
như các bản in Tống, Nguyên, Minh đã làm? Bình thường người
ta sẽ nghĩ như thế, bởi vì Tạp thí dụ kinh là một bản
văn tiếng Trung Quốc. Cho nên, nếu có những cấu trúc viết
không đúng theo ngữ pháp tiếng Trung Quốc, chúng phải được
xem như những sai lầm lệch lạc cần điều chỉnh lại cho
đúng. Tuy nhiên, do hiện tượng Lục độ tập kinh có quá
nhiều cấu trúc viết theo ngữ pháp tiếng Việt, ta không thể
đơn giản coi những cấu trúc kiểu “tượng Phật” ở trên,
tuy đơn độc, là những khắc chép sai của những người làm
công tác khắc chép trong quá trình lưu truyền bản kinh. Ngược
lại, phải đánh giá chúng như những chứng tích còn sót lại
báo cho chúng ta biết việc từng tồn tại một thời một
văn bản viết theo ngữ pháp của những cấu trúc đó.
Đúng
là cấu trúc “tượng Phật” là cấu trúc duy nhất rõ ràng
viết theo ngữ pháp tiếng Việt không thể nào chối cãi được,
trong toàn bộ bản văn Tạp thí dụ kinh. Nó có vẻ đơn độc
và dễ đưa ta đến nhận định nó là một lệch lạc, một
khắc chép sai trong quá trình lưu truyền. Thực tế, nếu không
có bản khắc Cao Ly, mà chỉ có các bản khắc Tống, Nguyên,
Minh, ta ngày nay chắc chắn không thể có cấu trúc “tượng
Phật” để bàn cãi, chứ khoan nói chi tới chuyện xác định
xem Tạp thí dụ kinh xuất phát từ đâu? Tuy vậy, như đã
nói, việc tồn tại một loạt các cấu trúc tiếng Việt trong
Lục độ tập kinh buộc ta phải xem xét các cấu trúc có vẻ
lệch lạc, đơn độc trên với một nhãn quan mới đầy trân
trọng, nghiêm túc. Phải thừa nhận sự xuất hiện của chúng
là có tính hệ thống và phản ảnh một hiện thực. Thế
cấu trúc “tượng Phật” báo cho ta điều gì?
Thứ
nhất, nó là một cấu trúc thuần túy theo ngữ pháp tiếng
Việt, phản ảnh một phần nào hiện thực tiếng nói dân
tộc ta cách đây trên 1800 năm vào thế kỷ thứ II. Thứ hai,
nó giúp ta giả thiết, như trường hợp Lục độ tập kinh,
là có sự tồn tại một nguyên bản tiếng Việt của Tạp
thí dụ kinh làm bản đáy cho việc dịch lại bản Tạp thí
dụ kinh tiếng Trung Quốc hiện còn. Thứ ba, người dịch có
thể là một dịch giả Việt Nam. Cho nên, ngoài cấu trúc “tượng
Phật” đây, ta thấy còn có một số cấu trúc khác mang dáng
dấp ngữ pháp tiếng Việt. Cụ thể là câu “hành đạo trì
trì” (tờ 508a17 truyện 22) và “sử ngã hậu thế nhiều
tài bảo” (tờ 510a9 truyện 31).
Rõ
ràng câu “hành đạo trì trì” với nghĩa tiếng Việt “đi
đường chậm chậm”, phản ảnh cấu trúc ngữ pháp tiếng
Việt nhiều hơn tiếng Trung Quốc. Điểm lôi cuốn là câu
này một lần nữa lại lấy từ đoạn thứ hai của bài thơ
Cốc phong của Kinh Thi ở Mao thi chính nghĩa:
Hành
đạo trì trì
Trung
tâm hữu vi
Bất
viễn y nghĩ
Bạc
tống ngã kỳ
Vậy,
cùng với dạng cú pháp trung tâm, dạng cú pháp hành đạo
trì trì của Kinh Thi lại phản ảnh trong cú pháp tiếng Việt
hiện đại. Không những thế, việc sử dụng những câu thơ
của Kinh Thi vào trong các văn bản viết như thế này cho phép
ta giả thiết người dịch Tạp thí dụ kinh có ít nhiều liên
quan với Khương Tăng Hội. Có thể là Mâu Tử chăng? Ta hiện
không thể trả lời dứt khoát được, bởi vì phong cách viết
văn điển nhã của người Trung Quốc ngày xưa, đặc biệt
là vào thời Hán và Tam Quốc trở đi thường giả định người
viết sử dụng một ít câu của Kinh Thi trong bài văn mình.
Tuy vậy, bút pháp này ít nhiều vẫn gợi cho ta y nghĩ Mâu
Tử như là người chấp bút, đã dịch kinh Tạp thí dụ từ
một bản tiếng Việt ra bản tiếng Hán.
Dạng
cú pháp ấy cũng phản ảnh trong một số các câu khác như
“sử ngã hậu thế nhiều tài bảo” nghĩa là “khiến ta
đời sau nhiều của báu”. Đặc biệt việc dùng lượng từ
“nhiều”, mà ngày nay đã trở thành một lượng từ tiêu
chuẩn của tiếng Việt hiện đại. Lượng từ này không thấy
xuất hiện trong các dịch phẩm của An Huyền v.v… nhưng lại
có mặt trong các dịch phẩm của Chi Khiêm. Cụ thể là Soạn
tập bách duyên kinh, và trong Lý hoặc luận điều 17 (Hoằng
minh tập 1 ĐTK 2102 tờ 4b5) của Mâu Tử. Điều này chứng
tỏ khả năng “nhiều” từ nguyên thủy là một lượng từ
của tiếng Việt được sử dụng rộng rãi trong các vùng
đất tổ tiên của người Việt bao gồm cả miền Nam của
Trung Quốc phía dưới sông Dương Tử cho đến nước ta.
Chính
việc sử dụng rộng rãi này mới tạo cơ hội cho việc xuất
hiện khá thường xuyên của lượng từ ấy trong các tác và
dịch phẩm thực hiện tại miền Nam Trung Quốc và nước ta
vào giai đoạn đó. Điều thú vị là trong các tác và dịch
phẩm của Khương Tăng Hội, lượng từ đó không thấy có
mặt. Đây có thể do yêu cầu văn bản cũng như văn phong của
Khương Tăng Hội. Nhưng cũng có thể từ khoảng năm 250 trở
về sau quá trình Hán hóa xảy ra mạnh mẽ ở miền Nam Trung
Quốc, nên đưa đến việc loại bỏ một số từ ngoại lai
xâm nhập vào Hán ngữ. Dù với trường hợp nào đi nữa,
việc vắng mặt lượng từ “nhiều” trong các tác dịch
phẩm của Khương Tăng Hội là một sự thật cần quan tâm
xử lý một cách thấu đáo nhằm đóng góp cho việc tìm hiểu
quá trình tiến hóa của tiếng nói dân tộc ta mà giới hạn
ở đây không cho phép làm ngay bây giờ.
Tất
nhiên, với một bản kinh lưu hành trên quê người, mà còn
bảo tồn cho ta một số cấu trúc mang tính ngữ pháp tiếng
Việt như thế, thì đó là những đóng góp to lớn và quý
giá. Tuy ít ỏi, chúng vẫn mang tính hệ thống, vì chúng xuất
hiện trên một bối cảnh, trong đó những tác dịch phẩm
khác cũng có những cấu trúc tương tự và được biết chắc
chắn xuất phát từ đất nước ta như Lục độ tập kinh,
Cựu tạp thí dụ kinh, Lý hoặc luận... Chính nhìn trên bối
cảnh các tác dịch phẩm vừa nêu, mà những chứng tích như
cấu trúc “tượng Phật” trên mới không tỏ ra rời rạc,
lạc lõng giữa một biển toàn các cấu trúc tiếng Trung Quốc.
Không những thế, không những không bị nhận chìm, mà qua
gần 1000 năm tồn tại và luôn luôn có nguy cơ bị điều chỉnh
theo ngữ pháp tiếng Hán, chúng vẫn bộc lộ một sức sống
riêng, một nét đặc trưng đôi khi có vẻ huyền bí.
Chúng
tôi nói “huyền bí”, vì những cấu trúc có tính ngoại
lai ấy, tại sao các độc giả và nhà sao chép Trung Quốc không
điều chỉnh lại? Tại sao chúng có thể tồn tại trong một
biển các cấu trúc Trung Quốc? Dĩ nhiên quá trình điều chỉnh
không phải đã không xảy ra. Và đây là một nguy cơ, mà các
cấu trúc ngoại lai ấy phải thường xuyên đối phó. Ta đã
thấy trường hợp “tượng Phật” ở trên. Nếu không có
bản khắc Cao Ly, nguy cơ điều chỉnh đã trở thành hiện
thực, và cấu trúc “tượng Phật” theo ngữ pháp tiếng
Việt vĩnh viễn bị nhận chìm trong biển các cấu trúc Trung
Quốc “Phật tượng”. Sự tồn tại các cấu trúc như “tượng
Phật” do thế đôi khi có vẻ như một “mầu nhiệm”, một
“huyền bí”. Dẫu sao đi nữa, dẫu huyền bí hay không, thì
sự thật vẫn là việc tồn tại các cấu trúc như “tượng
Phật”, và sự kiện ấy chứng tỏ Tạp thí dụ kinh đã
từng một thời lưu hành ở nước ta và lưu hành vào một
giai đoạn khá sớm trong lịch sử Phật giáo dân tộc ta, khoảng
vào thế kỷ thứ II sau dương lịch.
BẢN
DỊCH TIẾNG VIỆT
TẠP
THÍ DỤ KINH
1
Bồ
tát độ người giống như mẹ vú khéo nuôi con. Có bốn việc.
Một là tắm rửa cho sạch. Hai là cho con bú no. Ba là dỗ ngủ
yên. Bốn là bồng bế ra vào cho vui vẻ. Dùng bốn việc ấy
nuôi lớn con mình khiến được thành tựu. Bồ tát cũng lại
như thế. Có bốn việc nuôi lớn chúng sinh. Một là dùng chính
pháp rửa sạch lòng. Hai là dùng kinh pháp cho ăn uống no đủ.
Ba là tùy lúc mà thiết lập thiền định tam muội. Bốn là
dùng bốn ân làm lợi ích hết thảy luôn khiến cho vui vẻ.
Dùng bốn việc ấy khuyên dạy mọi người, nuôi dưỡng chúng
sinh khiến được đạo trí lớn.
2
Thế
gian có hai loại bạn, thường cùng người kết bạn làm nhân
duyên, khiến người mắc tội lớn mà cũng khiến người được
phước lớn. Hai loại bạn đó gọi là gì? Một là bạn dữ,
hai là bạn lành. Ví như quân giặc làm chuyện ác nghịch,
giết hại vua cha, phá loạn thiên hạ, chúng sinh bị độc
hại, không ai là không bị. Đó là bạn dữ. Theo chúng mà
làm việc, khiến người mắc tội lớn. Ví như Bồ tát Thích
Ca Văn phát lòng cầu đạo cứu hộ chúng sinh, dùng lòng thương
bốn bậc, bốn ân tiếp hộ hết thảy, ba cõi năm đường
không ai là không được độ. Đó gọi là bạn lành. Theo họ
mà làm việc, khiến người được phước lớn.
3
Xưa
Nam Thiên Trúc có một nước tên Tư Ha Khê nằm trên bờ biển,
thành nó rộng hơn bốn vạn dặm. Bấy giờ nước khác có
một bà lão tên A Long gặp nạn đói loạn, trôi dạt đến
nước đó, cô đơn không nơi nương tựa, nhờ xin ăn mà sống.
Bèn đến nhà trưởng giả định xin ở nhờ. Khi trưởng lão
trở về gặp, bèn hỏi han bà lão. Bà lão bèn tỏ rõ cảnh
cùng khổ của mình. Trưởng lão buồn rầu thương xót, bảo
bà lão: “Có thể tại gia tôi, tôi sẽ nuôi nấng bà”. Bà
lão vui mừng nói: “Tôi không có gì để đền ơn, chỉ chút
ít sức mọn để giúp việc. Mọi việc cần làm, tôi không
sợ khó nhọc”. Rồi bèn dừng chân ở lại.
Lòng
vừa buồn vừa vui nghĩ: “Ta ngày xưa cúng dường chúng tăng
thết đãi theo ý. Bây giờ bỗng gặp nghèo khổ, lòng cho không
đạt”. Lòng tự cảm thương, bèn đến lễ nhà sư. Hỏi
han xong xuôi bèn thưa: “Không biết sáng nay các thần được
cúng chưa?” Nhà sư đáp: “Từ sáng vào thành xin ăn, không
được một chút gì. Vì thế đã trở về cởi áo ở đây”.
Bà lão liền nghĩ muốn có cơm dâng cúng tăng mà tự mình
không có gì, bèn bạch các sư: “Con nay vào thành xem, nếu
sửa soạn gì, con sẽ trở về bạch lại. Nếu không cũng
sẽ báo cho biết tin”. Lúc ấy, chúng tăng đồng ý, mỗi
người cởi áo dưới gốc cây.
Rồi
thì, bà lão trở về nhà, thưa lại với vị trưởng giả:
“Tôi cần vài ngàn quan tiền. Nay tôi tuy giúp việc ở đây,
nguyện tự thân bán làm đứa ở suốt đời, có thể làm
giấy chứng”. Vợ trưởng giả hỏi: “Bà ở đây ăn ở
với chúng tôi, sao lại cần tiền đem làm việc gì?” Bà
lão nói: “Tôi cần dùng gấp không thể nói được”. Liền
đó, vợ trưởng giả lấy tiền cho bà, nói: “Bà đem đi,
nếu có dịp bà có thể tự trả lại, chứ tôi dùng giấy
chứng làm gì? “
Bà
lão được tiền, bèn đến những người quen biết trước
ở chung quanh, đem sự tình nói hết, lấy tiền đưa cho từng
người, nhờ làm cúng đủ sáu mươi người. Chốc lát làm
xong, bèn mang đến các sư nói: “Vốn không thật định, chỉ
sự chí thành mà thôi”. Họ đều lấy làm lạ về sự tinh
tấn xuất kỳ bất ý, mà hỏi: “Bà lão ở chỗ nào, ban
sáng ta đi xin ăn khắp hết làng xóm, mà sao không gặp?”
Bà lão nói hết gốc ngọn: “Con là người nước kia, gia
tiên phụng Phật, cúng dường chúng tăng, gặp đời loạn
lạc, một mình cô độc, tại gia đại trưởng giả nước
này, giúp việc cho ông, sống nhờ cơm áo, thân nghèo sống
gửi không có một đồng tiền. Vừa rồi gặp các nhà sư,
buồn vui lẫn lộn, lòng có chỗ muốn, sợ ý nguyện không
thành, thưa với vợ trưởng giả, đem thân tự bán, tìm kiếm
chút đỉnh, muốn dâng cơm chúng tăng. Bà vợ nhân từ thấy
thương, nên lòng thành mọn của con được toại” Nhà sư
khen: “Thật có thể gọi là việc bố thí tận tín”. Họ
bảo nhau: “Chúng ta cũng vì thân năm ấm, mà đi xin ăn. Bữa
ăn hôm nay, chính là ăn thịt người, nên mỗi người phải
lập chí để đáp lại công đức bố thí”.
Mỗi
người một lòng ấy nhập định. Việc tám phương tinh thành
cảm thông, liền được định siêu, thần trí uy linh, rung
chuyển cảnh giới, cây cối cúi mình, như muốn quì vái. Các
sư thấy điềm, ca ngợi thí chủ. Quốc vương kinh ngạc, lấy
làm lạ tại sao, bèn triệu quần thần, cùng bàn điềm lành
cảm ứng do đâu mà có. Thần hạ ra bốn cửa thành xem xét
nguồn gốc, thấy bên ngoài thành các sư nhóm họp, người
cúng nờm nợp cùng vui vẻ nhờ nhau. Họ cùng tâu vua, vua bảo:
“Chính do họ làm mau mời họ vào”. Bề tôi trở lại truyền
lệnh vua. Bà lão sợ hãi, e có tai vạ, trả lời bề tôi:
“Thân tôi thuộc về vợ trưởng giả, không được tự do”.
Bề tôi về báo ý đó. Vua bảo: “Vẫn cứ mời đến”.
Lúc
ấy, vợ trưởng giả nghe lệnh vua, liền cùng bà lão đến
chỗ vua. Vua hỏi ý bà: Bà lão đem hết ngọn nguồn, trình
vua. Vua nói: “Ta làm chúa một nước, giàu có tự tại, nhưng
không biết vâng kính Tam Bảo, cúng dường chúng tăng, như
bà lão đây đến nỗi có cảm ứng như vậy”.
Vua
nói: “Bà này là thầy ta”. Bèn đón rước vào trong cung,
dùng nước thơm tắm rửa, đặt ngồi vị trí thầy. Cung nhân
thể nữ gồm hai vạn người. Vua tự nhận thọ giới làm
Ưu bà tắc. Phu nhân và thể nữ là Ưu bà di. Người trong
nước hết thảy đều phát lòng đạo.
4
Xưa
nhà sư học đạo ở trong núi. Trong núi có nhiều rắn bành.
Nhà sư sợ, bèn dựa vào gốc cây, treo cao giường dây mà
ngồi thiền định. Chỉ khổ nỗi buồn ngủ không tự ngăn
được. Người trời trong hư không cười làm thức giấc,
bèn buồn ngủ không hết. Người trời nhân thế tạo phương
tiện, muốn làm sư sợ, khiến không buồn ngủ. Nửa đêm,
người trời nói: “Này nhà sư! Rắn độc đến!”. Nhà sư
quá sợ, bèn đốt đèn tìm khắp, không thấy. Người trời
nhiều lần làm không ngưng. Nhà sư bèn nổi giận, nói: “Người
trời sao nói hai lưỡi? Không thấy có con gì, sao nói là rắn
độc”. Người trời nói nhà sư: “Sao sư không thấy có
rắn độc trong mình. Thân mình có bốn rắn độc, không trừ
sao lại đi tìm nó bên ngoài?” Nhà sư nghe người trời nói,
liền tự suy nghĩ, thấy rõ thân thể mình, mới biết là bốn
đại, bị năm ấm sau suy nhận chìm vô số kiếp đến nay
vẫn chưa thoát được, liền hiểu bốn chân lý khổ, không,
vô ngã. Trời chưa sáng, thì lậu hết, trí hiểu, sáu thần
thông đầy đủ, bèn chứng được quả la hán.
5
Xưa
có vua A Dục xây trong nước được một ngàn hai trăm ngôi
tháp. Sau khi bị bệnh rất nặng, có một sa môn đến thăm
vua. Vua gặp mặt, buồn không thể kể xiết. Nhà vua nói: “Vua
trước sau làm việc công đức không thể kể xiết, nên cởi
mở cõi lòng, chớ có ân hận”. Vua nói: “Giả sử có chết
đi cũng không ân hận. Sở dĩ buồn là vì trước đây có
xây dệt một ngàn hai trăm chiếc phướn bằng chỉ vàng, muốn
tự mình treo phướn rải hoa ở các đồ dùng của tháp thì
mới xong, mà nay mắc bệnh nặng, sợ không thành bốn nguyện
mình, nên tự buồn thôi”. Nhà sư bảo: “Vua hãy chắp tay
một lòng khiến vua thấy hết các tháp trong nước”. Nhà
sư liền hiện thần thông, tự khắc 1200 ngôi tháp đều hiện
ra trước mặt vua. Vua thấy rất vui mừng, bệnh liền lành
hẳn. Bèn lấy phướn hoa vàng treo trên các tháp. Các tháp
cúi mình đến tay vua. Vua thỏa ý nguyện mình, thân thể hại
hết bệnh, liền phát nguyện lớn, sống thêm 25 năm, làm các
công đức cho đến khi được bất thối chuyển.
6
Xưa
có vua A Dục, khi lên ngôi, 28 vạn dặm thì thuộc hết về
vua. Rồng, dạ xoa... trên đất liền cũng cúi đầu làm tôi,
không ai không phục về. Chỉ có một vua rồng ở hồ phía
bắc rộng hơn 300 dặm, có được một phần xá lợi của
Phật, ngày đêm cúng dường, một mình không chịu cúi đầu
trước vua A Dục.
Vua
liền cử bốn thứ quân đến bên hồ. Rồng không ra đánh.
Rồng có uy thần, vua cũng không thể tiến quân. Như vậy ba
lần đến đều không thể tiến quân. Như vậy ba lần đều
không thể bắt được rồng. (Vua nghĩ): “Sở dĩ oai thần
nó gồm thân vì phước nó lớn hơn ta. Ta nay nên làm nhiều
công đức cúng dường Tam Bảo, rồi đến bắt chắc được
không nghi ngờ gì”. Do thế, vua sửa xây chùa tháp, rộng
mời chúng tăng nhiều lên không nghỉ. Để tự thử công đức,
vua đúc một rồng vàng và một hình vua, đặt hai đầu cân,
cân xem nặng nhẹ. Lúc mới làm công đức, mà đem cân hai
tượng, thì rồng nặng, vua nhẹ. Lúc sau lại cân thì hai bên
nặng nhẹ như nhau. Lại làm công đức, sau vua lại cân ngày
càng nặng, rồng cân ngày càng nhẹ. Vua biết công đức ngày
càng nhiều, dấy binh đánh. Chưa đến nửa đường vua rồng
lớn nhỏ cúi đầu đón rước, đem một phần xá lợi Phật
mà họ có được, dâng cho vua A Dục. Vua A Dục lại dựng
chùa tháp, rộng giảng Phật pháp.
7
Xưa
sau khi đức Phật nhập niết bàn được 100 năm thì có vua
A Dục yêu thích Phật pháp. Trong nước có hai vạn Tỳ kheo,
vua thường cúng dường. Chín mươi sáu nhóm ngoại đạo sinh
lòng ghen ghét, âm mưu muốn hại Phật, phá sư. Chúng cùng
nhau nhóm họp, suy nghĩ phương pháp. Trong chúng có một tay
giỏi việc làm huyễn, nó bảo mọi người: “Ta muốn làm
huyễn, biến thành hình ác quỉ, bắt sa môn. Họ nghe mà trốn
mất thì sẽ biết là họ không bằng ta, nên chắc chắn trở
về với đạo chúng ta”. Vị thần đạo lạ này thờ tên
là Ma Di Thủ La (Mahisuna), một đầu bốn mặt, tám mắt tám
tay, đó là vị thần đáng sợ nhất của các vị thần. Phạm
chí liền hóa làm thân ấy, đem hơn hai trăm quỉ xấu dương
dương đi khắp trong nước, từ từ tiến dần đến cung vua.
Gái trai một nước không ai là không sợ hãi. Vua ra đón thấy
quỉ quá ghê, lên tiếng hỏi: “Không biết thần lớn muốn
bảo ban gì?”. Quỉ bảo vua: “Ta muốn ăn thịt người”.
Vua lại nói: “Không thể vậy được”. Quỉ bảo: “Nếu
vua thương tiếc nhân dân, thì trong nước ai vô ích với vua,
hãy giao cho ta ăn”. Vua nói: “Không có ai”. Quỉ bảo: “Các
sa môn không làm ruộng, cũng không đi lính, không thuần thuộc
vua. Đó là những người vô ích, hãy giao cho ta ăn”.
Lòng
vua không vui. Việc bất đắc dĩ, bèn sai sứ đến Kỳ Hoàn
báo tin. Trong hai vạn Tỳ kheo, có sa di nhỏ nhất, mới mười
ba tuổi, tên Đoan Chính, thưa với các Tỳ kheo: “Con phải
đi đối phó nó”. Họ đồng ý. Sa di ra ngoài, thưa với vị
điển chủ: “Nếu có vị Phạm chí nào rớt xuống Kỳ Hoàn,
thì xin thầy cứ cạo đầu, không cho thoát”. Rồi đến chỗ
quỉ, bảo quỉ: “Biết ngươi đến muốn ăn thịt chúng ta.
Ta là người nhỏ nhất trong tăng chúng, nên đến trước cho
ngươi sai sử, các Tỳ kheo còn lại đúng lượt sẽ đến”.
Sa di lại nói: “Tôi sáng đến chưa được ăn, ông cho tôi
ăn được một bữa no, rồi hãy ăn tôi”. Quỉ bèn cho ăn.
Bấy
giờ, từ quỉ Phạm chí cũng có hơn hai vạn người. Vua đang
làm bếp lớn dọn cho chúng ăn. Sa di bèn lấy phần ăn hai
vạn người bỏ hết trong miệng, rồi bằng thần thông bay
về Kỳ Hoàn, nên chưa no. Bèn lại bắt lấy hai vạn Phạm
chí nuốt luôn, cũng dùng thần thông đưa về Kỳ Hoàn.
Lúc
ấy, Phạm chí làm huyễn, bỏ chạy rất sợ hãi, trở lại
làm người cúi đầu xin lỗi, xin làm đệ tử. Các Phạm chí
bị các Tỳ kheo cạo đầu hết, được giảng kinh pháp, đều
chứng được la hán. Nhân dân cả một nước không ai là không
vui mừng, được may mắn được độ. Vua suy nghĩ, nói: “Một
sa di nhỏ tuổi cảm động như thế, huống nữa lại biển
đại thừa, chỗ nào là không có người nhỏ thế”. Bèn
phát lòng đạo vô thượng chính thân. Từ ấy trở đi, Phật
pháp hưng thịnh, bất diệt tới nay.
8
Xưa
có quốc vương thích ăn thịt người, bảo anh nấu bếp: “Các
ngươi đêm đi lén bắt người về cung cấp cho bếp, lấy
đó làm thường”. Bề tôi sau đó đều biết, liền cùng
tống đi, vứt ra ngoài nước, rồi tìm bậc hiền lương để
lập vua.
Từ
đó, vua ăn thịt người sau 13 năm, mình mọc hai cánh, đi ăn
thịt người, không kể xa gần. Ở trong núi, bèn đến cầu
đạo với thần cây của núi nói: “Sẽ bắt 500 quốc vương
cúng thần cây núi, nếu thần khiến ta được trở về nước
làm vua”.
Từ
đó, bèn bay đi bắt, được 499 người đem vào hang núi, lấy
đá bít cửa. Lúc ấy quốc vương đem các hậu cung đến hồ
tắm chơi. Mới ra cửa cung, gặp một nhà sư nói kệ xin ăn.
Vua liền hứa là trở về cung sẽ cho vàng bạc. Bấy giờ,
vua xuống hồ, sắp định tắm rửa thì vua ăn thịt người
từ không trung bay đến ôm vua đem đi về trong núi. Vua gặp
vua ăn thịt người không sợ không hãi, sắc mặt như cũ.
Vua
ăn thịt người hỏi: “Ta vốn muốn bắt lấy năm trăm người,
để tế trời. Đã có bốn trăm chín chín người, nay lại
bắt được một người, thế là số đã đủ giết để tế
trời. Ngươi biết điều đó, sao không khiếp sợ?”. Vua trả
lời: “Người sống tất có chết, vật thành có bại, gặp
gỡ tất có chia ly, dọ lại mà phân tích, nên không dám buồn.
Nhưng sáng nay khi ra khỏi cung, giữa đường gặp đạo sĩ
nói kệ cho tôi, tôi hứa bố thí, nay chưa cho được, nên
lấy làm ân hận. Nay vua rộng thương nhân thứ, cho tôi mấy
ngày, bố thí xong sẽ trở lại, không trái lời thề nặng”.
Vua ăn thịt người đồng ý cho đi, còn bảo thêm: “Hẹn
ông bảy ngày, nếu không đến, ta đến bắt ông cũng không
khó”.
Vua
liền trở về cung ở kinh đô, trong ngoài không ai là không
vui mừng. Bèn mở kho tàng, bố thí xa gần, phong thái tử làm
vua, ủy lạc trăm họ, rồi giã từ mà đi. Vua ăn thịt người,
xa thấy vua đã đến, nghĩ: “Đây ta được người không
lạ thường sao? Từ chết được sống mà cố đến trở lại”.
Liền hỏi: “Thân mạng là cái người yêu chuộng, mà ông
lại xả bỏ, đời khó mà tin có được. Không biết ông giữ
chí hướng gì, xin nói ý cho biết”. Vua nói: “Việc thương
cho của ta chí thành đáng tin, nên sẽ được giác ngộ hoàn
toàn, độ khắp mười phương”. Vua kia nói: “Nghĩa lý của
việc tìm Phật, việc nó ra sao?”. Bèn nhân đó rộng giảng
năm giới, mười lành, bốn bậc, sáu độ. Lòng mở thênh
thang, vua kia theo thọ năm giới làm thân tín sĩ, thả 499 người,
mỗi mỗi cho về nước.
Các
vua đi theo cùng về nước của vua, vì cảm động trước lời
thề đáng tín của vua mà họ được cứu sống, nên không
ai chịu về chính nước mình. Họ bèn ở lại nước đó.
Ở nước đó mỗi vua dựng một ngôi nhà chạm trổ khắc
vẽ trang hoàng tráng lệ theo kiểu nhà vua, ăn uống phục sức
ngự dụng không khác gì vua. Người bốn phương đến hỏi:
“Sao lại có chuyện giống như nhà vua khắp cả một nước?”.
Mọi người trả lời: “Đều là nhà của các vua”. Danh
tiếng truyền xa. Từ đó đến nay mới gọi là thành nhà vua.
Đức Phật đắc đạo rồi, tự kể lại ngọn nguồn, nói
vị vua giữ chữ tín, chính là thân ta. Vua ăn thịt người
là Uông Quân Man rồi trở về thành Vương Xá thuyết pháp
độ người vô lượng đều là những người có nhân duyên
kiếp trước làm vua.
Đức
Phật thuyết pháp lúc ấy, không ai không vui mừng, được
phước được độ không thể kể xiết.
9
Xưa
núi Tuyết có con voi trắng, mình có 6 ngà. Voi chúa có hai vợ,
một vợ lớn tuổi, một vợ trẻ tuổi. Mỗi khi ra chơi, hai
vợ đều đi kẹp hai bên. Khi voi chúa ra đi chơi, đường đi
qua một, hoa cây nhiều đẹp, bèn định lấy hoa cho hai vợ
trang sức trên mình, vòi cuốn lấy cây lay xuống. Gió thổi
nên làm hoa chỉ rụng trên mình vợ cả. Vợ bé đứng dưới
gió nên không được hoa, bảo voi chúa có ý thiên vị, lòng
sinh ý dữ. Sau trong hồ voi chúa có mọc một hoa sen ngàn cánh
màu vàng. Voi nhỏ gặp, lấy đem dâng voi chúa. Voi chúa được
hoa đem cho vợ cả bảo gắn trên đầu. Vợ bé càng ghét tức,
nghĩ muốn hại vua.
Trong
núi Tuyết có nhiều nhà tu, do thế vợ bé hái lấy trái ngon
mỗi lần đem dâng một trăm ngàn Phật Bích Chi. Sau đó đến
một chỗ hiểm trên núi, tự thề nguyền đem hết phước
báu cúng dường trước sau các Phật Bích Chi để sinh vào
trong loài người có của cải thế lực, tự biết đời trước,
để giết hại voi chúa ấy. Rồi buông mình phóng xuống dưới
núi mà chết.
Hồn
đến sinh vào cõi người làm con gái trưởng giả thông minh
biết khắp, đẹp đẽ vô cùng. Người con gái lớn lên, quốc
vương cưới về làm vợ và thương trọng. Người vợ nghĩ:
“Đây chính lúc báo được oán xưa”. Bèn dùng trái dành
xoa vàng mặt, nằm ủ kêu bệnh. Vua vào hỏi! Nàng đáp: “Đêm
qua nằm mơ thấy đầu voi sáu ngà, em muốn được ngà nó,
đem làm khuyên tai. Vua nếu không bắt được ngà đó thì bệnh
em ngày một nặng”.
Vua
quá thương trọng, nên không dám trái ý, bèn gọi các thợ
săn trong nước đến, được vài trăm người và nói với
họ: “Các ngươi có thấy có voi sáu ngà trong núi không?”.
Họ đều trả lời: “Chưa từng thấy”. Lòng vua không vui,
bèn khiến người vợ gọi các thợ săn đến nói ý bà. Bà
nói: “Vùng này gần đây thật không có con voi đó. Trong các
ngươi ai có gan chịu khổ không?”. Có một người quì nộp
xuống nói: “Tôi rất có thể chịu”.
Nhân
đó người vợ cho anh một vạn lạng vàng và một móc sắt,
một búa đẽo và một bộ y bảo: “Ngươi đi thẳng vào núi
Tuyết, đường rẽ có một đại thụ, hai bên có mãng xà
mình dài vài trăm trượng, không thể đến gần, dùng búa
đẻo cây xuyên qua mà đi, đi tới sẽ gặp một con sông lớn,
có cây cối bủa ra trên sông, lấy móc sắt lên cây theo cành
mà tiến lên vượt tới chỗ voi ở, xem chỗ nó thường nghỉ
ngơi, thì hãy xuống đào một cái hầm sâu, phủ cỏ mỏng
trên rồi ở trong rình lúc voi đến, dùng tên bắn nó, xong
liền mặc cà sa như phép của sa môn. Voi thờ Tam Bảo nên
rốt cuộc không hại người. Thợ săn nhận lời chỉ giáo,
liền lên đường ra đi. Bảy năm bảy tháng bảy ngày thì
đến chỗ voi ở, bèn đào hầm vào trong ở. Chốc lát voi
chúa trở về. Thợ dùng tên độc bắn. Voi bị trúng tên đó,
biết không đến từ xa, bèn dùng vòi quật đất trúng hai
bên, thấy người trong hầm, liền hỏi ai. Người kia quá sợ
hãi, tự thú nói: “Tôi là người ứng mộ”. Voi chúa liền
biết đó là việc làm của người vợ vua, bèn tự cắt ngà
mình đem cho thợ săn, bảo người ấy: “Ngươi trở về đi,
đàn voi mà thấy tức sẽ giết ngươi, nên nghe chỉ bảo xong
thì đi ngay. Đàn voi tất tìm dấu người mà đuổi theo”.
Voi
chúa dùng uy thần đem che chở, nên trong khoảng bảy ngày thì
ra khỏi vùng ấy, trở về nước mình đem ngà voi dâng cho
vợ vua. Vợ vua được ngà, xem qua xem lại, vừa vui vừa hối
hận. Chẳng bao lâu thì thổ huyết mà chết.
Lúc
Đức Phật Thích Ca vẫn còn ở đời, trời rồng quỉ thần,
bốn chúng đệ tử đại hội nghe thuyết pháp. Trong những
người ngồi nghe, có một đại Tỳ kheo ni, xa trông Đức Phật,
bèn cười lớn tiếng, chốc lát lại cất tiếng khóc. Những
người ngồi nghe, không ai là không lấy làm lạ. Đức A Nan
hỏi đức Phật: “Vì sao Tỳ kheo ni ấy đã chứng được
A la hán, do nguyên nhân nào mà vừa buồn vừa vui không thể
tự kiểm soát được, xin được nghe sự việc”. Đức Phật
bảo A Nan: “Voi chúa trắng lúc ấy chính là thân ta. Vợ cả
nay là Cù Di. Vợ bé nay là vị Tỳ kheo ni ấy vì chứng được
thần thông, biết việc ngày xưa, nên buồn vì không chịu
được việc lòng vui, còn cười vì đã giết hại người
lành, từ đó mà đắc đạo”.
Chúng
hội nghe, đều nghĩ: “Kết nhân duyên ác với đức Thế
Tôn, mà vẫn còn được độ, huống nữa kết nhân duyên đạo
đức”. Hết thảy chúng hội đều phát lòng đạo chính chân
vô thượng thề khắp mười phương, rộng độ hết thảy.
10
Xưa
đức Phật đến nước ở truồng, nhận lời mời của Tu
Kiệt. Nước đó gần biển. Rồng gây mây mưa. Đức Phật
sợ trôi chìm nhân dân, nên nhân ăn uống xong, dẫn chúng tăng
đến hồ A Nậu Đạt. Đức Phật họp xong, chúng tăng ngồi
ổn định thì được báo Xá Lợi Phất không có mặt trong
buổi hội. Vua Trời nghĩ: “Tả hữu của Phật thường có
thần thông trí huệ càng làm rực rỡ ánh sáng của Phật”.
Đức Phật biết ý vua trời nghĩ, bảo Mục Kiền Liên: “Con
gọi Xá Lợi Phất đến”. Mục Kiền Liên làm lễ mà đi.
Xá
Lợi Phất đang vá áo pháp. Mục Liên nói: “Phật đang đại
hội ở trời hồ A Nậu Đạt. Phật bảo tôi đến gọi ông,
xin đến đúng giờ”. Xá Lợi Phất trả lời: “Đợi áo
tôi xong”. Mục Liên đáp: “Nếu đến không đúng giờ, tôi
sẽ dùng thần thông đem ông và ngôi nhà đá trong núi của
ông đặt trong bàn tay mặt của tôi để đưa tới chỗ Phật”.
Xá Lợi Phất bèn cởi chiếc dây lưng đặt trên đất, nói
với Mục Liên: “Ông nếu có thể khiến chiếc dây lưng rời
đất thì thân tôi ông mới có thể dở nổi”. Mục Liên
liền dở lên, đất vì thế rung động, nhưng dây lưng không
thể dở được. Mục Liên dùng thần thông trở về chỗ Phật
thì Xá Lợi Phất đã về trước, ngồi bên Phật. Mục Liên
mới biết sức của thần thông không bằng sức của trí tuệ.
Bấy
giờ trong tọa chúng có một Tỳ kheo, trong tai có hoa tu mạn.
Tọa chúng nghi ngờ vì phép Tỳ kheo là rời bỏ yêu trang sức
bằng hoa, mà Tỳ kheo này mang hoa là vì sao? Vua trời liền
thưa Phật: “Không biết vì sao Tỳ kheo ấy mang hoa”. Đức
Phật bảo vị Tỳ kheo vứt bỏ hoa trong tai. Tỳ kheo thọ giáo,
bèn dùng tay lấy hoa vứt đi, nhưng hoa tiếp tục như cũ. Như
vậy lấy vứt mà chỗ đó vẫn có. Đức Phật bảo vị Tỳ
kheo dùng thần thông vứt đi. Bèn dùng sức định tạo ra vài
ngàn muôn bàn tay từ không trung vứt bỏ hoa trong lỗ tai. Hoa
vẫn không hết. Tọa chúng mới biết đó là do nhân duyên
đạo đức, chứ không phải do tạm mang hoa. Vua trời bạch
Phật xin nói ngọn nguồn khiến chúng hội cỗi hết nghi ngờ.
Đức
Phật bảo vua trời: “Xưa vào thời Phật Duy Vệ cách đây
91 kiếp, lúc bấy giờ đức Phật đại hội thuyết pháp,
có một khách say rượu trong đại hội nghe kinh, vui mừng lấy
hoa trên tai mình rải lên Phật, rồi làm lễ mà đi. Sau khi
chết trong 91 kiếp thọ phước trên trời và cõi người không
còn trở lại ba đường dữ. Muốn biết người trời đó
thì nay chính là vị Tỳ kheo ấy. Rãi một cành hoa mà phước
báu đến nay đắc đạo vẫn chưa hết”. Vua trời thưa Phật:
“Một khách say ngày xưa không thọ giới cũng không thực
hành sáu ba la mật, chỉ rải một cành hoa, mà phước qua 91
kiếp đến nay không hết, huống nữa là người làm nhiều!”.
Đức Phật bảo vua trời: “Nên biết đấng Nhất Thiết Trí
làm lợi ích cho hết thảy như vậy”. Hết thảy chúng hội
nghe nói như thế, rất vui mừng, rộng phát lòng đạo vô thượng
chính chân.
11
Xưa
đức Phật mới đắc đạo, giáo hóa thiên hạ, không ai là
không vâng theo. Chỉ vua nước Xá Vệ không tin hiểu đúng
lúc. Tịnh xá Phật cùng vườn vua gần nhau, chỉ cách bức
vách, đều nằm ra bờ sông. Trong tịnh xá có hơn ba trăm sa
di để các tôn đức sai khiến. Bấy giờ vị duy na sai các
sa di đem bình đến sông lấy nước.
Các
sa di đến bờ sông, họ cởi cà sa đùa giỡn. Lúc ấy vua
Ba Tư Nặc với phu nhân ngồi trên lầu thấy các sa di cùng
đùa giỡn như vậy, liền bảo phu nhân: “Ta không tin Cù Đàm
chính vì như vậy. Đám Cù Đàm tự xưng thanh tịnh, không
che giấu. Nay họ đùa giỡn không khác gì ta thì sao được
gọi là chân”. Phu nhân đáp: “Ví như rắn rồng trong biển,
pháp Đại thừa cũng như thế. Có người đắc đạo, có người
chưa đắc đạo, không thể bàn gồm vào một”.
Phu
nhân nói chưa xong, các sa di mặc lại cà sa, mỗi mỗi lấy
nước đi thẳng về tịnh xá, dùng thần thông tung ba trăm
chiếc bình lên không trung, mỗi mỗi bay theo đều về tịnh
xá. Phu nhân bèn chỉ ra: “Những gì đại vương nói, ý vua
chưa xong. Nên nay hiện thần thông thì sao?”. Vua thấy rất
vui, liền xuống lầu cùng quần thần trăm quan đến chỗ Phật,
cúi đầu làm lễ qui y hối lỗi. Đức Phật vì họ thuyết
pháp. Vua và phu nhân hết thảy chúng hội đều phát lòng đại
vô thượng chính chân.
12
Xưa
trưởng giả Phạm chí nước Xá Vệ ra thành đi chơi, dần
dà đến bên Kỳ Hoàn. Đức Phật biết người này có công
đức có thể độ. Đức Phật liền ra ngồi dưới gốc cây,
phóng hào quang lớn rọi khắp vùng Kỳ Hoàn, cây cối đất
đá đều thành sắc vàng. Phạm chí thấy ánh sáng, hỏi người
đi theo: “Ánh sáng đó là gì?” Người đi theo nói: “Không
biết”. Trưởng giả hỏi: “Chẳng phải là ánh sáng mặt
trời sao?” Người đi theo nói: “Ánh sáng mặt trời thì
nóng. Ánh sáng này mát lạnh vừa phải, nên chẳng phải là
ánh sáng mặt trời”. Trưởng giả lại hỏi: “Phải chăng
là ánh lửa ư?” Người đi theo nói: “Chẳng phải ánh lửa.
Ánh lửa thì lung lay không định. Ánh sáng này im phắc, không
giống ánh lửa”. Người đi theo suy nghĩ biết, bảo trưởng
giả: “Đó là ánh sáng đức của sa môn Cù Đàm”. Trưởng
giả liền nói: “Đừng nói điều đó. Ta không thích Cù Đàm.
Mau trở về”.
Đức
Phật liền biến hóa ba mặt đều tự nhiên có suối lớn,
đi về hướng nào cũng không thể qua được. Chỉ ở trước
Phật có đường thẳng. Người đi theo thưa: “Phía Cù Đàm
có đường qua”. Việc bất đắc dĩ, Phạm chí tiến lên,
xa thấy đức Như Lai liền lấy quạt che mặt. Đức Phật
lại dùng uy thần khiến trong ngoài cất hết, chính mắt thấy
Phật giác ngộ, xuống xe, cúi đầu làm lễ. Đức Phật thuyết
pháp cho họ, bèn phát lòng đạo vô thượng chính chân, rồi
chứng bất thối chuyển. Quay lưng với Phật mà đi còn chứng
được trí tuệ đạo, huống nữa người tin hướng Phật
ư ?
13
Xưa
nước Ba La Nại có tám người đại lực sĩ. Một người
đương được sức 60 con voi. Trong đó có một người riêng
có nhiều phép linh quyền biến lạ lùng, 64 biến hóa văn vũ
đều đủ, vì thế tự thị không biết sợ một ai. Đức
Phật thấy người ấy tất rơi vào con đường dữ, nên đến
chỗ y định độ thoát. Người giữ cửa báo vào: “Cù Đàm
đến bên ngoài, muốn gặp”. Lực sĩ nghe, nói với tả hữu:
“Trí tuệ Cù Đàm có, há thắng ta, vì không bằng ta”. Rồi
bảo người giữ cửa đuổi đi, không thể gặp.
Đức
Phật đến cửa ba lần không gặp. Do thế, đức Phật làm
một lực sĩ trẻ tuổi đến đòi đấu. Người giữ cửa
vào thưa! Lực sĩ hỏi: “Phải chăng là tám người trong nước
sao?” Người giữ cửa đáp: “Là người trẻ tuổi, chưa
từng thấy”. Lực sĩ ra ngoài gặp, đem đến diễn trường,
khinh nó trẻ tuổi, định quật giết đi, bảo người trẻ
tuổi: “Mạnh đến trước nhau, cùng đánh nhau”. Hai người
tiến ra, sắp định giao hiệp thì Phật dùng thần thông cất
mình lên không trung cách đất hơn mười trượng, xem xuống
đất chỉ thấy mũi gươm lửa. Người ấy đều mất hết
lòng cao ngạo tức giận, chỉ e sợ chết, xa ở không trung
nói quy mạng, lực sĩ ở dưới xin được toàn mạng. Đức
Phật hạ xuống đất, hiện lại thân Phật. Lực sĩ biết
đó là Phật, bèn cúi đầu làm lễ: “Con nếu biết Phật
thần thông lực như vậy thì không dám kiêu ngạo cho đến
nay. Xin được tha thứ để giảm vạ nặng”. Đức Phật
nhận lời, vì y thuyết pháp sâu sắc, bèn phát lòng đạo
vô thượng chánh chân, liền chứng được bất thối chuyển.
Đạo quyền biến độ người của Phật là như vậy.
14
Xưa
nước La Duyệt Kỳ có đứa con Bà la môn một mình ở với
mẹ. Tuổi nhỏ, lớn lên, tự hỏi mẹ nó: “Cha con phụng
thờ đạo gì? Con muốn đi theo dấu cha con”. Bà mẹ bảo
con: “Cha con lúc sống, một ngày ba lần xuống sông tắm rửa”.
Con hỏi: “Cha con làm thế hy vọng chuyện gì?” Bà mẹ nói:
“Nước sông Hằng rửa sạch bụi dơ thì có thể được
thần thông”. Con nói: “Không phải”. Mẹ bảo con: “Con
há có thuyết khác ư?” Con nói: “Nếu như vậy thì cư dân
ở phía bắc mỗi ngày xua bò vượt sông thả ở phía nam,
mỗi ngày hai lần tắm rửa, sao không đắc đạo? Vả trong
sông có loài cá rùa sống trong nước, sao lại không đắc
đạo?” Mẹ nói: “Ý con thế nào?” Người con nói: “Chỉ
có hồ tắm giải thoát của Như Lai và nước tam muội. Tắm
nước ấy mới vô vi”. Nhân bảo mẹ: “Nên đến chỗ Phật,
xin tắm gội sự thần hóa”. Rồi mẹ con đến chỗ Phật.
Đức Phật vì họ thuyết pháp. Người con làm sa môn chứng
được quả A la hán, trở về thuyết pháp cho mẹ lại được
quả Tu đà hoàn.
15
Xưa
trong nước Kế Tân có một Tỳ kheo rộng dạy môn đồ hơn
vài trăm người. Trong đó có người chứng tứ thiền, có
người chứng ngũ thông, chứng Tu đà hoàn, chứng A la hán.
Bấy giờ có người An Tức đến nước Kế Tân, thấy Tỳ
kheo dạy dỗ như vậy, có lòng tin vui, xin làm đệ tử, chưa
bao lâu đã chứng ngũ thông bèn hiện thần thông trước mọi
người. Thầy bảo: “Ngươi nay chứng được ngũ thông, nhưng
lòng kết chưa giải, thì chớ hiện thần thông để tự cống
cao”. Lòng bèn giận thầy, bảo thầy đố kỵ, tự nghĩ:
“Nên trở về quê mình, làm vẻ đạo đức”. Bèn liền
bay về nước mình, đến trước đền vua An Tức, hiện thần
thông bay tới.
Vua
vì thế làm lễ hỏi: “Nhà tu là người nước nào?” Tỳ
kheo nói: “Ta là người nước vua, đến nước Kế Tân học
đạo, nay được trở về, muốn làm phước cho đất nước
đền đáp ơn đã sinh ra”. Vua rất vui mừng, quì mọp thưa:
“Xin nhà tu từ ngày nay trở đi thường ở luôn trong cung
ta, nhận ta cúng dường”. Tỳ kheo đồng ý. Vua tự tay cúng
dường, hoặc sai phu nhân và thể nữ đến. Tỳ kheo bèn sinh
ý dục đối với cô áo xanh. Các thần hạ biết, đem trình
vua. Vua la mắng. Vua sở dĩ không tin, vì vốn đã thấy Tỳ
kheo bay đến.
Chẳng
bao lâu, cô áo xanh lớn bụng. Các bề tôi lại tâu vua. Vua
giao cho phu nhân xét nghiệm mới biết sự thật, bèn lột áo
tu đuổi đi ra khỏi cung, vì nhà tu nên không đánh đập. Tỳ
kheo ra ngoài đi làm giặc cướp, không ai dám chống. Vua không
biết đó là vị Tỳ kheo thuở trước, bảo mộ hùng sĩ khiến
người ta bắt sống đem đến thì rõ ràng là vị Tỳ kheo
thuở trước. Vua hỏi: “Ngươi trước phạm dâm, bảo là
lỡ, (bây giờ) sao lại đi cướp của người ta?”. Tỳ kheo
cúi đầu nói: “Vì nghèo, không có nghề gì khác”. Vua bảo:
“Ta vốn thấy ngươi thần thông bay đến, nên không nỡ hành
hạ, nay tha ngươi, chớ phạm trong bờ cõi ta”. Rồi cởi
trói, thả cho đi.
Tỳ
kheo nghĩ: “Thử đi làm thuê, tìm sống”. Rồi tự ra đi.
Có nhà đồ tể thuê làm, giết bò, thọc dê, mọi việc đều
làm. Sau chủ sai đập xương, xương văng trúng mặt, làm hư
mắt không thấy lại được, nên không trúng thuê lại. Người
chủ bảo phải đi. Do thế, bèn cầm một cái bát vỡ, lần
đường xin ăn thành ra người hèn.
Tỳ
kheo ấy thay đổi trong khoảng mấy năm, thầy dùng mắt đạo
xem xét muốn biết ở đâu, thì thấy Tỳ kheo như thế đang
ăn xin tại chợ An Tức. Bấy giờ trong số học trò chỉ học
ngũ thông mà không cần diệt khổ, là hơn năm trăm người,
Thầy bảo: “Các con mau sửa soạn, ngày mai sẽ cùng đi thăm
người đệ tử An Tức ngày trước”. Đệ tử đều vui mừng
nói: “Người ấy đạo đức ắt hẳn to lớn”.
Thầy
bèn hạ mình đi thăm. Họ đều nhờ thần thông chốc lát
đã đến ở trước mắt người ấy. Thầy gọi tên y. Y liền
đáp lời thầy, nói: “Hòa thượng đến sao?” Thầy nói:
“Phải, đến thăm”. Thầy hỏi: “Sao lại thế?”. Đệ
tử nói hết ngọn nguồn, biện giải ý mình đã phạm. Thầy
bảo các đệ tử: “Chứng ngũ thông không phải đạo vững
chắc, không thể trông cậy được”.
Thầy
nói xong, lúc ấy năm trăm đệ tử đều chứng được sáu
thần thông, thành quả A la hán. Vị đệ tử kia xấu hổ,
không nói lời nào. Thầy và trò hết thảy trở về chỗ mình.
16
Xưa
có một nước được mùa. Nhiều người nước khác muốn
tới chiếm lấy, bèn dấy binh dẫn đến. Trong nước đã biết
bèn phát đại binh, mười lăm trở lên, sáu mươi trở xuống
đều phải đi lính. Bấy giờ có một người làm nghề dệt
chăn, tuổi sắp sáu chục. Người vợ đẹp thường khinh mạn
chồng. Mỗi khi vặn hỏi, chồng thường đáp ứng. Chồng
hỏi vợ: “Nay phải đi, có lệnh tự sắm sửa binh khí, lương
thực đồ dùng, xin sắm cho kịp thời để đi”. Vợ cho chồng
một cái hộc năm thăng để đựng lương thực và một máy
dệt chăn dài một trượng một xích. Vợ nói: “Ông mang chúng
đi mà đánh, không có vật gì khác. Nếu ông làm vỡ hộc
và đánh mất máy dệt, thì tôi không còn ăn ở với ông”.
Chồng
bèn giã từ ra đi, không nghĩ sẽ bị quân địch làm bị thương
hay giết hại, mà chỉ sợ hai vật thất thoát thì mất lòng
vợ. Đường đi gặp lính địch cùng đánh. Quân mình không
bằng liền rút lui. Người thợ dệt chăn quí hai vật trên,
nếu có sai sót thì mất lòng vợ. Mọi người đều chạy,
chỉ người thợ dệt chăn đưa máy dệt lên đầu, nhắm hướng
giặc mà đứng một mình. Quân giặc thấy vậy, bảo ông dũng
cảm, không dám tiến lên, rồi rút lui. Quân nước ông chỉnh
đốn lại được trận địa, hết sức tiến đánh, liền
được thắng lợi. Quân kia không bằng, chết tẩu tán gần
hết. Vua rất vui mừng, sắp thưởng những người có công.
Mọi người tâu vua: “Người dệt chăn, nên thưởng cho công
đầu”. Vua nhân đó, cho gọi gặp, hỏi lý do: “Người vì
sao một mình mà cự được đại quân của địch?” Ông trả
lời: “Tôi thực chẳng võ sĩ, vợ tôi cấp cho tôi hai món
đồ khi đi lính. Nếu để mất hai món đồ đó, vợ tôi sẽ
bỏ đi, không ăn ở với tôi. Cho nên, dù có chết, tôi cũng
giữ thành hai món ấy, nhân thế đánh được địch quân,
thực chẳng phải do dũng mãnh mà đánh được”. Vua bảo
các bề tôi: “Người này vốn tuy sợ vợ, mà cứu được
nạn nước nên thưởng công đầu”. Bèn phong làm bề tôi,
ban cho của báu, nhà cửa, thể nữ, chỉ dưới bậc vua, con
cháu hưởng phước, đời đời nối nhau.
Đó
là sự việc xảy ra được ở thế gian. Đức Phật mượn
để làm thí dụ. Vợ cho chồng hộc năm thăng, máy dệt một
trượng một xích là ví dụ như Phật trao cho đệ tử năm
giới mười lành. Dặn chồng nói giữ kỹ hai món đồ đừng
làm hư mất thì mới được cùng ta ăn ở, ấy gọi là giữ
đạo cho đến chết, chết cũng không vi phạm thì mới được
cùng Phật lên nhà đạo. Đã đánh được quân địch, lại
được phong thưởng là ví như người giữ giới đời này
tiêu diệt được oan gia chống đối, đời sau nhận được
phước tự nhiên ở thiên đàng.
17
Xưa
trong thành Xá Vệ có một Phạm chí giàu sang, của cải vô
số, thông minh hiểu biết, nhưng rơi vào đạo tà, không tin
điều lành, bảo là vô ích. Bấy giờ Xá Lợi Phất dùng mắt
đạo thấy nghĩ: “Vị trưởng giả này, xưa có phước lớn,
nay được giàu sang, chỉ nghĩ ăn vốn xưa, mà không tạo thêm
vốn mới, tất sẽ trở lại đường dữ, nên phải đến
độ ông ta”. Bèn hiện thần thông, ôm bát đi qua chỗ ông
đang ngồi. Lúc ấy, Phạm chí mới ngồi định ăn, thấy Xá
Lợi Phất, nên rất tức giận, bèn xua gia nhân ra đánh đuổi,
rồi rửa tay, trở lại ngồi ăn, cũng không mời ngồi, cũng
không đuổi đi. Ăn xong, bèn rửa tay, súc miệng, ngậm một
ngụm nước, nhổ vào trong bát Xá Lợi Phất, nói: “Mang đó
đi, ta cho”. Xá Lợi Phất, bảo: “Mong ông suốt đêm được
phước vô lượng”. Rồi trở ra đi.
Vị
trưởng giả sợ Xá Lợi Phất đi nói lời bài xích, sai người
đuổi theo. Xá Lợi Phất về thẳng tịnh xá, dùng nước hòa
với bùn, trét chỗ đức Phật kinh hành, rồi bạch Phật:
“Ông kia bủn xỉn, chỉ cho một ngụm nước, nay dùng trét
chỗ Phật kinh hành, xin Phật kinh hành trên đó, để cho ông
kia suốt đêm hưởng phước vô lượng”. Đức Phật liền
nhập định kinh hành. Người do trưởng giả sai đi, rình nghe
hết như vậy, trở về thưa trưởng giả: “Đức Phật bỏ
ngôi vua chuyển luân, đi làm sa môn, ôm bát xin ăn, ấy chẳng
phải vì tham cầu, mà vì muốn độ chúng sinh”. Rồi đem
hết ngọn nguồn nói cho trưởng giả. Trưởng giả sám hối,
tạ lỗi vì ngu si không biết, xin tha thứ tội nặng. Đức
Phật nhân đó qui y và thuyết pháp, bèn bỏ nghi, trừ kiết,
chứng được bất thối chuyển.
18
Xưa
nước Ba Ly Phất so với các nước khác là giàu có thịnh
vượng nhất. Chân nhân, thần nhân cho đến bất tiếu chín
loại đều đầy đủ đạo đức. Kinh tiên và sách đời cũng
đầy đủ, vàng bạc lúa vải, không món nào là không có.
Đức Phật thường khen là nước văn vật.
Bấy
giờ chín mươi sáu phái ngoại đạo cùng bàn: “Phật bảo
nước ấy không gì là không có. Mình sẽ đến xin thứ nước
ấy không có, nhân đó chiết phục khiến họ không còn chí
thành. Sau đó chúng ta mới được kính thờ”. Phạm chí bàn:
“Chưa nghe nước đó có quỉ La Sát, sẽ cố xin tất không
thể có được, điều đó làm rõ việc Phật chứng đạo
không đúng”. Rồi đi khắp chợ búa muốn định mua quỉ
đều không có. Phạm chí vui vẻ nói, bảo đó là đắc sách.
Vua
trời biết mưu kế của Phạm chí, bèn hạ xuống, biến làm
một người đi buôn ngồi ở chợ như có đồ muốn bán. Phạm
chí đi vào chợ, lần lượt đến trước vua trời, hỏi: “Có
quỉ bán không?”. Vua trời nói có. Muốn bao nhiêu con. Phạm
chí bảo nhau: “Đó là lời nói dối, lấy đâu có quỉ bán,
mà còn hỏi mấy con”. Họ nói: “Muốn mấy chục con”.
Vua trời bèn mở cửa quán, bỗng có mấy chục con ác quỉ.
Phạm chí thấy, quá sợ hãi, mỗi mỗi tâm niệm, biết Phật
là chí thành, đều đến qui y Phật nói: “Nước Ba Ly tuy
mọi vật đều có, người tay không đến thì một vật cũng
không có được, nhưng nếu đem tiền của ra mua thì không
vật gì là không được”.
Ấy
là mượn để làm thí dụ thị hiện ở thế gian. Ví như
trong thành Nhất Thiết Trí không gì là không có. Lòng thương
bốn bậc, sáu độ, ba mươi bảy món giúp đạo, thanh văn,
duyên giác lên đến Như Lai, nếu người không tu đức hạnh,
mà mong thu hoạch một món gì trong thành Nhất Thiết ấy là
không thể được. Còn nếu vâng theo thánh giáo, giữ gìn thân,
miệng, ý thì như người có tiền của không nguyện ước
gì không thành”.
19
Xưa
nước Thiên Trúc có chùa Tùng. Trong có bốn nhà sư đều chứng
lục thông. Trong nước có bốn cư sĩ, mỗi người thỉnh một
nhà tu cúng dường lâu dài. Bốn nhà tu mỗi người đi giáo
hóa. Một người đến chỗ trời Đế Thích. Một người đến
chỗ vua rồng biển. Một người đến chỗ chim cánh vàng.
Một người đến chỗ con người. Như vậy, những gì bốn
nhà tu nhận cúng dường còn lại trong bát thì đem về chia
lại cho đàn việt mình ăn. Trăm vị đầy đủ chưa từng
thấy, mỗi người hỏi nhà tu do đâu có được. Các nhà tu
ấy vì mỗi người, họ nói rõ ngọn nguồn. Do thế bốn cư
sĩ mỗi người phát một nguyện. Một người nói: “Nguyện
sinh vào trời Đế Thích”. Một người muốn sinh trong biển
làm rồng. Một người muốn sinh trong loài chim cánh vàng. Một
người muốn sinh làm con vua người. Sau khi chết họ đều
vãng sinh bốn vua thần, đồng thời có ý nghĩ muốn tu bát
quan trai. Họ xem khắp các chỗ thanh tịnh, thì chỉ có hậu
viên của vua Ma Kiệt là vắng vẻ, nên đều đến trong vườn,
mỗi người ngồi dưới gốc cây, từ tâm giữ chay, thực
thành sáu tư niệm. Mỗi ngày một đêm cho tới sáng hôm sau
việc xong, họ mới đến nói chuyện với nhau.
Vua
Ma Kiệt hỏi: “Các ông là ai?” Một người nói: “Tôi là
vua trời”. Một người nói: “Tôi là vua rồng”. Một người
nói: “Tôi là vua chim cánh vàng”. Một người nói: “Tôi
là vua người”. Bốn người nói hết nguồn ngọn xong, đều
rất vui mừng. Vua trời bèn nói: “Chúng tôi đều giữ chay
ai được phước nhiều?” Vua người nói: “Tôi đến định
ở gần ngoài vườn, tiếng nhạc nghe rõ tới đó, mà tôi
trong đó vẫn chuyên tâm nên phước tôi là số một”. Vua
trời nói: “Tôi lên trên trời, cung điện bảy báu, ngọc
nữ vui chơi, ăn mặc tự ý, vẫn không tưởng nghĩ, mà từ
xa đến vẫn giữ trọn ngày chay, nên phước phải là số
một”. Vua chim cánh vàng nói: “Tôi chỉ thích ăn rồng là
ngon, hơn cả năm món khoái lạc, nay cùng ở một chỗ, không
có niệm ác, nhỏ như tóc tơ nên phước tôi là số một”.
Vua rồng nói: “Loài chúng tôi là cung cấp lương thực cho
chim cánh vàng, thường sợ bị ăn thịt, nên kinh hãi trốn
tránh, nay ở một chỗ, đến chết cũng giữ trọn ngày chay,
nên phước tôi là số một”.
Vua
Ma Kiệt nói: “Tôi có bề tôi mưu trí tên Phi Đà Loại, tôi
phải mời đến, khiến ông quyết định ra sao”. Bèn cho mời
đến, nói hết ý mình. Phi Đà Loại bèn lấy tấm lụa bốn
màu xanh vàng trắng đem treo lên giữa trời, rồi hỏi bốn
vua: “Bốn màu trời, mỗi màu có tự khác nhau không?” Bốn
vua trả lời: “Khác nhau rất rõ”. Vị bề tôi hỏi: “Ảnh
lụa dưới đất có khác nhau không?” Đáp: “Không khác”.
Vị bề tôi nói: “Nay bốn vị chịu sắc dáng mỗi khác nhau,
ví như màu tấm lụa, chất màu không giống nhau. Nhưng nay
theo pháp giữ chay, chí thú một vị, ví như bóng tấm lụa
trên đất không sai khác. Nay bốn vị tâm phương phát lòng
đạo lớn, tinh tấn vui vẻ giữ chay thì khi thành Phật, cũng
đều số một không có sai khác gì”. Bốn vua vui mừng, liền
được mắt đạo.
20
Xưa
người Phú Ca La Việt có hai con. Cha mắc bệnh gần chết,
dặn đứa con lớn: “Em con nhỏ dại, chưa có biết gì, nên
nay phải nhọc con khéo làm ăn giúp đỡ nó, chớ khiến nó
đói rét”. Cha con buồn bã giã từ nhau, rồi cha mất. Sau
đó vợ anh nói với chồng: “Em trai anh lớn lên, sẽ làm
rắc rối nhà anh, những vật hiện có, nên chia ra. Bây giờ
nó chưa lớn, sao không trừ khử nó đi?” Ban đầu người
anh không chịu nghe, nhưng nói nhiều lần, bất đắc dĩ người
anh bèn làm theo, đem em mình ra ngoài thành, đến vùng gò mả
sâu, cột vào một cây bách, không nỡ ra tay giết, muốn để
cho cọp, sói, quỉ dữ hại, nên nói với em: “Mày nhiều
lần xúc phạm tao, nên để mày lại đây qua đêm, suy nghĩ
lỗi mình, sáng mai sẽ đến đón”. Rồi bỏ mà đi. Chốc
lát trời chiều, cú quạ chồn cáo ở đó kêu hú, người
em rất sợ hãi, nhưng không có chỗ nương kêu, bèn ngửa mặt
lên trời than thở: “Trong ba cõi, ai há nhân từ nhận sự
qui y ư? Hôm nay khốn nguy, lòng sợ vô kể”.