Tựa
KINH
PHÁP KÍNH
Khương
Tăng Hội
Rằng
tâm là cội nguồn của mọi pháp, là căn gốc của thiện
ác, cùng ra khác tên, họa phúc chia dòng, lấy thân làm xe,
lấy nhà làm nước, đi khắp mười phương, vốn không ngưng
nghỉ.
Dục
nhà khó thỏa mãn, như biển nuốt sông, lửa có thêm củi.
Sáu tà hung tàn còn hơn lưới giăng giết cả. Người nữ
nịnh bậy sánh với ma quỉ, khéo dối ít tín. Đào nhà gây
họa. Tôn tà uế, khinh thanh chân, nối nhiều xích, chê thánh
hiền, gây ngục tụng, chôn cửu thân, ấy là do nhà cả.
Vì
thế, thượng sĩ thẹn nói dơ, sợ nói dữ, mà run run rẩy
rẩy, lặng nghĩ trốn đi, như bậc minh triết tránh kẻ vô
đạo. Bèn xuống tóc hủy dung, áo pháp là quí, yên ở chùa
chiền, rèn lòng gột dơ, ôm đạo nói đức, mở điếc dẫn
đui.
Hoặc
có người ở ẩn núi đầm, gối đá uống suối, chuyên lòng
rửa bẩn, hồn hợp với đạo, chí vắng sánh với vô danh,
dạy sáng khắp cả quần sinh. Hiền thánh đua nhau thanh tịnh,
gọi đạo đó là Đại Minh, nên tên là Gương Pháp (Pháp kính).
Kỵ
đô úy An Huyền, Nghiêm Phù Điều đất Lâm Hoài, hai vị hiền
này khi tuổi mới lớn, chí rộng nghiệp thánh, tìm sâu với
xa, dồn lòng tới chỗ u vi, thương đời mê lầm, không thấy
vẻ đẹp lớn, vắt óc truyền dịch nét lớn kinh này. Đô
úy miệng nói, Nghiêm Điều bút ghi, lời đẹp đã hợp xưa,
nghĩa lại vi diệu. Nhưng thời can qua chưa hết, chí sĩ chẳng
dám rảnh nghĩ. Đạo lớn suy dần, kẻ học Phật ít.
Hội
tôi thấy lời dạy của kinh có thể cứu lầm than nơi lắm
hiểm. Song nghĩa chặn không thông, nhân rảnh đem hết chỗ
ngu làm ra chú nghĩa. Tang thầy trải năm, bồi hồi, ngừng
bút buồn bã, nhớ người xưa, mến đạo thánh, nước mắt
tuôn trào. Nay tôi xin ghi chỗ thiếu ngờ, đợi chờ minh triết
về sau, nếu có thông hành, là để làm rõ Tam Bảo vậy.
KINH
PHÁP KÍNH
(GƯƠNG
PHÁP)
Kỵ
đô úy An Huyền
Nước
An Tức đời Hậu Hán dịch
BẢN
DỊCH TIẾNG VIỆT
Nghe
như vậy, một thời Thế Tôn đến nước Xá Vệ, vườn Kỳ
thọ Cấp Cô Độc, cùng đại chúng Tỳ kheo một ngàn hai trăm
năm mươi người và năm trăm Bồ tát đứng đầu là các Bồ
tát Từ Thị, Văn Thù, Thi Khí và Quan Thế Âm. Lúc ấy hàng
trăm người vây quanh đức Thế Tôn để nghe thuyết kinh.
Bấy
giờ trong thành Xá Vệ có trưởng giả tên Thậm cùng một
chúng năm trăm người từ trong thành Xá Vệ đi ra đến vườn
Kỳ thọ Cấp Cô Độc tới chỗ đức Thế Tôn, rồi đảnh
lễ chân đức Thế Tôn, xong về chỗ ngồi. Cùng đi có trưởng
giả Ái Ngộ, trưởng giả Đắc Ngộ, trưởng giả Thượng
Thọ, trưởng giả Đại Uy, trưởng giả Cấp Cô Độc, trưởng
giả Long Uy, trưởng giả Đế Tư, hết thảy đó với chúng
năm trăm cùng đến chỗ Phật, đến rồi đảnh lễ chân đức
Thế Tôn, đều về ngồi chỗ ngồi trước đức Thế Tôn.
Các
trưởng giả hết thảy phát lòng cầu đạo lớn, đều cùng
chúng mình đi trên gốc đức, có quyết tâm đối với đạo
vô thượng chính chân. Chỉ Cấp Cô Độc không thế. Do vậy,
trưởng giả Thậm đã thấy đại chúng trưởng giả nhóm
lại ngồi yên, từ chỗ ngồi đứng lên, sửa áo cúi đầu
trưởng quỳ, chấp tay thưa rằng: “Con có điều muốn hỏi,
xin đức Thế Tôn có rảnh rỗi, giải điều con hỏi”.
Đức
Thế Tôn đáp trưởng giả Thậm, nói: “Như Lai thường vì
trưởng giả, có rảnh rỗi diễn giải điều ông hỏi. Trưởng
giả cứ hỏi theo ý tìm cầu đạo đức Như Lai ứng nghi chính
chân. Ta sẽ giảng điều ông hỏi, thỏa mãn được ý ông”.
Trưởng
giả Thậm hỏi Phật rằng: “Như thế xin Đức Thế Tôn!
Nếu thiện nam tín nữ phát lòng cầu vô thượng chính chân,
vui thích đạo lớn, thực hành đạo lớn, muốn tới đạo
lớn, muốn trụ đạo lớn, muốn hiểu đạo lớn, chìu chuộng
hết thảy chúng sinh, an ủi chúng sinh, cứu giúp chúng sinh,
thề rằng người chưa độ, ta sẽ độ họ, chưa giải thoát
ta sẽ giải thoát họ, không an ổn, ta sẽ an ổn họ, chưa
được Niết bàn ta sẽ giúp họ Niết bàn, sẽ nhận hết
thảy gánh nặng cho chúng sinh vì muốn cứu giúp chúng sinh
mà tự phát lời thề rộng lớn đó, biết sinh tử bao nhiêu
ác, ác ý, mà không mệt mỏi, sinh tử vô số kiếp ý mà không
nhác biếng. Xin Đức Thế Tôn hoặc có Bồ tát xuất gia tu
đạo để pháp đạo phẩm, hoặc có vị tại gia. Lành thay
xin Đức Thế Tôn xót thương chúng sinh, ban cho thêm đạo lớn
ấy để làm hưng thịnh Tam bảo, khiến hết thảy kinh điển
hay mãi ở đời. Xin Như Lai dạy phép học đức Bồ tát tại
gia. Xin Như Lai, sao gọi Bồ tát tại gia mà vâng làm lời dạy
của đức Như Lai để không sứt cũng không thiếu bản nguyện
họ là đạo vô thượng chân chính, đời nay không có làm
tội, đời sau đạt đạo thù thắng. Cũng xin đức Thế Tôn,
Bồ tát xuất gia hành đạo, vứt bỏ ghét thương, cắt trừ
râu tóc, mặc áo pháp, tại gia có đức tính, rời nhà hành
đạo, bày tỏ lời dạy dạng pháp, dạng đạo, dạng đức
hiệu đủ. Xin đức Thế Tôn, Bồ tát xuất gia hành đạo
và tại gia tu đạo thì thế nào?”
Do
thế, đức Thế Tôn khen trưởng giả Thậm nói: “Lành thay,
lành thay, trưởng giả, nay ông biết hỏi đức Như Lai việc
làm của Bồ tát tại gia, xuất gia. Vậy, này trưởng giả,
hãy nghe tôi nói, gắng sức nghĩ nhớ. Bồ tát tại gia hành
đạo, thì tu học đức làm lành”.
Trưởng
giả Thậm thọ giáo lắng nghe. Đức Thế Tôn nói: Như thế,
này trưởng giả, Bồ tát tại gia hành đạo, phải tự quy
y Phật, tự quy y Pháp, tự quy y Tăng, lấy tự quy y làm gốc
của đức, biến thành đạo vô thượng chính chân. Này trưởng
giả, tự quy y Phật, Pháp, Tăng là thế nào? Ta sẽ dùng 32
tướng đại sĩ thành tựu thân Phật để tự trang nghiêm,
cũng dùng các gốc đức mà đạt 32 tướng đại sĩ, để
đạt các gốc đức ấy liền tinh tấn thực hành. Bồ tát
tại gia, tự quy y Phật là như vậy.
Tự
quy y Pháp là thế nào? Nghĩa là cung kính Pháp, cầu pháp, muốn
Pháp, vui niềm vui của Pháp, làm Pháp thịnh, làm Pháp y, hộ
trì Pháp, canh chừng Pháp, ở như Pháp, nói theo Pháp, viết
sách Pháp, làm sức mạnh của Pháp, cầu Pháp tài, làm Pháp
trong sạch, làm việc Pháp. Ta sẽ phân bố Pháp ấy trên trời
dưới thế, Bồ tát tại gia tự quy y Pháp là thế.
Tự
quy y Tăng là thế nào? Nếu Bồ tát tại gia hoặc thấy Dự
lưu, hoặc thấy Nhất lai, hoặc thấy Bất lai, hoặc thấy
la hán, hoặc thấy người phàm cầu đạo Thanh Văn, thì cung
kính, vâng thờ cúng dường, thờ làm thầy, tôn trọng, dùng
lễ để đãi. Nếu vì vâng thờ chính pháp chính thuật kia
mà được chí ấy, ta cũng sẽ được đạo vô thượng chính
chân để giảng trao kinh điển, thành tựu để tự đức hạnh,
mà cung kính họ, cũng không khinh rẻ. Bồ tát tại gia, tự
quy y tăng là như vậy…
Lại
nữa, này trưởng giả, Bồ tát tu giữa bốn pháp để tự
quy y Phật. Sao gọi là bốn? Một là lòng đạo mãi mãi không
rời. Hai là giới thọ mãi không phạm. Ba là lòng thương đại
bi mãi không dứt. Bốn là đạo khác mãi không làm. Đó là
bốn pháp. Bồ tát tại gia tự quy y Phật là như vậy.
Lại
nữa, này trưởng giả, tu giữ bốn pháp để tự quy y Pháp.
Sao gọi là bốn? Một là kẻ sĩ dạy pháp xin vâng thờ đi
theo. Hai là pháp được nghe thì cung kính. Ba là đã nghe pháp
gốc ngọn thì suy nghĩ. Bốn là đúng như pháp đã nghe, tùy
theo khả năng mà nói rõ ràng cho người khác. Đó là bốn
pháp. Bồ tát tại gia, tự quy y pháp là như vậy.
Lại
nữa, này trưởng giả, tu giữ bốn pháp để tự quy y tăng.
Sao gọi là bốn? Một là coi mạt hạ đạo Thanh Văn, Duyên
Giác, lòng vui trí nhất thiết. Hai là ai đem đồ ăn cho, thì
dùng pháp mà dạy dỗ. Ba là dựa vào chúng bất thối chuyển,
mà không dựa vào chúng thanh văn. Bốn là cầu được đức
độ Thanh văn, nhưng không dùng đức độ ấy mà độ. Đó
là bốn Pháp. Bồ tát tại gia, tự quy y Tăng là như vậy.
Lại
nữa, này trưởng giả, tại gia tu đạo, thấy như Như Lai
thì thực hành nghĩ nhớ Phật. Đó là tự quy y theo Phật.
Đã nghe pháp thì nhớ pháp. Đó là tự quy y Pháp. Nếu đã
thấy thánh chúng của đức Như Lai thì vẫn nghĩ nhớ lòng
đại. Đó là tự quy y Tăng.
Lại
nữa, này trưởng giả, tại gia tu đạo, phát lòng mong gặp
Phật mà bố thí là tự quy y Phật. Nếu vì ủng hộ chính
pháp mà bố thí là tự quy y Pháp. Nếu đã bố thí để đạt
đạo vô thượng chính chân là tự quy y Tăng.
Lại
nữa, này trưởng giả, tại gia tu đạo, nếu tu hạnh người
hiền, không thực hành hạnh phàm phu, đó là hạnh người
hiền, dùng pháp cầu tài, mà không dùng phi pháp, dùng chính
không dùng tà mà sống đúng, không quấy nhiễu người, dùng
pháp mà đạt tới. Của nhiều thì thực hành quán vô thường.
Để nhận trân bảo, để được mãi thịnh, thì bố thí cúng
dường cha mẹ, bạn bè, bề tôi, anh em, thân thuộc với sự
kính trọng, còn khách tớ, kẻ hầu người trông coi sai chia
đều, cũng đem lời giáo hóa. Pháp thù thắng ấy là để
nhận gánh nặng, đó gọi là gánh nặng chúng sinh, tinh tấn
không mệt mỏi. Không nhận gánh nặng, không nhận nó, đó
gọi là việc của Thanh Văn, Duyên Giác. Thành tựu chúng sinh
không mệt mỏi, không ham sướng thân vì để làm sung sướng
chúng sinh. Lợi hại, hủy báng, ngợi ca, khen chê, khổ sướng,
không làm khuynh động, vì vượt xa pháp thế gian, giàu có
của không vui.
Lại
đối với đạo, không lợi lộc, không lời khen, không tiếng
tăm, không phong thưởng, việc làm đã được suy nghĩ chín
chắn, nhận được chính (đạo) là mừng vui. Thấy biết nhận
tà, nhưng lòng có chính hạnh, hai thứ khen ngợi để cởi
bỏ, cho được lời thề, đó là lo việc người, không tự
lơ là việc hội, có ơn với người, rốt cuộc không mong
được trả, làm ơn bao nhiêu người, biết ơn biết trả nên
lại làm hạnh ân đức. Người nghèo cho của, người sợ
cho an ủi, người bồn chồn thì cởi mở nỗi lo, người không
sức thì lặng chịu đựng, kẻ cường hào thì làm bỏ kiêu
mạn. Để bỏ lỗi lớn kiêu mạn thì dùng tôn kính tôn trưởng,
vâng chờ bậc nghe nhiều, hay hỏi người biết rõ ngay thẳng,
bày ra không hư dối vẻ vời mọi người mà vẫn có
phương tiện hành đức để có thể tìm hiểu được. Để
nghe nhiều không chán, không đủ, phải siêng năng đúng đắn,
nên cùng thánh nhân gặp gỡ, đi theo thánh nhân mà cung kính,
thờ bậc đa văn, hỏi người hiểu biết. Vì vậy ngay thẳng
bày ra, không thờ việc che giấu các kinh mà mình đã nghe,
mà trình bày những điều đã được nghe và làm người khác
hiểu nghĩa của nó là hết thảy ham muốn vui vui thú của
dục nghĩa là vô thường, không tiếc thương thân mệnh, từ
quán tuổi thọ như giọt sương mai, nghĩ của cải mình có
như mây huyển, gia thuộc khách khứa như oán thù, vợ con trai
gái nghĩ là địa ngục vô gián, có những gì mình có là khổ
hết thảy, đất đai nhà cửa cơ nghiệp mọi vật thường
nghĩ là vết đau, đức mình đạt được có tưởng là bại
hoại, nhà ở có tưởng khốn ách, bạn bè bề tôi anh em thân
thuộc có tưởng chúa địa ngục. Suốt ngày đêm có cùng
tưởng, đem chiếc thân không thật có tưởng là thật, đem
tuổi thọ không thật có tưởng cảm là thọ thật, đem của
cải không thật có tưởng cảm là thật.
Vị
kia nếu đem mọi vật lễ nghĩa thờ kính người, ấy là dùng
thân không thật mà nhận được thật. Nếu các vốn đức
xưa không phá, lại làm tăng thêm, đó là đem mạng sống không
thật để mà nhận được thật. Nếu để ngăn keo kiệt mà
bố ân thi đức, đó là đem của không thật để nhận lấy
thứ thật. Đó là Bồ tát tại gia tu đạo làm hạnh việc
người hiền. Như vậy là không tội. Đem lời dạy đức Phật
mà giảng dạy không chê không bớt bản thệ của Ngài, đó
gọi là đại vô thượng chính chân, thì đời này là hạnh
không tội và đời sau được đạo thù thắng.
Lại
nữa, này trưởng giả, Bồ tát tại gia tu đạo nên tự vâng
giữ giới, đó gọi là vâng giữ năm giới. Đó là không thích
sát sinh, không dùng dao gậy đối với loài máy cựa, không
quấy nhốt người. Đó là không thích trộm cắp của cải
người, của mình có là biết đủ, không nghĩ đến của người
khác cho đến ngọn cỏ, cây kim, không cho thì rốt cuộc không
lấy. Đó là không thích muốn hạnh tà, vợ mình có biết
là đủ, mắt không thích nhìn vợ người khác, lòng thường
tự lo lắng nghĩ nhớ lòng dục là khổ, nếu sinh niệm dục
với vợ mình, thì quán chất dơ để có nỗi sợ hãi, nhọc
mệt vì việc dục để không sợ không khổ vì mến mộ vô
thường, chí đạt tưởng tịnh lạc, nên như vậy ta sẽ tự
tu, tư tưởng dục ta đã không có huống nữa nhiều lần làm.
Đó là không thích nói dối, dùng lời thật, lời thành không
dối trá, không làm nản lòng, nói đúng như lòng thành, như
mình thấy nghe, cẩn thận giữ gìn kinh pháp, không dùng thân
thể nên không nói dối. Đó là không thích uống rượu, để
không say, không mê hoặc, không gắt gỏng, để không bị hình
phạt mà đi theo, không ép chí mà biết đúng. Giả sử lấy
lòng bố thí hết thảy những gì ta có sẽ đem cho người,
xin ăn cho ăn, xin uống cho uống, xin xe cho xe, xin áo cho áo,
thì cho người rượu là để dựng chí. Như vậy là bố thí
vượt không bờ mé, ấy là khi có người xin mà cho, thì ta
có thể cho họ rượu để khiến họ theo đó mà đổi chí,
vì mình biết mà làm, nên không mê hoặc. Vì sao như vậy?
Bồ tát vì chúng sinh thỏa mãn hết các nguyện vọng của
họ, bố thí vượt bậc không bờ mé nhất loạt như vậy.
Bồ tát tại gia đem rượu cho người mà không bị tội.
Vì
thế, này trưởng giả, Bồ tát dùng vốn đức được tu học
biến thành đạo vô thượng chính chân, nếu khéo tu thân giữ
năm giới ấy.
Lại
thêm có lời đẹp, không nên có lời dèm pha mọi người,
phân tranh mà làm họ hòa hợp, không dùng lời thô mà dùng
lời nhu nhuyễn luôn nói trước người, không dùng lời thêu
dệt mà dùng lời nghĩa để thuyết pháp, nói đúng lúc, nói
đúng việc, không có lưới si, để an ổn cho chúng sinh. Lòng
không bại loạn, thường dùng sức nhẫn nhục để tự làm
đẹp mình, dùng chính kiến bỏ rời tà kiến, như kính lễ
chư Phật Thế Tôn, không kính lễ thiên thần khác.
Lại
nữa, này trưởng giả, tại gia tu đạo, hoặc tại xóm làng
quận huyện kinh đô, nên ở đó ủng hộ kinh pháp. Làm thế
nào ủng hộ kinh pháp? Là người không tin, giáo hóa cho họ
tin; người xan tham, giáo hóa họ bố thí; là người ác giới
dùng giới luật giáo hóa họ; người loạn ý giáo hóa họ
nhẫn nhục; người biếng nhác giáo hóa họ tinh tấn; người
thất trí giáo hóa họ tư duy, người biết tà, lấy việc
trí giáo hóa họ; kẻ nghèo khó, đem của cho giàu lên; người
bệnh tật đem thuốc cho; người cô độc đem về làm bà con;
người không nơi trở về, đem làm nơi trở về; người không
nơi nương tựa, làm chỗ nương tựa cho họ. Vì hết thảy
những kẻ phá hoạt làng nước thì việc ủng hộ kinh pháp
là như thế này. Này trưởng gỉ, hoặc vị Bồ tát kia từ
một, hai, ba, cho đến trăm lần dạy dỗ nhân dân, khiến họ
tu tập các pháp đạo đức, vị Bồ tát ấy đem lòng thương
đến chúng sinh, để làm mạnh mẽ lời thề của hết thảy
mọi lời thề sáng suốt. Lời thề nói rằng: “Đối với
nhân dân khó giáo hóa mà chưa được thành tựu, tôi rốt
cuộc không nhận đạo vô thượng chính chân. Vì sao? Vì tôi
nay nhân việc đó để tự thề với mình. Tôi không vì người
chất trực, không vì người không siểm nịnh, không vì người
không dối trá, không vì người giữ (ý), không vì răn dạy
kẻ hữu đức, mà vì những người đó nên đem lời thề
trên tự thề với mình, chỉ muốn khiến những người đó
nghe kinh pháp, dùng kinh để giáo hóa họ. Tôi vì điều đó
nên dùng lời thề ấy tự thề với mình. Tôi phải luôn luôn
làm mạnh mẽ lòng tinh tấn thực hành. Tôi quyền biến để
không bị khốn khổ, nếu ai có thấy thì không ai là không
thích tin.
Này
trưởng giả, nếu nơi chỗ có nhà Bồ tát ở, mà không tha
thiết đối với người dân rơi vào đạo khác hung ác, đó
là lỗi Bồ tát. Này trưởng giả, ví như làng xóm kinh đô
có thầy thuốc giỏi, giả sử nếu có người không trọn
mạng sống mà phải chết, mọi người đều có lỗi trong
việc chữa trị. Như vậy, này trưởng giả, nếu ở chỗ
Bồ tát cư trú mà không tha thiết đối với người rơi vào
đạo khác hung dữ, thì đức Như Lai ứng nghi chính chân giác
giả bắt lỗi vị Bồ tát đó, vì thế, này trưởng giả,
Bồ tát tại gia tự thề như thế này: “Nếu kinh đô ta đến,
người si thờ nhau, sẽ không khiến một người nào rơi vào
đạo khác hung ác”.
Lại
nữa, này trưởng giả, Bồ tát tại gia tu đạo phải hiểu
nhà là ác, tại gia làm hại đến hết thảy gốc của mọi
điều lành, vì nhà không có lối ra, làm hại pháp thanh tịnh,
nên gọi là nhà. Tại gia là ở vào hết thảy mọi nỗi khó
nhọc, là ở với mọi niệm ác, là ở với mọi hạnh ác.
Không cải hóa, không giữ mình được, cùng ở với người
phàm ngu, tập hội với người không thật. Đó là nhà. Nhà
là tên gọi đó, ở đấy không ai là không làm việc không
đúng, ở đấy thì không cung kính đối với cha mẹ mình,
vị xuất gia, ở ẩn, tôn trưởng, các thánh. Vì thế gọi
là nhà. Lao ngục quan huyện tra khảo, đánh đập, chửi rủa,
ép buộc đến nỗi chết đều do đó, nên gọi là nhà. Vì
ở đó mà đi vào đường ác, vì ở đó mà rơi vào các dục,
rơi vào sân nhuế, mà mắc sợ hãi, mà mắc ngu si. Đó gọi
là nhà. Để không giữ canh việc giới, xa lìa mà thực hành
việc định, để không tu việc huệ, không đạt được việc
giải thoát, nên gọi là nhà. Ở đó tức có lòng yêu cha mẹ,
yêu anh em, yêu chị em, yêu vợ, yêu con, yêu nhà cửa, yêu
của cải, yêu tôi tớ, yêu sở hữu, yêu tiền của không
chán, nên gọi là nhà.
Tại
gia ấy khó thỏa mãn, vì biển lớn mọi sông chảy về, tại
gia ấy khôn chán ví như lửa được thêm củi. Tại gia ấy
nhiều niệm không ngừng nghỉ, ví như gió không ngừng nghỉ,
như bị chìm đắm, như ăn uống ngon mà bị thuốc độc, bị
mọi khổ sở. Nó ví như kẻ thù mà làm vẻ bạn bè để
làm lầm lạc hạnh của người ta, không để thực hành kinh
điển thánh hiền, mà gây phân tranh, càng tạo thêm điều
kiện cho bất hòa, làm nhiều vết nứt, làm hạnh thiện ác,
điều kiện có mặt, luôn luôn làm cho người ta hiềm nghi,
mà người ta chẳng có.
Vì
có điên đảo nên còn bất thiện. Dù thiện vẫn có quyền
trá, như tánh hạnh hiện ra giống kẻ hề, biến chuyển nhanh
chóng giống người làm xiếc. Người mới đến tụ hội,
hạnh nó không chân thành. Giống như giấc mơ, mọi thành bại
đầu cuối giống như sương mai, vì nó mau tan rời. Nó giống
như giọt mật vì nó ít vị. Nó giống như lưới gai, bị
sắc, tiếng, hương, vị trơn mịn làm hại. Nó giống như
sâu lỗ sắt, vì dùng niệm chẳng thiện làm thức ăn. Nó
giống như kẻ trái lệnh vì liên tục dối trá nên luôn ôm
lòng sợ hãi. Vì có ý làm loạn nên phần lớn cùng cho huyện
quan là giặc cướp, oan gia xấu ác thì sẽ bị kẻ vương
giả hại chết. Tại gia ấy, ít nếm sung sướng, vì có nhiều
khuyết điểm hung ác. Này trưởng giả, Bồ tát tại gia hiểu
nhà hung ác như vậy.
Lại
nữa, này trưởng giả, tại gia tu đạo lấy bố thí làm của
báu. Nếu đã cho thì ta có. Nếu còn nhà thì chẳng phải ta
có. Nếu đã cho là trân báu, nếu còn nhà là chẳng trân báu,
nếu đã cho là giàu của, nếu còn nhà là không có của, nếu
đã cho là hết nhọc mệt. Nếu còn nhà là nhọc mệt thêm.
Nếu đã cho là không ta, nếu còn nhà là ta. Nếu đã cho là
không có, nếu còn nhà là có. Nếu đã cho là không bao giờ
hết, nếu còn nhà là vô thường. Nếu đã cho là không phải
giữ, nếu còn nhà là phải giữ lấy. Nếu đã cho là hạnh
người hiền, nếu còn nhà là ý phàm phu. Nếu đã cho là dựa
vào đạo giải thoát, nếu còn nhà là dựa vào bọn tà. Nếu
đã cho là đức Phật khen, nếu còn nhà là người ngu ca ngợi.
Này
trưởng giả, Bồ tát tu tại gia, xem bố thí quý báu như vậy.
Do thế thấy người đến xin gì, thì sẽ sinh ba ý tưởng.
Ba ý tưởng là gì? Là ý tưởng bạn lành, ý tưởng dựa
vào đạo giải thoát, ý tưởng gắng làm giàu của thêm. Sinh
ba ý tưởng đó, lại tạo ba ý tưởng. Sao gọi là ba? Là
ý tưởng tôn trọng lời dạy của đức Như Lai, ý tưởng
hàng phục tà vạy, ý tưởng không mong cầu phước đức.
Vì sao? Nếu Bồ tát ấy, như có người đến xin gì đều
được thì tham dâm sân hận ngu si, được coi là mỏng. Mỏng
là vì sao? Nếu mình có vật gì đem bố thí hết thảy không
tiếc, đó là tham dâm mỏng. Nếu đối với người đến xin
vật gì, đem lòng thương yêu cho thêm, đó là sân giận mỏng.
Nếu đem bố thí biến thành một sự hiểu biết hết thảy,
thì gọi là ngu si mỏng.
Lại
nữa, này trưởng giả, đã thấy người đến xin vật gì
thì nhanh chóng thành tựu hạnh sáu độ vô cực. Làm sao thành
tựu hạnh ấy? Nếu có người đến theo mình xin vật gì,
mà mình có thể cho không thương tiếc, đó là bố thí độ
vô cực. Nếu có người đến xin vật gì, mà không sân giận,
đó là nhẫn độ vô cực. Giả sử còn tự suy nghĩ ăn làm
gì, tự làm mạnh thêm ý ấy mà không buông bỏ hạnh mình,
đó là tinh tấn độ vô cực. Nếu sắp bố thí, nếu đã
bố thí mà không uất ức, không có hối hận, đó là thiền
độ vô cực. Này trưởng giả, Bồ tát dùng bố thí để
thành tựu hạnh sáu độ vô cực như vậy.
Lại
nữa, này trưởng giả, tại gia là phải xa rời việc thuật
theo nhẫn loạn, mà thân cận phép tách rời. Nếu được của
cải, gạo thóc, được trai gái thì không lấy làm vui. Nếu
hết thảy hư mất, thì lòng không lấy làm buồn rầu, vì
đã quán vạn vật như huyễn, thực hành tưởng không ngừng
nghỉ. Hạnh huyễn này đã đạt được, thì cha mẹ vợ con
nô tỳ khách khứa không phải là ta có. Ta cũng không có nó,
cũng không phải ta có, ta cũng không nên có, vì chẳng phải
ta có chúng. Nay ta vì chúng mà làm tội ác thì chỉ ở đời
này, mà chẳng có ở đời sau. Đó là có cái khổ thỉ chẳng
phải cái ta nên giữ gìn. Còn cái ta có thì ta nên giữ gìn.
Cái ta có là gì? Đó là bố thí giáo hóa, điềm đạm tự
giữ cội nguồn của đạo, cũng chứa cất vốn đức. Đó
là ta có. Đến chỗ ta trụ, đó là đuổi ta. Điều đó không
dùng thân mạng, không vì trai gái vợ con mà gây hạnh ác.
Cho
nên tại gia có vợ mình, nên tạo ra ba ý tưởng. Sao gọi
là ba? Là ý tưởng vô thường, ý tưởng không lâu dài, ý
tưởng biệt ly. Đó là ba ý tưởng ta nên gây ra. Lại nên
tạo ra ba ý tưởng? Sao gọi là ba? Vì nếu ở vui sướng thì
nghĩ tới khổ đời sau, nếu ăn uống thì nghĩ tới tột ương,
nếu đang sướng thì nghĩ tới khổ. Nên tạo ba ý tưởng
này. Lại tạo ba ý tưởng. Sao gọi là ba? Là ý tưởng trọng
lụy, ý tưởng hao phí, ý tưởng có chỗ tục. Nên tạo ba
ý tưởng đó. Lại tạo ba ý tưởng. Sao gọi là ba? Là ý
tưởng vào địa ngục, ý tưởng vào súc sinh, ý tưởng vào
ngạ quỉ. Nên tạo ba ý tưởng đó. Lại nên tạo ba ý tưởng.
Sao gọi là ba? Là ý tưởng quỉ mỵ, ý tưởng cối đổ,
ý tưởng sắc tượng. Nên tạo ba ý tưởng đó. Lại nên
tạo ba ý tưởng. Sao gọi là ba? Là ý tưởng không phải ta,
ý tưởng vô chủ, ý tưởng như tạm mượn. Nên tạo ba ý
tưởng đó.
Này
trưởng giả, suy nghĩ các tưởng như thế, Bồ tát tại gia
phải tự quán thân vợ mình như vậy, do đó sẽ không yêu
con mình. Giả sử sinh lòng yêu con, thì không gia lòng ấy cho
thiên hạ. Cho nên, phải dùng ba can ngăn mà tự can ngăn lòng
mình. Ba can ngăn đó là gì? Lòng bình đẳng làm đạo, không
dùng lòng tà. Chính hạnh làm đạo, không dùng hạnh tà. Không
đa hạnh làm đạo, đa hạnh là sai. Dùng ba can ngăn ấy tự
can ngăn lòng mình. Tự tạo ý tưởng oán thù với con mình,
là oán thù của ta, chứ chẳng phải bạn bè của ta. Vì sao
vậy? Vì do nó của ta trái mất lời dạy răn của đức Phật
từ bi là khiến ta càng thêm nhiều lòng thương người tha
thiết như thương con mình. Đem lòng thương chúng sinh, như
sự tự yêu thương thân mình, thì đem lòng từ thương yêu
tới cho chúng sinh. Do thế, phải quán gốc ngọn của họ,
họ do đâu mà khác, ta do đâu cũng khác. Chúng sinh đời trước
đã từng con ta, ta cũng từng là con cái chúng sinh. Đó là
lỗi của sinh tử, không thể để yên. Vì sao thế? Đó là
con đường tới lui để có hạnh xa rời, mà chuyển thành
oán thù. Ta nay nên phải tự tu để khiến ta không có bạn
bè, cũng không có oán thù. Vì sao vậy? Vì để tạo nên bạn
bè là lại muốn làm ra nhiều để tạo nên oán thù ấy đều
vì lòng dục làm ác. Hết thảy chúng sinh, họ chẳng phải
là ta. Ý người không được thì cho là được, ý không được
lại cho là được, để hiểu thông các kinh. Vì sao vậy? Làm
đúng thì được đạo đúng, làm bậy thì được đạo bậy.
Nay ta không có làm bậy, mà làm đúng ý đối với chúng sinh,
thì có thể được trí hết thảy.
Này
trưởng giả, Bồ tát tại gia mọi vật đừng nên lưu luyến,
đừng nên ái mộ, đừng nên đi tới, đừng nên thương yêu,
đừng nên đồng ý, nên làm như vậy. Lại này trưởng giả,
Bồ tát tại gia giả sử có người đến xin gì, giả sử
mình không muốn cho vật đó, thì nên phải tự can ngăn lòng
mình. Giả sử ta không đem cho vật đó, thì vật đó rút cuộc
cũng tách rời khỏi ta. Nếu không muốn cho, đến khi chết
vật đó cũng sẽ bỏ ta, và ta cũng sẽ bỏ nó. Thà cho trân
báu mà chết. Ta cho vật đó, lúc chết, lòng mới rũ bỏ.
Giả sử suy nghĩ như vậy mà không thể cho vật đó, thì dùng
bốn từ tạ để từ tạ người đến xin. Sao gọi là bốn?
Ta vì không có sức nên các đức chưa thành tựu. Ta mới bắt
đầu ở đạo lớn nên lòng bố thí không tự do. Ta mới thấy
đạo, còn các hạnh khác, ta tạm thời luyện hiền, không
thể ép được. Ta có thể vâng làm điều đã làm, còn những
điều đã thọ mới thỏa mãn sở nguyện của ngài và của
người thiên hạ. Từ tạ người đến xin đồ là như thế.
Lại
nữa, này trưởng giả, Bồ tát tại gia tu đạo rời thầy
đi giảng dạy, nhằm thời không có Phật, không thấy kinh,
không gặp gỡ thánh chúng, thì nên đảnh lễ chư Phật mười
phương hạnh cầu đạo đời trước của các ngài, chí nguyện
rộng rãi, nguyện cho hết thảy thành tựu các đức của Phật
pháp, lấy đó mà nghĩ nhớ thay cho niềm vui. Từ đó mỗi
ngày ba lần, đêm ba lần, đọc kinh ba phẩm. Hết thảy các
hạnh đã làm đời trước, đem ra tự sám hối, cải lỗi,
làm tốt tới cầu xin hết thảy chư Phật đem giáo pháp thương
xót, đem vô số vô biên pháp thương xót.
Lại
nữa, này trưởng giả, Bồ tát tại gia tu đạo phải hiểu
nghi thức dứt lòng. Vì thế, nếu thấy nghi thức dứt lòng
đặc biệt của Tỳ kheo, thì nên kính trọng áo pháp. Đó
là pháp phục do giới định tuệ của Phật Thế Tôn Như Lai
ứng nghi chính chân làm ra, đem vô ác để tách rời hết mọi
ác. Nó là biểu thức của mọi thánh tiên. Do thế phải kính
trọng nó. Cũng nên thương xót đến các Tỳ kheo. Họ chẳng
phải là hiền, vì còn làm điều không đúng. Nhưng đến khi
mặc áo đó, họ được gọi là người điều phục, người
trong sạch, người thần thông, là biểu thức của Như Lai,
dù làm hạnh không điều phục trong sạch.
Đức
Như Lai lại nói: Người chưa học thì không nên lơ là, nếu
chẳng thế thì hị sẽ gặp lỗi lầm trần lao. Từ việc
đi theo trần lao đó mà họ có những sự mất mát. Nếu họ
không lơ là như thế, thì họ sẽ thấy Phật, nghe được
pháp yếu đúng như thứ tự phải có, nếu họ vứt bỏ trần
lao, để quán gốc ngọn nó mà giữ đức số một tất biết
đúng trí sắp cắt đứt mọi trần lao, như đức Thế Tôn
đã gọi bậc đại sĩ không thể lơ là khinh miệt. Đó chẳng
phải là lúc đức Như Lai có. Đó biết chẳng phải ta có.
Vì thế không sân, không giận, không tức đối với họ. Nếu
vào chùa, đã ở ngoài cửa, thì năm vóc đảnh lễ, rồi mới
vào chùa. Đó là việc ở chùa trống, cũng thương yêu vui
vẻ giữ gìn việc ở chùa. Nó chính là việc của những người
sống đúng. Đạt điều đó, khiến ta được ở chùa. Làm
như vậy để rời xa quan vị nhà cửa. Đạt điều đó, ta
trai giới, tội được cấm ngăn. Ngăn như vậy là có lòng
xuất gia.
Chưa
từng có Bồ tát tại gia mà được đạo. Họ đều xuất
gia vào núi đầm, vì đến núi đầm là được đạo, chê
bỏ việc nhà. Xuất gia, người trí khen ngợi như cát sông
suối. Ta một ngày lễ bái làm tất cả các việc bố thí
thì lòng xuất gia vẫn thù thắng hơn. Vì sao? Vì bố thí là
thấp kém, huống nữa là bố thí cho người không tin, không
suy nghĩ, trộm cướp xấu ác. Vương giả và đại thần không
cho việc bố thí những kẻ ấy là quý, là được đủ, mà
cho ta giới hạnh, văn hạnh. Vì thế, vào chùa, nên xem việc
làm của chúng Tỳ kheo. Những Tỳ kheo nào là nghe nhiều. Những
ai là hiểu kinh. Những ai là vâng luật. Những ai là vâng khiến.
Những ai là Bồ tát tạng. Những ai ở núi đồng, những ai
làm việc nhận cúng. Những ai thiền định. Những ai đạo
hạnh. Những ai là đạo Bồ tát. Những ai là trợ tá. Những
ai là chủ sự, để xét việc làm hết thảy chúng Tỳ kheo,
đúng như việc họ làm, để tùy theo hiệu quả làm mà làm,
không nên trở thành ganh ghét.
Nếu
ở xóm chợ mà nói tới chùa chiền, nếu ở chùa chiền mà
nói chợ xóm thì nên cẩn thận giữ gìn lời nói việc làm.
Không nên đem việc trong chùa nói ở chợ xóm, cũng không nên
đem chuyện xóm chợ nói ở chùa. Do thế, vâng thờ vị đa
văn là để luyện tập. Vâng thờ vị rõ kinh là để giải
quyết việc hiểu kinh. Vâng thờ vị giữ luật là để giải
thoát khỏi tội ương. Vâng thờ Bồ tát tạng sâu (Bồ tát)
là để rõ việc sáu độ phương tiện vô cực. Nếu có Tỳ
kheo thiếu bình bát hay thiếu pháp y, nên cấp cho họ, chớ
khiến sinh ganh ghét ở người. Vì sao? Người ta kết với
nhau bằng ganh ghét, nên phải phòng hộ kẻ phàm, chứ không
phải ứng nghi. Vì sao? Người phàm là có lỗi, còn bậc ứng
nghi không có lỗi. Nếu có Tỳ kheo chưa vào chính đạo, hoặc
tích chứa pháp y, hoặc tích chứa ứng khí, thì dùng đạo
vô thượng chánh chân khai đạo cho Tỳ kheo đó. Vì sao? Việc
có đo lường. Vì thế, vật chứa đựng là nhằm đến đạo.
Chứa đựng dứt lòng. Nếu có bất hòa, nên hòa giải. Nếu
chính pháp sắp suy vi, thì tự mình chịu nguy tới thân mạng,
để ủng hộ chính pháp. Nếu thấy Tỳ kheo khổ vì tật bệnh,
thì đem cho máu thịt khiến cho người bệnh được lành.
Này
trưởng giả, nếu Bồ tát tại gia không bố thí thì không
lấy gì để cấm chỉ người. Nếu có bố thí mà rốt cuộc
không hối hận, nếu có các gốc đức, thì hãy dùng lòng
ấy làm đầu mối. Này trưởng giả, nếu những việc, những
loại, những nên làm, Bồ tát tại gia tu đạo làm như vậy.
Khi
đức Thế Tôn đang thuyết dạy pháp kiến mà Bồ tát tại
gia thi hành này, thì có ngàn người phát lòng cầu vô thượng
chính chân. Lại có trời cùng người hai ngàn người xa bẩn
lìa dơ, mắt pháp sinh ra. Do thế, trưởng giả Thậm bạch
đức Thế Tôn nói: “Xin đức Thế Tôn Như Lai diễn giải
đất nhà thiện ác của Bồ tát tại gia, cùng bố thí, trì
giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ ở đạo
lớn phải nên thi hành. Xin đức Thế Tôn, Bồ tát xuất gia
tu đạo làm gì, xin ngài hiện cho chút thiện. Xin đức Thế
Tôn, Bồ tát xuất gia thì làm thế nào? Việc phải thi hành
là gì?”
Đức
Thế Tôn bảo trưởng giả Thậm: “Lành thay trưởng giả,
nay ông hỏi đức Như Lai hạnh làm Bồ tát xuất gia tu đạo.
Lành thay trưởng giả, ta đang vì ông nói hạnh làm của Bồ
tát xuất gia. Ông gắng tinh tấn, khéo nhớ nghĩ. Trưởng giả
Thậm thọ giáo, nghe đức Thế Tôn”.
Đức
Thế Tôn nói: “Này trưởng giả, Bồ tát xuất gia tu đạo
như cứu đầu cháy, như mặc áo giáp, tinh tấn để cầu trí
tuệ”. Xuất gia ban đầu là như vậy. Tiếp đến là tu học
thánh điển. Thánh điển của người xuất gia gọi là gì?
Đó là nhắm được một y là đủ, cũng khéo có một bữa,
một giường, bệnh ốm một thuốc trị là đủ là tốt. Đó
là thánh điển. Vì sao gọi là thánh điển? Vì để tu hết
thảy các pháp đạo phẩm, nên gọi là thánh điển.
Lại
Bồ tát xuất gia tu đạo có mười đức biết đủ, mình mặc
áo pháp. Mười là gì? Hổ thẹn nên mình mặc áo pháp, vì
tránh gió nóng nên mình mặc áo pháp. Vì tránh muỗi, mòng,
bò mắt, nên mình mặc áo pháp. Vì muốn biểu lộ hình dạng
dứt lòng nên mình mặc áo pháp. Vị thần áo pháp cũng là
thần mười phương nên mình mặc áo pháp. Vì hoạn nạn, rời
dâm dục, vì không thích niềm vui dâm dật. Vì thích yên ổn
thanh tịnh, nên từ bỏ niềm vui các trần lạo. Vì không cho
béo mập là đạo hạnh. Thực hành gánh nặng đạo thánh,
ta cũng tự tu, như có áo pháp một lúc là như mặc áo pháp.
Đem mười đức đó, tự quán mình cho đến chết ở chỗ
vắng lặng, mà không đi xin ăn. Mười là gì?
Ta
tự nhờ nghề mình để sống, mà không nhờ nghề chẳng phải
khác. Nếu có người đến bố thí cho ta, thì nên trước dùng
để làm việc Tam bảo, sau mới nhận của bố thí đó. Ta
nếu theo người xin ăn, nếu gặp người không muốn cho, thì
xót thương họ. Ta nên tự ăn đồ ăn do mình làm, để không
trái với lời giáo huấn của đức Như Lai, để được thành
tựu trách nhiệm nặng nề của việc biết đủ, để hàng
phục lòng kiêu mạn, để thành tựu gốc đức vô kiến đỉnh.
Ta cũng biểu lộ bố thí, để tự dạy mình nếu đi xin ăn.
Ta cũng không được có sự lựa chọn trai gái, vì ta có lòng
bình đẳng đối với người thiên hạ, để được thành
tựu trách nhiệm nặng nề trí sáng. Này trưởng giả, đó
là mười đức, mà Bồ tát xuất gia dùng để tự quán mình
cho đến khi chết ở chỗ vắng lặng, không đi xin ăn.
Nếu
có người đến mời, chỗ đến người ta lòng chí vui tin
đạo, ta không nên sẽ đến. Giả sử đến ăn, nếu có thể
làm lợi cho mình và cũng làm lợi cho người, thì có thể
đến nhận thí. Ta dạy Bồ tát có thể xin họ. Ấy là mười
đức có thể ngồi nghỉ đêm dưới gốc cây để tự quán.
Mười là gì? Là để tự do đến đi, để không gọi có giường
nằm, để không đóng cửa, để rời bỏ ái mà ở núi đầm,
để thiếu dục thiếu sự làm thành đức, bỏ vứt thân mạng
mà không tự tiếc, thích riêng tịnh để xa rời lòng lưu
luyến làng xóm, để tu hành thân không ăn, để định ý làm
an tịnh nhất ý, thiền định chỗ vắng là vô ích. Này trưởng
giả, đó là mười đức mà Bồ tát xuất gia có thể nghỉ
ở dưới gốc cây tự quán.
Lại
này trưởng giả, hoặc Bồ tát kia xuất gia tu đạo đến
ở núi đầm, nếu muốn học kinh, nếu để tụng kinh, nên
vào chùa. Nếu ở chùa lòng hướng đến ở núi đầm, thì
ở núi đầm kia. Người thực hành cầu pháp, thì có ý tưởng
mọi vật không là ta, có ý tưởng hết thảy các pháp là
tha nhân có.
Lại
Bồ tát xuất gia tu đạo, nếu đến ở núi đầm, nên tự
xem xét ta nay vì sao đến trong núi đầm này, không phải chỉ
để ở núi đầm, gọi đó là dứt lòng. Vì sao? Vì ở vùng
này có nhiều thứ không thể dạy, không thể giữ, không thể
độ, không thể đáp, không thể tu hành được cũng đều
đến núi đầm. Đó là cầm thú các loài chim, khỉ, gà lôi,
người ác, trộm cướp, đều đến ở núi đầm, ai cũng không
gọi chúng là dứt lòng. Đến như ta tìm ở núi đầm, nên
vì thành tựu điều ta tìm cầu, đó là tìm dứt lòng. Nhưng
vì sao Bồ tát dứt lòng? Đó gọi là chí không loạn. Đạt
được nó, thì mang đi khắp để hiểu việc đầy đủ nên
nghe là không đủ, nên được biện từ, nên lòng từ không
thiếu lòng thương lớn, nên không chuyên rời năm thần thông,
hưng long sáu độ vô cực, dẹp hết thảy thù địch. Lòng
không chọn bỏ, thực hành trí tuệ quyền mưu, đem pháp bố
thí, tập hợp nhân dân, thành tựu bốn việc tập hợp nhân
dân. Không chọn bỏ cũng đáng nhớ. Đem tinh tấn nghe không
thiếu sót là gốc ngọn của trạch pháp, là điều kiện của
đạo chính độ. Trí cũng không là việc vào chính đạo vì
việc hộ vệ chánh pháp.
Tin
tội phước là thấy đúng. Suy nghĩ việc mình làm để cắt
bỏ là suy nghĩ đúng. Tùy sở thích để thuyết minh pháp nói
đúng. Tùy việc làm đầy đủ hết là làm đúng. Trừ bỏ
những tỳ vết đang tiếp tục là sống đúng. Dùng đạo để
đạt tới là phương tiện đúng. Vì không quên nhẫn là chí
đúng. Dùng mọi trí sắc bén để đạt tới là định đúng.
Nếu dùng không làm niềm vui hạnh bất tưởng, nếu dùng việc
đạt bất nguyện làm cắt đứt thế tục, dựa vào nghĩa
mà không dựa vào văn, dựa vào pháp mà không dựa vào người,
dựa vào trí mà không dựa vào thức, diễn nghĩa về văn gốc
mà không dùng nghĩa tả ở ngọn, này trưởng giả, đó là
việc cầu dứt lòng của Bồ tát xuất gia.
Lại
nữa, người xuất gia tu đạo không nên có nhiều tùng sự,
vì suy nghĩ như vậy về gốc ngọn của mình, nếu không tùng
sự hết thảy chúng sinh, dù mình triết một người cũng không
tùng sự. Lại có bốn tùng sự đức Như Lai giáo huấn cho
Bồ tát xuất gia. Sao gọi là bốn? Một là tùng sự giảng
kinh. Hai là tùng sự người đã thành tựu. Ba là tùng sự
người cúng dường Như Lai. Bốn là tùng sự với người phát
lòng nhất thiết trí không loạn. (Vậy) rời bỏ kia, không
nên tùng sự nhiều.
Lại
nữa Bồ tát đến núi đầm phải tự xem xét ta tại sao lại
đến đây. Họ suy nghĩ ta vì sợ hãi mà đến đó. Sợ hãi
gì? Sợ hãi sự quần tụ đó. Sợ hãi cùng người tùng sự
tham dâm, sân nộ, ngu si, kiêu mạng tự buông lung. Sợ hãi
bạn ác. Sợ hãi ghen ghét, keo kiệt. Sợ hãi sắc, tiếng,
hương, vị, trơn mịn. Sợ hãi khen công, lợi cung kính. Sợ
hãi không thấy nói thấy, không nghe nói nghe, không biết nói
biết, không hiểu nói hiểu. Sợ hãi vết dơ của dứt lòng.
Sợ hãi càng ganh ghét. Sợ hãi rơi vào năm đường tới lui
sinh tử. Sợ hãi cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc. Sợ hãi
ấm bậy, chết bậy, bận rộn, thiên tử bậy. Sợ hãi ác
đạo, địa ngục, súc sinh, quỉ thần. Sợ hãi mọi niệm
các ác thảng thốt đó.
Ta
đến đó, không thể vì thế mà tại gia. Nếu ở trong quần
tụ, làm các hạnh không đúng đạo, thì không được miễn
các nỗi sợ hãi kia. Những vị Bồ tát ngày xưa miễn thoát
các nỗi sợ hãi ấy, họ tất cả đều nhờ thế ở núi
đầm. Đạt tới được sự không sợ hãi đó gọi là tự
nhiên. Do đó, ta vì sợ hãi, muốn vượt qua các nỗi sợ mà
ở núi đầm. Lại nữa, mọi nỗi sợ ấy đều do thân sinh.
Vì lưu luyến thân, vì sửa sang thân, vì yêu thân, vì làm
đầy thân, vì nghĩ thân, vì thân, vì ở thân, vì tưởng thân,
vì giữ thân mà sinh ra. Giả sử đến núi đầm ở vì có
lòng do thân, có lòng luyến mộ thân, sửa thân, phải thân,
yêu thân, nghĩ thân, thấy thân, ở thân, tưởng thân, có thân,
giữ thân. Ta trống vắng nên ở núi này.
Lại
nữa, người ở núi đầm là vì tưởng không thân. Người
ở núi đầm vì không có tưởng khác. Người ở núi đầm
không thấy bàn cãi, không sửa sang tự thấy thân mình, không
có điên đảo, không có tưởng vô vi. Huống nữa là có tưởng
trần lao. Ở núi đầm có tên gọi là mọi pháp vắng lặng,
không bám víu các pháp, không bám víu các niềm sướng, không
yêu các tưởng, không lẫn lộn sắc, tiếng, hương, vị, trơn
mịn, không dựa vào các định, lòng tự chỉnh không tán loạn,
đã đặt xuống nỗi sợ các gánh nặng, đã vượt qua đầm
rộng bát ngát, đã tạo được thánh điển vĩ đại, đã
biết hết thân thuộc của gian ác, là nhiệm vụ thiếu dục
nặng nề, dùng trí tuệ để hiểu biết, là đáp ứng đúng,
là hiểu việc làm gốc ngọn, là làm xong việc cắt đứt
hết mọi tù ngục, vì đã vĩnh viễn cởi bỏ.
Này
trưởng giả, ví như trong núi đầm có các thứ cây cối cỏ
rác đều không đáng sợ, đều không đáng hãi. Như vậy,
này trưởng giả, Bồ tát đến ở núi đầm, giữ chí nên
giống như thí dụ về cây cối tường đá. Thân nhờ thọ
nhận mà hành động, thì họ còn sợ ai, họ vì sợ mà suy
nghĩ gốc ngọn của thân rằng ta chẳng có thân, chẳng phải
người, chẳng phải mình, chẳng phải trượng phu, chẳng phải
loài, chẳng phải nữ, chẳng phải trước, chẳng phải kẻ
làm, chẳng phải kẻ bảo làm, chẳng phải kẻ cho, chẳng
phải kẻ gây. Những nổi sợ ấy vì có tưởng bất thành
mà có. Nay ta nên tưởng bất tạo bất thành thì có nổi sợ
hãi ấy. Nay ta không nên gây tưởng bất thành thì sẽ giống
như loài cây cây gỗ cỏ rác, chúng cũng là như vậy. Không
có tiếng vang để hiểu tất cả. Pháp kia dùng tiếng vang
làm đủ để cắt đứt việc ở núi đầm, bỏ rời bụi
dâm có các tiếng vang việc ở núi đầm, chẳng phải
ta, chẳng phải người có vật.
Lại
nữa, người đến ở núi đầm lại suy nghĩ vì để thông
đạt pháp đạo phẩm nên ở núi đầm. Ở núi đầm để
họp tụ mười hai tinh. Ở núi đầm để hiểu các sự thật.
Ở núi đầm để biết các ấm dùng thanh tịnh ngăn chặn
các tình, để bắt các cuộc xâm nhập, không quên lãng lòng
đạo, mà chư Phật tán thán, các thánh ca ngợi và kẻ muốn
để đời thờ phụng. Ở núi đầm để hiểu hết thảy phương
thuật của trí tuệ sắc bén.
Lại
nữa, đi ở núi đầm là để nhanh chóng chu toàn hạnh sáu
độ vô cực. Để đạt chúng, sao phải đi ở núi đầm? Nếu
không tự tiếc thân mạng mình, đó là bố thí độ vô cực.
Nếu lòng không loạn có thể hết thảy nhanh chóng cảm các
đạo không khác, đó là hạnh nhẫn nhục độ vô cực. Cho
đến khi chưa được nhẫn nhục thì rốt cuộc không đứng
lên, đó là tinh tấn độ vô cực. Nếu đã đạt nhất tâm
không theo trí nhanh mà chỉ để làm mạnh gốc đức, đó là
nhất tâm độ vô cực. Nếu thấy như đạo núi đầm thì
cũng làm như vậy để phân biệt mọi việc, đó là trí tuệ
độ vô cực, bày tỏ để dùng đạo mà đạt tới.
Lại
nữa này trưởng giả, hãy tu trị bốn pháp ta đã dạy Bồ
tát ở núi đầm. Sao gọi là bốn? Hoặc có Bồ tát nghe nhiều,
biết rõ yếu quyết giáo pháp, đem điều mình nghe thực hành
gốc ngọn, có thể ở núi đầm. Lại Bồ tát đã được
năm thông, muốn để thành tựu trời rồng quỉ thần, có
thể ở núi đầm. Hoặc có Bồ tát trần lao nhiều, họ bèn
không theo việc, trần lao thành mỏng, có thể ở núi đầm
cũng muốn ức chế trần lao, để tự khích lệ mình. Đó
như thế đều do nghe. Đến ở kia (núi đầm) đã đầy đủ
hết thảy pháp thanh tịnh, sau đó mới đi xuống làng xóm
quận huyện kinh đô, đi xuống mọi người, giảng dạy giáo
pháp, tu hành giáo pháp. Như vậy, này trưởng giả, ta dạy
Bồ tát ở núi đầm.
Lại
xuất gia tu đạo đi ở núi đầm là để tu trị kinh điển,
tụng tập kinh điển. Vào chúng là để chấp hành cung kính
khiêm tốn. Thầy bạn giảng dạy, thanh thiếu niên phải tôn
trọng, không lười biếng điều mình tự tu, không bỏ phế
điều người tu, cũng không tìm cầu sự cung kính, nên quan
sát như vậy. Đức Phật Như Lai ứng nghi chính chân được
Phạm Thiên, Đế Thích, trời người chúng sinh cúng dường,
là ruộng phước được trên trời, dưới trời tôn trọng,
mà vẫn không tìm cầu người vâng thờ, tự làm việc mình,
không phiền đến người. Huống nữa là những người khác
chưa học xong, mới định học lại muốn người vâng thờ
mình ư?
Lại
nữa ta phải nuôi dưỡng người thiên hạ. Ta phải cúng dường
người. Ta không theo người xin cúng dường. Vì sao? Vì cúng
dường nặng nề. Này trưởng giả, Tỳ kheo không được phép
giúp cúng dường, nên để giúp ta không dùng pháp. Muốn dùng
pháp giúp người, để làm như vậy, dùng cúng dường đó
mà giúp ta không dùng giáo pháp. Muốn dùng pháp giúp người,
để làm như vậy, thì dùng cúng dường đó nên giúp ta không
dùng giáo pháp. Kẻ có mang lòng chính tín, thì đáng cúng dường,
còn người xen tạp với việc đời thì không phải là người
có ơn lớn.
Do
thế, nếu muốn đi đến Phật và thầy bạn, những gì thân
ý làm đã quyết, mới có thể đến. Mến mộ lời dạy ta
là thầy bạn, dùng hạnh khác không lỗi vì không trách hỏi
đọc gọi tụng tập, dồn chứa cho việc dạy dỗ. Do thế,
muốn đọc kinh thì không cần đến thân mạng, chỉ mến thích
giáo pháp tùy thuận ý thầy, để cầu lợi ích giáo pháp,
chứ không phải để cầu lợi ích mọi thứ cung kính khen
ngợi. Nếu theo thầy nhận mấy bài tụng bốn câu nhỏ để
tụng đọc, nếu trong khi bố thí, giữ giới, nhẫn nhục,
tinh tấn, thiền định, trí tuệ mà đem chúng cúng dường
thầy, thì số chữ bốn câu tụng do mình đọc như số của
kiếp để cúng dường thầy vẫn chưa hết được lòng kính
thầy. Há lại bảo là được lòng kính pháp.
Lại
nữa, này trưởng giả, nếu ý niệm đó sinh, dùng ý có đức,
ý có Phật và pháp, ý có sợ rời tham dâm, ý có tịch tịnh,
nên tu trị bài tụng bốn câu, tuân hành nó, như số của
kiếp, để cúng dường thầy mình, vẫn chưa hết được lòng
kính trọng pháp. Này trưởng giả, nên biết việc ấy như
vậy. Phước đức của pháp là như vô số, nhân được trí
tuệ cũng vô lượng. Vì thế, Bồ tát muốn chọn được pháp
cao thượng, còn phải đem vô số lòng kính trọng đối với
chính pháp. Nếu suy nghĩ như vậy, họ đáng nghe tịnh giới.
Sao
gọi là tịnh giới? Bồ tát xuất gia có 4 tịnh giới. Một
là tạo chép thánh điển. Hai là mến thích đức tinh tấn.
Ba là không cùng tại gia, mà xuất gia làm việc. Bốn là không
siểm nịnh, ở núi đầm. Đó là bốn tịnh giới của Bồ
tát xuất gia.
Lại
có bốn tịnh giới. Sao gọi là bốn? Cẩn thận giữ thân,
thân không mắc ngại. Cẩn thận giữ lời nói, lưỡi nói
không ngại. Cẩn thận giữ lòng, lòng không mắc ngại. Bỏ
rời tàn nghi, tạo nên ý sắc bén. Đó là bốn tịnh giới
của Bồ tát xuất gia.
Lại
có bốn tịnh giới. Sao gọi là bốn? Một là tự hiểu biết.
Hai là không tự cống cao. Ba là không tỏ vẻ mặt với người.
Bốn là không hủy báng người. Đó là bốn tịnh giới của
Bồ tát xuất gia.
Lại
có bốn tịnh giới. Sao gọi là bốn? Một là hiểu các ấm
là huyễn pháp. Hai là đã hiểu các tình là pháp tình. Ba là
đã hiểu các nhập là hư tụ. Bốn là không đi theo nghi thức
tục lệ địa phương. Này trưởng giả, đó là bốn tịnh
giới của Bồ tát xuất gia.
Lại
có bốn tịnh giới. Bốn là gì? Một là không tự lo về ta.
Hai là xa rời những gì ta có. Ba là cắt đứt bỏ những gì
thường tại. Bốn là đặt xuống các pháp nhân duyên. Đó
là bốn tịnh giới của Bồ tát xuất gia.
Lại
có bốn tịnh giới. Sao gọi là bốn? Một là hiểu không.
Hai là dùng vô tưởng không sợ. Ba là dùng đại bi đối với
mọi người. Bốn là biết được vô ngã. Đó là bốn tịnh
giới của Bồ tát xuất gia.
Bồ
tát thường nghe tịnh định, nên quán như vậy. Tịnh định
đó gọi là gì? Để thông hết thảy pháp, không thực hành
các ý khác, vì có quyết ý, vì có đoan ý, vì ý không lầm
trái, vì ý không theo tình dục làm việc, vì dùng pháp quán
huyền. Ta nếu là pháp huyền thì tình cũng vậy, nên không
làm hại, nó cũng không thể tồn tại. Đã đi theo sự đúng
đó, thì gọi là chính định. Nếu trụ pháp như pháp, như
vậy gọi là định.
Quán
như vậy, Bồ tát thường nghe tịnh huệ. Huệ đó gọi là
gì? Trí chọn các pháp gọi đó là tuệ. Tướng không nhận
thì không làm, tướng không tạo thì không tồn tại, tướng
vô vi thì không theo đuổi. Do thế, này trưởng giả, dùng
pháp quán như vậy, đó gọi là việc làm của Bồ tát xuất
gia.
Lại
khi nói kinh này xong có năm trăm người dấy lên lòng đạo
chính chân. Còn trưởng giả Thậm và những người của mình
để thốt lên lời: “Chưa từng có, bạch đức Thế Tôn.
Lời lành của đức Như Lai đến mới như vậy! Ác đức của
nhà, việc làm của gánh nặng cũng như vậy. Các đức lành
của việc xuất gia cũng vậy. Tôn giả Thế Tôn đã nói rõ
nhiều đức ác của người tại gia, đến tới vô số đức
lành của việc xuất gia, thì chúng con được đi theo Thế
Tôn, nhận giới xuất gia, noi hạnh Tỳ kheo”.
Đức
Thế Tôn trả lời: “Này trưởng giả, xuất gia là khó khăn.
Ông có thể nghiên cứu thuần đức gốc lành, vâng giữ lời
giáo huấn”.
Trưởng
giả lại bạch Phật nói: “Thưa đức Thế Tôn, xuất gia
tuy khó kham chịu, đức Như Lai còn có thể tự mình lấy việc
xuất gia làm đạo”.
Đức
Thế Tôn bèn khiến Bồ tát Từ Thị và Bồ tát Nhất Thiết
Hành Tịnh đồng ý nhận các trưởng giả kia. Bồ tát Từ
Thị nhận hai trăm trưởng giả, Bồ tát Nhất Thiết Hành
Tịnh nhận ba trăm trưởng giả xuất gia tu đạo.
Bấy
giờ, hiền giả A Nan gọi trưởng giả Thậm nói: “Ngài ở
nước nhà, thấy gì mà có thể vui thích đạo thánh xuất
gia?” Trưởng giả Thậm trả lời A Nan, nói: “Tôi không
vì tham muốn nỗi sướng của thân mình, mà muốn đưa chúng
sinh đến vui sướng, nên tôi đã tại gia. Lại nữa, đức
Như Lai tự hiểu tôi, Ngài nhận lời dạy kia kiên cố mà
tại gia”.
Lúc
ấy, đức Thế Tôn bảo A Nan: “Này A Nan, ông đã thấy trưởng
giả Thậm. Như vậy đức Thế Tôn cũng đã thấy trưởng
giả Thậm. Này A Nan, ở trong hiền kiếp này, đã thành tựu
nhiều người làm Bồ tát xuất gia, mà trong cả trăm kiếp
cũng không bằng vậy. Vì sao vậy? Này A Nan, Bồ tát xuất
gia tu đạo trong một ngàn người không thể có đức mới
thế. Trưởng giả này có đức ấy”.
Bấy
giờ A Nan bạch Phật nói: “Bạch đức Thế Tôn, nên gọi
kinh pháp này tên gì? Nên phụng trì thế nào?” Đức Thế
Tôn nói: “Như thế, này A Nan, kinh pháp này tên Diễn biến
tại gia xuất gia, ông nên phụng trì. Cũng có tên Diễn biến
đức nội tính, ông nên phụng trì. Cũng gọi là Thậm sở
vấn, ông nên phụng trì. Và người đã nghe kinh pháp này rồi,
này A Nan, là đầy đủ pháp tinh tấn đặc biệt mạnh mẽ,
mà người tinh tấn thực hành hết thảy mọi uy nghi cũng không
bằng nó. Vì thế, này A Nan, nếu ai muốn dấy tâm tinh tấn,
nếu muốn khuyến khích nó, nếu muốn lập hết thảy mọi
công đức, muốn tạo lập các đức hạnh con người thì nên
dùng kinh pháp này. Đã nghe rồi, đã nhận rồi, ta đem giao
phó cho ông, này A Nan, kinh pháp này nhiều lần dùng đem tuyên
giảng cho mọi người. Vì sao vậy? Nó chính hạnh của mọi
đức pháp. Này A Nan, Kinh pháp này đáp ứng đúng đắn”.
Đức
Thế Tôn nói xong. Ngài A Nan vui mừng. Và trưởng giả Thậm,
trời cùng người cũng hân hoan. Đức Thế Tôn nói xong. Họ
đều suy nghĩ.
PHÁP
KÍNH KINH HẬU TỰ
Tựa
nói: Hễ không soi gương sáng thì không thấy bóng mình. Không
khen kinh thánh thì không thấy tình mình. Tình có chân ngụy,
tính có cương nhu, chí có thuần dữ, ý có tốt sáng, biết
có sâu cạn, không thể đồng nhất. Không thấy kinh thánh
thì không gì để tự làm sáng mình. Cho nên, đức Phật viết
kinh, tên gọi là Pháp kính, trao cho các vị thượng thủ Bồ
tát truyền dạy thiên hạ, để bậc hiền lương hữu thức,
học giả thông đạt, hành giả chí ngay mau được đạt đạo
thành vô thượng.
Họ
Khương đức lớn, lòng thông bát đạt, đã viết chú giải,
diễn bày ý nghĩa, lời văn nhã đẹp, rực rỡ sáng tươi,
để lại giáo huấn cho đàn hậu tấn, khai đạo mới học.
Đối với việc học, có ích để dâng trình, ý tứ chặt
chẽ, thật đáng ca ngợi.
Nhưng
diệu chỉ của thượng thánh, mục đích sâu thẳm, không thể
tìm hết. Tôi xét nghĩa lớn, có nhiều sai khác, sợ kẻ hậu
học lấy đó làm đúng, mà đánh mất nghĩa chính. Cả hai
đều có lỗi. Tôi trải qua suy nghĩ kỹ càng, xử lý chỗ
thiếu sót, có bảy mươi tám việc, kính dẫn các kinh, so định
nghĩa nó, hầu khiến ứng hợp, không còn tỳ vết.
Lại
nữa, câu chữ bản kinh phần lớn lần mất do tước bỏ cải
dịch chữ dịch chữ nó, khiến câu đọc không khớp, âm vận
không sánh, nghĩa lý sai lầm, không tiếp liền nhau, mất nhiều
thích đáng. Hễ thánh thượng chế kinh, lời gọn nghĩa đúng,
đầy đủ không có tỳ vết, không thể lại thêm bớt. Nó
giống như tay chân con người, nhận từ cha mẹ, dài ngắn
đẹp xấu, mỗi do gốc cội, há có thể lại canh cải được
ư? Đó gọi là thêm thì gây tỳ vết, bớt thì đục khoét
vết thương.
Vả
lại, thi thơ lễ nhạc thế tục, chữ sót ngày xưa, tuy chẳng
phải chính thể, đám hậu học chẳng dám cải đổi, mà đều
tôn kính sách xưa, chuyền nhau vâng thuận. Huống nữa là kinh
này rõ ràng do thánh thần chế ra, mọi tiên thánh trên trời
dưới trời chẳng ai là chẳng cúi đầu vâng nhận để làm
mẫu sáng. Người học thêm trí, kẻ hành được độ, số
là không kể.
Thế
mà người học muôn đời mạt tục này, thấy nghe chưa rộng,
lại đem ý riêng mình, bỏ bớt lời đúng, trái phạm sách
kinh, há không lầm lạc ư? Tiếng nói học Phật, mà trái lời
Phật dạy, thế muốn cầu gì?
Xưa
thời Phật Duy Vệ có người trái tên Phật một chữ, sau
mắc phải tội mù năm trăm năm, mờ mờ mịt mịt, khốn khổ
lâu lắm. Đến thời Phật Thích Ca Văn, người ấy nghe đức
Thánh, nên đến tự quy, hầu được cứu giúp. Đức Phật
xa thấy ông và gọi, mắt ông liền sáng. Bèn gieo mình hối
lỗi, xin được chữa lành. Đức Phật bảo: “Tội con xong
rồi, nay không có lo gì khác”. Xem đó thì không thể không
thận trọng. Hễ người nếu có thể phục thiện thứ lỗi
ăn năn, cải lỗi qua, làm tốt tới, đó cũng là ý của bậc
hiền giả.