PHẦN
I
KHƯƠNG
TĂNG HỘI VÀ MỘT SỐ TÁC DỊCH PHẨM
GIỚI
THIỆU
KINH
CỰU TẠP THÍ DỤ
Cựu
tạp thí dụ kinh chiếm một vị trí đặc biệt trong toàn
bộ dịch phẩm của Khương Tăng Hội, vì nó ghi lại 14 đoạn
bình luận của người “thầy” của Hội sau 13 truyện của
nó, tức các truyện 4, 6, 7, 9, 13, 14, 17, 18, 19, 22, 26, 32 và
40. Riêng truyện 7 có hai đoạn, nên thành 14. Mười bốn đoạn
văn này có thể nói là những đoạn bình luận xưa nhất được
biết của văn học và Phật giáo nước ta. Chúng cùng với
bài Việt ca, Mâu Tử Lý hoặc luận, Lục độ tập kinh, Tạp
thí dụ kinh và chính Cựu tạp thí dụ kinh sẽ giúp chúng
ta nghiên cứu lại giai đoạn đầu của lịch sử văn học,
tư tưởng và Phật giáo Việt Nam. Cho nên, Cựu tạp thí dụ
kinh có một vị trí đặc biệt là thế.
I.
TRUYỀN BẢN VÀ TÊN GỌI
Bản
kinh lục sớm nhất hiện còn là Xuất tam tạng ký tập của
Tăng Hựu trong phần liệt kê dịch phẩm của Khương Tăng
Hội ở quyển 2 ĐTK 2145 tờ 7a27-b1 cũng như trong tiểu truyện
của Hội ở quyển 13 tờ 96a29-97a17 không có ghi Cựu tạp
thí dụ kinh như là dịch phẩm của Hội. Nhưng trong phần
ghi về các bản kinh “thất dịch” ở quyển 4 tờ 22a4-5
có ghi tên hai bản Cựu thí dụ kinh 2 quyển và Tạp thí dụ
kinh 2 quyển. Hai bản này có bản nào là của Khương Tăng
Hội, ta ngày nay không thể nào trả lời được. Đến khi
viết Cao tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 325a13-326b13 Huệ Hạo chắc
do tiếp nhận được nhiều tài liệu mới đã ghi Tạp thí
dụ vào danh sách các dịch phẩm của Khương Tăng Hội.
Khai
Hoàng năm thứ 14 (590) Pháp Kinh viết Chúng kinh mục lục hẳn
đã khảo các kinh lục của Lý Quách biết dưới tên Nguyên
Ngụy chúng kinh mục lục, của Bảo Xướng với kinh Lương
đại chúng mục lục và Pháp Thượng với Tề đại chúng
kinh mục lục, ngoài Xuất tam tạng ký tập của Tăng Hựu,
Cao tăng truyện của Huệ Hạo và Chúng kinh biệt lục của
một tác giả vô danh đời Lưu Tống, nên ở quyển 6 ĐTK 2146
tờ 144b13 đã viết: “Cựu tạp thí dụ kinh tập, hai quyển,
Khương Tăng Hội đời Ngô dịch”. Ba năm sau, Phí Trường
Phòng viết Lịch đại tam bảo ký 3 ĐTK 2034 tờ 36b24 còn gọi
Khai Hoàng tam bảo lục, vì viết vào năm Khai Hoàng 17 (593)
nói: “Thái Nguyên năm thứ nhất (251) Khương Tăng Hội ở
chùa Kiến Sơ của Dương Đô dịch kinh Lục độ tập v.v…
bốn bộ 16 quyển”. Còn ở quyển 5 tờ 59a21 ghi “Tạp thí
dụ tập kinh, hoặc không có chữ tập”, xem Hựu lục và
14 bộ dịch phẩm của Khương Tăng Hội. Đến Ngạn Tôn viết
Chúng kinh mục lục vào năm Nhân Thọ thứ 2 (602), nên gọi
Nhân Thọ chúng kinh mụcï lục, ở quyển 2 ĐTK 2147 tờ 161b25,
ta thấy ghi: “Cựu tạp thí dụ kinh tập 2 quyển, Khương
Tăng Hội đời Ngô dịch”. Tỉnh Thái soạn Chúng kinh mục
lục 3 ĐTK 2148 tờ 196a23 chép: “Cựu tạp thí dụ kinh 2 quyển
37 tờ Khương Tăng Hội đời Ngô dịch”.
Thế
là từ Huệ Hạo trở đi, ta biết Khương Tăng Hội có dịch
một Tạp thí dụ kinh. Pháp Kinh, Phí Trường Phòng và Ngạn
Tôn xác định rõ hơn, đó là Cựu tạp thí dụ kinh, nhưng
không nói lấy tài liệu từ đâu. Đến Đạo Tuyên viết Đại
Đường nội điển lục 2 ĐKT 2149 tờ 230a9, khi ghi các tác
phẩm của Khương Tăng Hội đã chép: “Cựu tạp thí dụ
kinh, 2 quyển, hoặc không có chữ tập. Xem Hựu lục”. Tất
nhiên, xem “Hựu lục” ở đây không có nghĩa xem Xuất tam
tạng ký tập của Tăng Hựu để biết Cựu tạp thí dụ kinh
là của Khương Tăng Hội, vì như đã thấy, Tăng Hựu không
làm thế. Ngược lại xem “Hựu lục” để biết Cựu tạp
thí dụ kinh trong bản kinh lục của Tăng Hựu vốn không có
chữ “tập” thế thôi.
Tỉnh
Mại viết Cổ kim dịch kinh đồ ký 1 ĐTK 2151 tờ 352b17 cũng
ghi Tạp thí dụ tạp kinh 2 quyển vào giữa những dịch tác
phẩm của Khương Tăng Hội. Minh Thuyên soạn Đại châu san
định chúng kinh mục lục 8 ĐTK 2153 tờ 424b8-9 ghi: “Tạp
thí dụ kinh, 1 bộ 2 quyển, hoặc không có chữ “tập”,
37 tờ. Trên đây là do Khương Tăng Hội đời Ngô dịch. Theo
Trường Phòng lục”. Trí Thăng viết Khai Nguyên thích giáo
lục 2 ĐTK 2154 tờ 490b6 chép rõ hơn: “Cựu tạp thí dụ kinh,
2 quyển, Nội điển có chữ 'cựu', Phòng lục thì không. Cũng
nói Tạp thí dụ tập kinh, hoặc không có chữ 'tập'. Xem Cao
tăng truyện và Trường Phòng lục”. Viên Chiếu viết Trinh
Nguyên tân định Thích giáo mục lục 3 ĐTK 2157 tờ 787c5 sao
y nguyên văn những gì Trí Thăng đã nói về Cựu tạp thí
dụ kinh.
Vậy,
việc ghi nhận Tạp thí dụ kinh hay Cựu tạp thí dụ kinh là
một dịch phẩm của Khương Tăng Hội bắt đầu với Huệ
Hạo. Sau đó, các nhà kinh lục đều nhất trí thừa nhận
ghi nhận vừa nêu của Hạo và chép Cựu tạp thí dụ kinh
vào danh mục các dịch phẩm của Hội. Thế Hạo đã lấy
nguồn tin của mình từ đâu? Tất nhiên, Hạo có thể rút
ra từ các tác gia mà ông liệt trong bài tựa và lá thư của
Vương Mạn Dĩnh ở Cao tăng truyện 14 tờ 418 b3-423a10. Và các
tác giả ấy đến lượt họ lại có những nguồn tin riêng.
Điểm cần lưu ý là cuối thế kỷ thứ V sau Tây lịch một
số nhà sư nước ta đã được mời qua Kiến Nghiệp, mà ngày
nay hai trong số họ chúng ta biết tên. Đó là Huệ Thắng và
Đạo Thiền.[1] Phải chăng chính những người như Huệ Thắng,
Đạo Thiền v.v… đã đem đến những thông tin mới về Khương
Tăng Hội, mà trước đó Tăng Hựu đã không có? Trong số
những thông tin ấy có cả tên dịch giả Cựu tạp thí dụ
kinh?
Trước
những câu hỏi này, ta hiện không có câu trả lời dứt khoát.
Tuy nhiên, dù trả lời thế nào đi nữa, sự thật vẫn là
Cựu tạp thí dụ kinh, từ sau Huệ Hạo trở đi được xác
nhận là một dịch phẩm của Khương Tăng Hội. Và chúng ta
không có lý do gì để bác bỏ một xác nhận như vậy. Huệ
Hạo gọi bản kinh là Tạp thí dụ. Pháp Kinh thì gọi Cựu
tạp thí dụ kinh tập. Phí Trường Phòng chỉ ghi Tạp thí
dụ tập kinh hay Tạp thí dụ kinh. Tỉnh Thái có tên Cựu tạp
thí dụ kinh. Tỉnh Mại và Minh Thuyên chép Tạp thí dụ tập
kinh. Đạo Tuyên lại nói Cựu tạp thí dụ tập kinh. Trong
khi Trí Thăng và Viên Chiếu ghi là Cựu tạp thí dụ kinh. Tên
gọi cuối cùng này ngày nay xuất hiện trong bản in Đại Chính.
Cho nên, chúng tôi chấp nhận và chính thức gọi là Cựu tạp
thí dụ kinh.
II.
VẤN ĐỀ NIÊN ĐẠI VÀ BẢN ĐÁY
Tất
cả các tư liệu về Khương Tăng Hội, bắt đầu với Xuất
tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 97a12-13 và Cao tăng truyện
1 ĐTK 2059 tờ 326a19-20 cho đến Đại Đường nội điển lục
2 ĐTK 2159 tờ 230 b21-c23 đều nói: “Hội ở chùa Kiến Sơ,
dịch ra các kinh”, mà không nói rõ dịch cụ thể vào những
năm nào. Điều chắc chắn là các dịch phẩm của Hội phải
được thực hiện sau năm 247, khi Hội đã đến Kiến Nghiệp.
Nói như Xuất tam tạng ký tập 2 tờ 7b1, “Tăng Hội dịch
ra (chúng) vào đời Ngô chúa Tôn Quyền, Tôn Lượng”, tức
khoảng giữa những năm 222-258. Đạo Tuyên chỉ nói: “Trong
những năm Chính Thỉ đời Tề vương nhà Ngụy”, tức khoảng
những năm 241-249 của Tề vương Tào Phương.
Các
tư liệu hậu kỳ bắt đầu với Lịch đại tam bảo ký 3
ĐTK 2034 tờ 36b24 của Phí Trường Phòng, Cổ kim dịch kinh
đồ kỷ 1 ĐTK 2151 tờ 352 b15-27 của Tỉnh Mại, Khai Nguyên
thích giáo lục 2 ĐTK 2154 tờ 491b14-L5 của Trí Thăng và Trinh
Nguyên tân định thích giáo mục lục 3 ĐKT 2157 tờ 788c12-14
của Viên Chiếu đều nói Khương Tăng Hội khởi công dịch
Lục độ tập kinh và các kinh khác từ năm Thái Nguyên trở
đi. Tỉnh Mại viết: “Vào năm Thái Nguyên thứ hai (252) nhà
Ngô, nhằm năm Tân Mùi ở Vương Đô (Hội) dịch Lục độ
tập kinh 9 quyển, Ngô phẩm kinh 5 quyển, Bồ tát tịnh hạnh
kinh 2 quyển, Tạp thí dụ tập kinh 2 quyển, A Nan (sic) niệm
di kinh 1 quyển, Kính diện vương kinh 1 quyển, Sát vi vương
kinh 1 quyển, Phạm hoàng vương kinh 1 quyển, Quyền phương
tiện kinh 1 quyển, Tọa thiền kinh 1 quyển, Bồ tát nhị bách
ngũ thập pháp 1 quyển, Pháp kính giải tử chú 2 quyển, Đạo
thọ kinh chú giải 1 quyển, An ban kinh chú giải 1 quyển, gồm
14 bộ, cộng 29 quyển”.
Trí
Thăng nhận ra năm Tân Mùi là Thái Nguyên thứ nhất, chứ không
phải thứ hai, nên đã viết ở Khai Nguyên thích giáo lục
2 ĐTK 2154 tờ 491b14-15 nói: “Hội vào năm Tân Mùi Thái Nguyên
thứ nhất (251) của Tôn Quyền ở chùa Kiến Sơ do ông sáng
lập, dịch các kinh Lục độ v.v… gồm 7 bộ, đều khéo được
thể kinh, văn nghĩa đúng đắn”. Viên Chiếu chép lại câu
vừa nói của Trí Thăng trong Trinh Nguyên tân định thích giáo
mục lục, biểu thị việc ông hoàn toàn nhất trí với ý
kiến của Thăng. Vậy, từ Phí Trường Phòng trở về sau,
người ta xác định hẳn là Khương Tăng Hội dịch Lục độ
tập kinh và Cựu tạp thí dụ kinh vào năm Thái Nguyên thứ
nhất, tức năm 251 trở đi tại Kiến Nghiệp ở Trung Quốc.
Thực
tế, vấn đề phức tạp hơn nhiều. Trong số 5 tác phẩm hiện
còn của Khương Tăng Hội, đó là Lục độ tập kinh, Cựu
tạp thí dụ kinh, An ban thủ ý kinh chú giải, An ban thủ ý
kinh tự, và Pháp kính kinh tựï, chúng chứa đựng một ít
dữ kiện buộc ta phải đặt vấn đề phải chăng toàn bộ
dịch phẩm của Khương Tăng Hội được thực hiện ở Kiến
Nghiệp và sau năm 247, như các kinh lục Trung Quốc đã có?
Trả lời câu hỏi này ta có một số dữ kiện phản biện.
Cụ thể là An ban thủ ý kinh tự trong Xuất tam tạng ký tập
6 ĐTK 2145 tờ 43b18 và Phật thuyết đại An ban thủ ý kinh.
An ban thủ ý kinh tự khi đề cập đến An Thế Cao tới Trung
Quốc, đã viết: “Bèn ở kinh sư”. Kinh sư đây chỉ Lạc
Dương, thủ đô nhà Hán và Ngụy, chứ không thể chỉ Kiến
Nghiệp, thủ đô nhà Ngô của Tôn Quyền. Do thế, bài tựa
này không thể viết sau năm 247 ở Kiến Nghiệp được, khi
Tôn Quyền xưng đế đã gần 30 năm và đóng đô ở Kiến
Nghiệp.
Hơn
nữa, trong An ban chú tự của Xuất tam tạng ký tập 6 tờ
43c22-23, Đạo An viết: “Đầu đời Ngụy, Khương Hội viết
chú nghĩa. Nghĩa hoặc có chỗ ẩn chưa rõ, An trộm không tự
lượng mình, dám nhân người trước, giải thích ở dưới”.
Điều này có nghĩa cả An ban thủ ý kinh tự lẫn An ban thủ
kinh ý chú giải đều do Khương Tăng Hội viết “đầu đời
Ngụy” (Ngụy sơ). Nhà Ngụy do con Tào Tháo là Tào Phi thành
lập năm 221 và chấm dứt năm Hàm Hy thứ nhất (265) của Nguyên
đế Tào Hoán, kéo dài được 45 năm. Như vậy, nếu đúng
lời Đạo An nói là Khương Tăng Hội viết An ban thủ ý kinh
chú giải vào “đầu đời Ngụy” (Ngụy sơ), thì dứt khoát
không thể có việc Hội viết bản chú giải ấy cùng lời
tựa của nó sau năm 247 và càng không thể sau năm 251, như
Tỉnh Mại, Trí Thăng và Viên Chiếu đã chủ trương, bởi
vì từ những năm đó trở đi không thể gọi là “Ngụy sơ”,
là “đầu đời Ngụy” được nữa.
“Ngụy
sơ” phải là những năm 221-230, tức những “năm đầu của
nhà Ngụy”, chứ không thể những năm 251 về sau, mà ta gọi
là “Ngụy mạt”. Thế thì, Khương Tăng Hội phải viết
An ban thủ ý kinh chú giải vào những năm 231-230, chứ không
thể từ năm 251. Và đã viết vào những năm đó, Hội không
thể viết nó tại Kiến Nghiệp, mà phải viết ở nước ta,
bởi vì Hội không thể “chống gậy đông du” qua Trung Quốc
trước những năm 240, ngay khi ta chấp nhận thời điểm Xích
Ô năm thứ tư (241) của Tỉnh Mại. Kết luận này đem lại
cho ta khá nhiều giải thích lôi cuốn đối với một số sự
kiện và một phần nào được các sự kiện ấy xác nhận
ngược trở lại sự đúng đắn của kết luận ấy.
Thứ
nhất, sự kiện Khương Tăng Hội viết An Thế Cao “ở Kinh
sư” đã thấy Kinh sư ở đây rõ ràng chỉ Lạc Dương chứ
không phải Kiến Nghiệp, Kinh sư của nhà Ngô Tôn Quyền. Lạc
Dương vốn là kinh đô của nhà Đông Hán cho đến khi Đổng
Trác làm loạn năm 189, tạo cơ hội sau này cho Tào Tháo đưa
Hiến đế về đóng tạm ở Hứa và Nghiệp. Khi mới lên ngôi
năm 221, theo Ngụy chí 2 tờ 13b2 Tào Phi đã cho xây cung Lạc
Dương để đến ở. Năm 236, Ngụy chí 3 tờ 10b9-10 chép Minh
đế Tào Duệ “xây cung Lạc Dương, dựng điện Chiêu Dương,
Thái Cực…”. Vậy, Lạc Dương trong đời Ngụy vẫn giữ
vai trò một Kinh sư, dù có lúc phải tạm đóng tại Hứa và
Nghiệp.
Tuy
nhiên, theo Ngô chí 4 tờ 8a8 thì từ năm Kiến An thứ 15 (210)
Sĩ Nhiếp đã đón Bộ Chất của Tôn Quyền đến làm thứ
sử nước ta. Cho tới khi Nhiếp mất năm Hoàng Vũ thứ năm
(226), Sĩ Huy kế nghiệp, chống lại việc Tôn Quyền bổ nhiệm
Tải Lương và Trần Thì qua làm thứ sử và thái thú. Hẳn
phải một năm sau, Lữ Đại mới nhận được lệnh qua đánh
Sĩ Huy, tức khoảng năm 227-228. Sĩ Huy chống lại Tôn Quyền,
chắc đã muốn dựa vào thế nhà Ngụy của Tào Duệ, nếu
không muốn nói là liên minh với Duệ. Cho nên, nếu Khương
Tăng Hội viết An ban thủ ý kinh tự trong khoảng những năm
Ngụy sơ, tức khoảng 221-230, thì có khả năng Hội viết vào
những năm 227-228 này, vì đây là thời gian nước ta tách ra
khỏi Đông Ngô của Tôn Quyền, muốn đứng về với nhà Ngụy,
như trường hợp Lữ Hưng ba mươi năm sau, để cho Hội nói
An Thế Cao đến ở “Kinh sư”.
Thứ
hai, trong An ban thủ ý kinh tự Khương Tăng Hội nói: “Tôi
sinh muộn màng, mới biết vác củi, cha mẹ chết mất, ba thầy
viên tịch, ngửa trông mây trời, buồn không biết hỏi ai,
nghẹn lời trông quanh, lệ ra lã chã. Song phước xưa chưa
mất, may gặp Hàn Lâm từ Nam Dương, Bì Nghiệp từ Dĩnh Xuyên,
Trần Tuệ từ Cối Kê. Ba vị hiền này tin đạo dốc lòng,
giữ đức rộng thẳng, khăng khăng vươn tới, chí đạo không
mỏi, tôi theo xin hỏi, thước hợp góc đúng, nghĩa không sai
khác. Trần Tuệ chú nghĩa, tôi giúp châm chước, chẳng phải
(lời) thầy thì không truyền, không dám tự do …”
Đọc
lời tựa này, ta thấy nói Hội “sinh muộn màng”, điều
này có nghĩa Hội là người con út trong gia đình. Nên đến
tuổi “mới biết vác củi”, theo Xuất tam tạng ký tập
13 ĐTK 2145 tờ 96b2, Cao tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 325a14, Khai
Nguyên thích giáo lục 2 ĐTK 2154 tờ 490b15 và Trinh Nguyên tân
định thích giáo mục lục 3 ĐTK 2157 tờ 787 c14, là “năm
hơn mười tuổi” (niên thập dư tuế). Cổ kim dịch kinh đồ
kỷ 1 ĐTK 2151 tờ 352a27 lại nói đó là “năm chưa đến tuổi
đi học” (niên vị xỉ học). “Tuổi đi học” theo Khổng
Tử là 15, như câu “thập ngũ chí ư học” trong Luận ngữ
đã diễn tả. Điều này được xác định thêm khi ta truy
về nguồn gốc của cụm từ “mới biết vác củi” (thỉ
năng phụ tân). Ta thấy Lễ ký chính nghĩa 5 tờ 9a8-11 bảo:
“Cao thứ nhân lớn thì nói có thể vác củi, nhỏ thì nói
chứa thể vác củi”. Khổng Dĩnh Đạt giải thích thêm: “Mười
lăm tuổi trở lên là lớn (. . .), mười bốn tuổi trở xuống
là nhỏ” Vậy, khi Khương Tăng Hội được 15 tuổi, cha mẹ
đều mất.
Tiếp
theo việc cha mẹ Hội đều mất là sự “điêu táng” của
“ba vị thầy”. Cụm từ “ba vị thầy” (tam sư) này là
một bộ phận trong thành ngữ “tam sư thất chứng” (ba vị
thầy và bảy vị làm chứng) trong các giới đàn Phật giáo
về sau, để chỉ các vị tham gia lễ trao các giới cấm Tỳ
kheo chính thức nhận một người nào đó vào hàng ngũ xuất
gia thực sự. Nếu hiểu như vậy, “ba thầy” của Hội đã
mất sau khi Hội đã hai mươi tuổi hay hơn nữa, bởi vì theo
quy định của giới luật Phật giáo thì người nào muốn
thọ giới Tỳ kheo, đều bắt buộc phải từ 20 tuổi trở
lên, trừ một số ít trường hợp ngoại lệ đặc biệt thì
cũng phải 17, 18 tuổi. Cũng có trường hợp 15 tuổi đã thọ
giới Tỳ kheo như Tri Lễ trong Tứ minh tôn giả giáo hạnh
lục 7 ĐKT 1937 tờ 919b20: “Mười lăm cắt tóc thọ cụ túc
giới” (thập ngũ chúc phát thọ cụ). Nhưng đây là những
trường hợp quá hãn hữu, xem thêm tờ 917b13-918b15. Thế thì,
khi Hội tuổi “mới biết vác củi”, không thể có chuyện
“ba thầy” của Hội “điêu táng” được. Chí ít Hội
cũng phải 17, 18 nếu không là 20 tuổi, khi sự việc “điêu
táng” ấy xảy ra.
Dù
với trường hợp nào đi nữa, khi “cha mẹ chết mất, ba
thầy viên tịch”, Hội đã “buồn vì không biết hỏi ai
để học”. Trong tình cảnh đó, Hội gặp Hàn Lâm, Bì Nghiệp
và đặc biệt Trần Tuệ. Hội đã “đi theo xin hỏi” mới
phát hiện ra “thước giống góc khít, nghĩa không sai khác”.
Viết thế cũng có nghĩa Hội đã được thầy dạy cho ý nghĩa
của kinh An ban thủ ý, trước khi gặp Trần Tuệ. Nhưng Hội
sợ hiểu biết của mình không chính xác, mà thầy đã mất
rồi “không thể hỏi học được”, nên Hội mới hỏi ba
vị “hiền”, để xác nhận lại. Do vậy, Hội gặp Trần
Tuệ, khi đã hơn 20 tuổi, và viết An ban thủ ý kinh chú giải
vào khoảng những năm 227-228 là hợp lý, lúc khoảng 27-28 tuổi.
Như
thế, chỉ giới hạn vào năm dịch phẩm hiện còn của Khương
Tăng Hội, ta có thể thấy qua phân tích trường hợp An ban
thủ ý kinh tự và An ban thủ ý kinh chú giải, là một số
các dịch phẩm ấy không thể viết sau năm 247 ở Trung Quốc,
như các nhà viết sử và kinh lục Trung Quốc đã chủ trương
một cách chung chung và võ đoán qua nhiều thế kỷ. Vì vậy,
về niên đại của Cựu tạp thí dụ kinh, chúng ta cũng không
thể đơn giản coi nó được dịch ở Trung Quốc sau năm 251,
dù ngày nay ta không có những chứng cứ cụ thể và chắc
chắn. Dẫu thế, không phải là không có.
Một
mặt, về phương diện ngôn ngữ, tuy không nhiều như Lục
độ tập kinh, Cựu tạp thí dụ kinh nhưng vẫn có một ít
cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt. Cựu tạp thí dụ kinh quyển
thượng tờ 515a20 truyện 25 có cấu trúc “thần thọ” với
nghĩa “thần cây” của truyện 41 Lục độ tập kinh 4 tờ
22c12, chứ không phải nghĩa “cây thần” trong Bính Nguyên
biệt truyện, mà Bùi Tùng Chi dẫn trong Ngụy chí 11 tờ 16a1-3:
“Nguyên thường đi, được tiền rơi, nhặt treo cành cây.
Tiền đã không bị lấy, mà tiền treo càng thêm. Hỏi lý do,
người đáp bảo đó là 'cây thần' (thần thọ)”. Truyện
2 của Cựu tạp thí dụ kinh quyển thượng tờ 511a13- và b1
có cấu trúc “nhất sơn kim” với nghĩa “một núi vàng”
trong khi, cũng nội dung giống truyện 2 của Cựu tạp thí dụ
kinh, truyện 20 của Lục độ tập kinh 3 tờ 13a24 và b15-16
lại có “Kim sơn” và “nhất sơn chi kim” với nghĩa “núi
vàng” và “vàng một núi”.
Rõ
ràng, các cấu trúc vừa nêu của Cựu tạp thí dụ kinh phản
ảnh ngữ pháp tiếng Việt, chứ không phải ngữ pháp tiếng
Trung Quốc. Ngoài ra, một số câu dịch trong Cựu tạp thí
dụ kinh vẫn còn mang sắc thái ngữ nghĩa tiếng Việt. Cụ
thể là câu “tự tại hành lai” trong truyện 18 quyển thượng
tờ 514a27. Câu này, nếu hiểu theo nghĩa tiếng Trung Quốc,
ta sẽ có “tự tại đi đến”. Nhưng nếu hiểu vậy, nó
không phù hợp tí nào với ý để cho các cung nữ tự do đi
lại mà thái tử ở truyện 18 yêu cầu vua cha. Trái lại, nếu
coi “lại” là một tá âm như chữ “lại” tiếng Việt,
ta sẽ có “tự tại đi lại” và nghĩa nó hoàn toàn phù
hợp. Lối dùng chữ “lại” như một tá âm này cũng xuất
hiện trong câu “đắc thủy lai hoàn” (được nước lại
về) của truyện 14 quyển thượng tờ 513a8, câu “thùy cảm
hạ thủ đắc quất lai” (ai dám xuống lấy được quýt lại)
của truyện 26 tờ 515b1-2 và câu “thừa xa lai hoàn” (cuõi
xe lại về) của truyện 15 tờ 513b19 v.v…
Mặt
khác, các cấu trúc theo ngữ pháp và ngữ nghĩa tiếng Việt
vừa thấy, tuy ít ỏi, đã bộc lộ cho thấy ảnh hưởng ngữ
học của nguyên bản tiếng Việt, mà Cựu tạp thí dụ kinh
là một thí dụ. Nguyên bản tiếng Việt này từ nguyên thủy
hẳn là một tập hợp các bài giảng có kể chuyện của vị
thầy Khương Tăng Hội. Cho nên, trong số 64 truyện, hiện có
13 truyện có 14 đoạn bình luận về chúng ở cuối mỗi truyện
và ghi là “Thầy nói” (sư viết). “Thầy” đây chắc chắn
là thầy của Khương Tăng Hội, chứ không thể một người
thầy nào khác, bởi vì không chỉ ở đây trong Cựu tạp thí
dụ kinh, Hội đã nhắc đến thầy mình, mà trong hai tác phẩm
hiện còn khác, đó là An ban thủ ý kinh tự và Pháp kính kinh
tựï Hội cũng làm thế.
Trong
đoạn đầu tiên của An ban thủ ý kinh tự, ta thấy Khương
Tăng Hội nói tới việc “chẳng phải (lời) thầy không truyền”
(phi sư bất truyền) khi viết An ban thủ ý kinh chú giải. “Thầy”
đây không phải chỉ An Thế Cao, như đã có người lầm tưởng
và nghĩ rằng những lời chú trong bản chú thích ấy là do
Trần Tuệ và Trần Tuệ là học trò trực tiếp của An Thế
Cao. Thực tế khi viết “Trần Tuệ chú nghĩa, tôi giúp châm
chước”, Khương Tăng Hội chỉ muốn khiêm tốn, chứ nếu
Tuệ quả đã “chú nghĩa” An ban thủ ý kinh thì không lý
do gì Đạo An và các bản kinh lục về sau lại ghi Hội chú
giải kinh ấy.
Thêm
vào đó, không có việc Khương Tăng Hội học An ban thủ ý
kinh với Trần Tuệ, Hàn Lâm và Bì Nghiệp, mà chỉ có việc
“theo xin hỏi” về kinh này với ba người ấy. Hỏi để
xác nhận lại những gì mình hiểu do học với thầy mình
là đúng đắn. Cho nên, Hội mới viết tiếp: “Thước giống,
góc khít, nghĩa không sai khác”. Viết thế cũng có nghĩa Hội
đem những hiểu biết do mình học được với thầy ra so sánh
với những gì ba người đó nói thì thấy hoàn toàn phù hợp.
Vì vậy, tuy nói khiêm tốn, “Trần Tuệ chú nghĩa, tôi giúp
châm trước”, sự thực Hội đã viết An ban thủ ý kinh chú
giải theo những gì thầy mình dạy, sau khi kiểm tra với “ba
vị hiền” từ Nam Dương, Dĩnh Xuyên và Cối Kê tới.
Không
chỉ viết An ban thủ ý kinh chú giải theo lời thầy, “không
phải (lời) thầy thì không truyền, không dám tự do”, Khương
Tăng Hội còn viết Pháp kính kinh giải tự chú mà bài tựa
Pháp kính kinh tự trong Xuất tam tạng ký tập 6 tờ 46c8-11
nói: “Tang thầy nhiều năm, nên không do đâu mà hỏi lại.
Lòng buồn, miệng run, ngừng bút rầu rĩ, nhớ thầy thương
Phật, lệ chảy ròng ròng, nay ghi điều mình biết, để lại
chỗ nghi ngờ, các bậc minh triết về sau …”. Một lần
nữa thầy của Khương Tăng Hội không chỉ dạy ông An ban
thủ ý kinh, mà còn dạy Pháp kính kinh. Cho nên, sau này nhu
cầu giảng dạy truyền giáo, Hội viết Pháp kính kinh giải
tự chú và lấy làm buồn là thầy mình đã mất “không do
đâu mà hỏi lại được”.
Việc
ghi lại những bình luận của thầy mình sau 13 truyện của
Cựu tạp thí dụ kinh, như vậy chứng tỏ nó được thực
hiện rất sớm, có thể ngay buổi thuyết giảng vừa xong,
bởi vì làm thế nó mới có độ chính xác trung thực cao.
Và Khương Tăng Hội là một người có khuynh hướng ưa chính
xác trung thực, như lời tựa cho các bản chú giải kinh An
ban thủ ý và Pháp kính chứng tỏ. Một khi đã vậy, thì 13
trong số 61 truyện của Cựu tạp thí dụ kinh đã được ghi
chép lại từ những năm 220, lúc Hội mới trên dưới 20 tuổi
và vừa thọ giới Tỳ kheo xong. Lý do là vì sau những năm
220 ấy “ba thầy” của Hội đều viên tịch, và đến khoảng
227-228 khi viết An ban thủ ý kinh giải, Hội than là “không
có ai để hỏi mà học” (vô do chất thọ).
Do
đó, quá trình hình thành dịch bản Cựu tạp thí dụ kinh
đã diễn ra trong một thời gian dài. Ban đầu, khi các “thầy”
của Khương Tăng Hội còn sống, đã đem nguyên bản tiếng
Việt Cựu tạp thí dụ kinh ra giảng cho ông và chắc còn cho
nhiều môn đồ khác. Sau mỗi buổi giảng xong một truyện,
vị thầy đã tóm tắt ý chính, mà truyện nhắm tới. Đôi
khi, ngoài tóm tắt ra, ông còn bình luận giải thích thêm,
như trường hợp truyện 7 và 13 với một đoạn văn dài gần
bằng với truyện chính. Khương Tăng Hội chắc đã ghi những
tóm tắt và bình luận giải thích ấy bên lề các truyện
của nguyên bản kinh Cựu tạp thí dụ tiếng Việt, mà ông
đã sao chép lại. Sau này, do yêu cầu giảng dạy và truyền
giáo cho người Trung Quốc, ông đã đem nó ra dịch thành Cựu
tạp thí dụ kinh tiếng Trung Quốc như ta hiện có.
Công
tác phiên dịch có thể tiến hành ở Trung Quốc, tại chùa
Kiến Sơ của Kiến Nghiệp, kiểu Cao tăng truyện và các bản
kinh lục đã ghi. Nhưng sự việc không nhất thiết là vậy,
bởi vì nó cũng có thể thực hiện ở nước ta. Lý do nằm
ở chỗ nước ta lúc ấy không phải là không có người Trung
Quốc, và Khương Tăng Hội không phải là không viết những
tác phẩm tiếng Trung Quốc, trước khi “chống gậy Đông
du” qua Kiến Nghiệp năm 247, cho những độc giả người Trung
Quốc ấy. Cụ thể là bản An ban thủ ý kinh chú giải do Hội
viết với sự tham gia ý kiến của Trần Tuệ hẳn nhằm những
đối tượng vừa nêu vào những năm 227-228.
Dẫu
sao đi nữa, dù dịch ở nước ta trước năm 247 hay ở Trung
Quốc sau năm đó, Cựu tạp thí dụ kinh vẫn là một bản
văn Khương Tăng Hội quan tâm rất sớm trong sự nghiệp trước
tác phiên dịch của mình. Nó đã được thầy ông đem giảng
dạy trước khi mất vào khoảng những năm 220 và đã được
ông ghi chép lại, để sau này trở thành bản đáy cho việc
dịch Cựu tạp thí dụ kinh tiếng Việt ra bản tiếng Trung
Quốc ngày nay. Trong tình hình tư liệu hiện có, phải nói
Cựu tạp thí dụ kinh là văn bản đầu tay, tuy chưa phải
là trọn vẹn, mà Khương Tăng Hội đã ghi chép cẩn thận
và trân trọng. Chính nhờ sự cẩn thận và trân trọng này,
14 đoạn bình luận của “thầy” ông bây giờ được bảo
tồn, làm phong phú cho nền văn học và Phật giáo nước ta.
Có
thể có trường hợp những đoạn bình luận ấy có sẵn trong
nguyên bản tiếng Việt? Và vị thầy đưa ra 13 đoạn bình
luận trên chưa hẳn là thầy của Khương Tăng Hội. Đây là
một có thể. Tuy nhiên, do việc Hội nhắc đến thầy mình
trong các bài tựa An ban thủ ý kinh tự và Pháp kính kinh tựï
đầy tha thiết nhớ thương, chúng tôi nghĩ vị thầy đưa
các bình luận ấy có khả năng thực sự là thầy của Khương
Tăng Hội hơn là một vị nào đó có sẵn trong nguyên bản
tiếng Việt. Ngoài ra, điều này cũng giải thích cho ta tại
sao chỉ 13 truyện có bình luận. Ấy là vì có thể khi đến
truyện thứ 13 thì thầy của Hội mất, nên Hội chỉ ghi được
chừng ấy lời bình.
Nói
tóm lại, bản đáy dùng cho việc dịch ra Cựu tạp thí dụ
kinh tiếng Trung Quốc hiện nay được Khương Tăng Hội chuẩn
bị rất sớm, có thể từ những năm trước hay sau năm 220,
bằng cách chép lại nguyên bản tiếng Việt của kinh ấy cùng
một số lời bình luận của thầy mình. Sau này, khi có cơ
hội và do nhu cầu thuyết giảng và truyền giáo, Khương Tăng
Hội mới dịch ra tiếng Trung Quốc, có thể trước hay sau
năm 247, tại nước ta hay Trung Quốc. Có khả năng lớn là
sau năm 247 và ở Trung Quốc, vì văn từ của nó so với Lục
độ tập kinh chẳng hạn, tương đối trau chuốt hơn và không
có nhiều cấu trúc mang ngữ pháp tiếng Việt nữa, nếu căn
cứ vào văn bản hiện nay.
Thế
thì, ai là người thực hiện việc dịch nguyên bản Cựu tạp
thí dụ kinh tiếng Việt? Trong tình hình tư liệu hiện nay,
ta chưa thể trả lời được. Chỉ có hai điều ta có thể
chắc chắn. Thứ nhất, người thực hiện dịch nguyên bản
Cựu tạp thí dụ kinh tiếng Việt dứt khoát phải là một
người Việt sống vào khoảng thế kỷ thứ II sau Tây lịch,
nếu không là sớm hơn. Thứ hai, người này không thể là
vị “thầy” của Khương Tăng Hội với những câu bình luận
ghi sau 13 truyện của Cựu tạp thí dụ kinh, bởi vì qua các
đoạn văn bình luận ấy ta thấy thầy của Hội đã sử dụng
một bản văn có sẵn để giảng cho Hội và những người
khác, chứ không phải sử dụng chính bản văn do ông dịch
hay viết. Cụ thể là truyện 7 kể chuyện Nguyệt Nữ tự
cho sự giàu sang của mình là “tự nhiên”. Hội đã ghi thêm
đoạn “Thầy nói” để giải thích tại sao. Đoạn này,
nếu “thầy” của Khương Tăng Hội viết hay dịch Cựu tạp
thí dụ kinh, thì chắc chắn đã được chính thức đưa vào
trong cốt truyện chính của truyện, chứ không để nằm trong
đoạn văn bình luận, như ta hiện có.
III.
VẤN ĐỀ XUẤT XỨ
Cựu
tạp thí dụ kinh ngày nay có cả thảy 61 truyện. Trong đó,
11 truyện có tương đương với các truyện bản sinh của truyền
thống văn học bản sinh Pàli Jàtaka, đó là truyện 1, 15, 16,
18, 21, 24, 27, 39, 40, 45 và 54, và 3 truyện có tương đương
xuất hiện trong Lục độ tập kinh, đó là 2, 40 và 45, riêng
các truyện 40 và 45 không chỉ có mặt trong văn học bản sinh
Pàli, mà còn trong truyền thống bản sinh Phạn văn. Phân tích
các tương đương này đem lại cho ta một số ý niệm về
nỗ lực tiến hành cải biên xuất phát từ những yêu cầu
khác nhau, từ yêu cầu truyền đạt tư tưởng cho đến yêu
cầu thích nghi văn hóa địa phương.
Các
yêu cầu này tự thân chúng nói lên không ít quan điểm tư
tưởng cũng như thị hiếu thẩm mỹ của những người tiến
hành cải biên. Cho nên, so sánh các truyện tương đương sẽ
thấy dị bản do đâu xuất hiện, mang trong mình chúng những
hàm ý gì, nhắm vào những đối tượng người nghe nào và
nhắn gửi cho họ những thông điệp ra sao. Ở đây, chúng
tôi chỉ phân tích sơ bộ một số có tương đương chủ yếu
trong văn học bản sinh Pàli Jàtaka, mà về niên đại chắc
chắn xuất hiện trước các truyện của Cựu tạp thí dụ
kinh ít lắm cũng phải trên một thế kỷ, do thế có khả
năng đã truyền vào nước ta để làm truyện gốc cho các
truyện cải biên của Cựu tạp thí dụ kinh.
Tất
nhiên, truyền thống văn học bản sinh Phạn văn đóng một
vai trò xung yếu. Nhưng do tính tản mạn và phần lớn hậu
kỳ của chúng, ta không thể sử dụng để phân tích mà không
đi vào các chi tiết dị bản và niên đại phồn tạp của
chúng, một công tác chúng ta chưa thể thực hiện ở đây
được. Vì vậy, chúng tôi tạm thời giới hạn vào truyền
thống bản sinh Pàli và Lục độ tập kinh, và chỉ nhắc tới
truyền thống bản sinh Phạn văn ở những nơi thích hợp,
mà không tập trung nghiên cứu truyền thống Phạn văn ấy.
Điều này chỉ có thể làm được khi ta tìm hiểu từng truyện
một, như chúng tôi đã thực hiện với truyện 23 về trăm
trứng của Lục độ tập kinh.[2]
1.
Truyện 1 » Panõcàvudha (Jàt. 55)
Cốt
lõi hai truyện thống nhất với nhau, nhưng về các tình tiết
mở đầu thì không giống. Thứ nhất, truyện 1 cho nhân vật
có tên là Tát Bạc làm lái buôn đi qua một nước khác, nghe
thuyết pháp và thọ năm giới. Vị thầy nói thêm mỗi giới
có 5 vị thần, nên 5 giới có 25 vị thần hộ vệ người
giữ giới. Thứ hai, khi về nước bèn cùng 500 lái buôn đi
qua một nước khác, nhưng phải vượt một đoạn đường
có quỉ ăn thịt người. Bèn bảo những người đồng hành
nghỉ lại, để một mình đi. Nếu thành công hàng phục quỉ
thì sẽ về nước.
Hai
tình tiết mở đầu vừa nêu, truyện Panõcàvudh Jàtaka kể
khác đi. Thứ nhất, nhân vật là con vua đi Takkhasila học.
Thứ hai, trên đường về gặp quỉ đòi ăn thịt.
Còn
về cuộc chiến đấu với quỉ, truyện Panõcàvudha Jàtaka
cho nhân vật bắn tên, múa kiếm, phóng lao và ném chùy vào
quỉ, trước khi dùng tay chân và đầu đánh quỉ và bị mắc
kẹt vào mình quỉ. Truyện 1 không có. Cuối cùng, nhân vật
cả hai truyện kết thúc bằng việc giáo hóa quỉ thọ
năm giới.
Như
thế, về cốt lõi thì hai truyện thống nhất nhưng khác về
tình tiết mở đầu và chiến đấu.
2.
Truyện 2 » Truyện 20 Lục độ tập kinh
Hai
truyện hoàn toàn thống nhất với nhau, tuy câu văn dài ngắn
có khác. Truyện 2 dài khoảng hơn 500 chữ, trong khi truyện
20 dài trên 700 chữ. Điều này xảy ra do truyện 20 bình luận
hơi dài về tai hại của việc mê sắc đẹp, nghe lời “yêu
dụ của dâm phụ” v.v …
3.
Truyện 15 » Illìsa (Jàt. 78) và Sudhàbhojana (Jàt. 535)
Hai
truyện 15 và Illìsajàtaka chủ yếu nhất trí với nhau, cùng
tên YLySa (Illìsa), cũng tính bủn xỉn keo kiệt, thấy người
ta ăn thịt cá (theo truyện 15) hay uống rượu (theo truyện
Illìsajàtaka), bèn giết một con gà nấu cháo (hay mua rượu),
rồi đem vào rừng ăn (uống) một mình. Thiên Đế Thích hóa
làm một Illìsa khác về nhà tổ chức bố thí hết của cải.
Khi Illìsa thật về, thì bị đánh đuổi đi. Sau Thiên Đế
hiện nguyên hình giảng đạo cho Illìsa hối lỗi, làm việc
thiện.
Chỉ
có mấy dị biệt. Thứ nhất, truyện 15 có tình tiết Thiên
Đế hóa thành chó đòi ăn cháo gà với Illìsa, mà truyện
Illìsajàtaka không có. Thứ hai, truyện Illìsajàtaka cho Illìsa
là bộ trưởng ngân khố của vua nên trước khi Thiên Đế
giả Illìsa bèn đến vua đòi cho vua của cải của Illìsa thật.
Vua không nhận, bèn mới bố thí. Chi tiết này, truyện 15 không
có. Thứ ba, khi Illìsa trở về nhà, bị đánh đuổi, bèn đi
kiện vua. Vua nhận thấy không ra ai là Illìsa thật, hỏi đến
vợ con, vợ con cũng nhận Illìsa không ra. Tức quá, Illìsa
thật nghĩ đầu mình có nốt ruồi, chỉ anh thợ hớt tóc
biết, bèn nhờ thợ hớt tóc, thợ cũng thua vì đầu nào cũng
có nốt ruồi. Chi tiết này, truyện 15 không có.
Truyện
Sudhàbhojanajàtaka kể chuyện Macchari Kosiya, bộ trưởng ngân
khố của vua Brahmadatta, tính bủn xỉn keo kiệt. Khi thấy ông
phó của mình ăn, bèn thèm. Đến mấy ngày sau vợ hỏi, cho
nấu cháo đem ra ngoài rừng ngồi ăn, thì gặp năm Bà la môn
đi qua là hóa thân của Salcka, Panõcisikha, Canda, Suriya và Màtàhi,
đến xin cháo. Đuổi không đi, Kosiya bắt buộc phải cho. Cho
xong, Panõcisikha hóa thành con chó, chảy nước dãi trên tay
Kosiya. Kosiya phải đi rửa tay, chó bèn đái vào bát cháo của
Kosiya. Quá tức, bèn lấy cây đánh thì chó hóa thành ngựa
biển lớn nhỏ màu sắc bất thường. Cuối cùng năm Bà la
môn hiện nguyên hình thiên thần, giảng đạo cho Kosiya. Kosiya
bèn về bố thí và đi tu. Đế Thích (Sakka) có bốn cô con
gái là Hy Vọng, Trung Thành, Vinh Quang và Danh Dự, mà không
biết cô nào đạo đức nhất, bèn sai Màtali chở bốn cô
đến cho Kosiya. Cuối cùng, Kosiya chọn cô Danh Dự, vì có giữ
danh dự mới giữ đạo đức.
Rõ
ràng, chi tiết con chó trong truyện 15 là từ truyện Sudhàbhojanajàtaka
này, tuy những tình tiết khác, đặc biệt là sự xuất hiện
5 Bà la môn và bốn cô gái hoàn toàn không có. Truyện 15 như
vậy là một cải biên tổng hợp của hai truyện Illìsajàtaka
và Sudhàbhojanajàtaka.
4.
Truyện 16 » Ananusociya (Jàt 328), Udaya (Jàt 458), Kanala (Jàt 536)
Truyện
16 có thể chia làm 3 phần. Phần thứ nhất, kể chuyện người
con trai và con gái cho đúc hình mình bằng vàng. Chi tiết đúc
hình này về phía con trai xuất hiện khá phổ biến trong các
truyện của truyền thống Pàli. Cụ thể là các truyện Ananusociyajàtaka
và Udayajàtaka. Phần hai kể chuyện hai người lấy nhau, và
cô con gái đã gian dâm khi chồng mình vừa đi khỏi, và bị
bắt gặp khi chồng trở về bất ngờ. Phần này chưa tìm
thấy ở bất cứ truyện Jàtaka nào. Phần ba kể chuyện chồng
buồn, nhưng khi thấy vợ vua đi ái ân lén lút với tên giữ
ngựa trong chuồng ngựa, bèn mới phát hiện chân lý “nữ
nhân không thể cùng mình làm việc được”. Bèn hết buồn,
chứng quả duyên giác. Tình tiết về vợ vua gian dâm này rõ
ràng lấy từ truyện vợ vua Brahmadatta là Pingiyànì đi ăn
nằm lén lút với tên giữ ngựa trong truyện Kunalajàtaka.
Như
thế, truyện 16 là một cải biên tổng hợp các truyện Udayajàtaka
và Kuralajataka, mà ta hiện biết, và chắc chắn có tham khảo
thêm các truyện khác nữa, mà ta chưa rõ xuất xứ.
5.
Truyện 18 » Samugga (Jàt. 436)
Truyện
18 có thể chia làm 2 phần. Phần đầu kể chuyện chính phi
của vua do thái tử là con mình đưa đi chơi, mà vẫn tỏ ra
lẳng lơ. Phần hai kể người con thấy thế bất mãn, bèn
trở vào rừng, thấy một Phạm chí xuống hồ tắm, mửa ra
một chiếc bình, trong bình có cô gái, bèn ân ái với Phạm
chí. Khi Phạm chí mệt ngủ, cô gái lại mửa ra một chiếc
bình khác, trong bình có một chàng thanh niên. Cô gái ăn nằm
với chàng thanh niên xong, thì lại nuốt bình vào bụng. Chốc
sau, Phạm chí thức dậy, lại nhốt cô gái vào bình và nuốt
luôn.
Bèn
trở về, cho mời Phạm chí đến cung ăn cơm. Phạm chí đến,
thấy dọn ba phần cơm, bèn phản đối, nói chỉ có một mình
Phạm chí đến. Thái tử bảo Phạm chí mửa cô gái ra. Bất
đắc dĩ, bèn mửa. Rồi đến lượt cô gái, thái tử lại
đòi. Bất đắc dĩ, cô mửa ra. Thấy vậy, thái tử mới hiểu
ra “nữ nhân gian trá không thể chấm dứt” và truyện kết
luận: “Thiên hạ không thể tin nữ nhân”.
Phần
hai của truyện 18 hầu như thống nhất hoàn toàn với truyện
Samuggajàtaka, tuy đã đổi thay tên nhân vật. Thứ nhất, Phạm
chí của truyện 16 là con quỉ Asura ăn thịt người, đón đường
bắt được người đàn bà đẹp, bèn lấy làm vợ. Để giữ
nàng, bèn bỏ vào một chiếc hộp, rồi nuốt vào bụng. Thứ
hai, một hôm Asura cùng nàng đi tắm, tắm xong để nàng đi
chơi, gặp con thần gió Vàyu, nàng ngoắt xuống, cho vào nằm
trong hộp. Asura tắm xong, nàng chui vào hộp, Asura nuốt vào
bụng như thường lệ. Thứ ba, Asura đến thăm một đạo sĩ
ở gần. Đạo sĩ chào cả ba người. Asura lấy làm lạ, hỏi.
Cuối cùng, cả người con thần gió lẫn cô gái nhảy ra. Asura
mới vỡ lẽ, bèn thọ năm giới với đạo sĩ.
Như
thế, tuy thay đổi tên nhân vật, cốt lõi của truyện Samuggajàtaka
thống nhất với phần hai của truyện 18. Phần đầu xuất
xứ hiện chưa rõ.
6.
Truyện 21 » Kharaputta (Jàt. 386)
Hai
truyện chủ yếu thống nhất với nhau, tuy có một số tình
tiết dị biệt. Thứ nhất, không phải con gái vua rồng được
vua người cứu khỏi đám chăn trâu đánh như truyện 21 ghi,
mà chính vua rồng được cứu theo truyện Kharaputta. Thứ hai,
để đền ơn, vua rồng cho một long nữ đến sống với vua
người, mà truyện Kharaputta gọi là Senaka. Thứ ba, truyện
Kharaputta kể long nữ đến sống với vua người, lại tư thông
với rắn nước, nên bị đánh, bèn về nước rồng, báo vua
rồng, trong khi truyện 21 lại ghi con gái vua rồng tố vua rồng
là mình bị vua người đánh. Thứ tư, để rõ thực hư, theo
truyện 21 thì vua rồng đã hóa thành rắn đi nghe vua người
kể chuyện với vợ, trong khi truyện Kharaputta cho vua rồng
gửi bốn rồng trẻ đến để giết Senaka. Khi bốn rồng này
vào phòng ngủ thì nghe Senaka kể chuyện gian dâm của long nữ
với vợ, bèn trở về kể cho vua rồng.
Vua
rồng vỡ lẽ, bèn xin lỗi và truyền cho vua người khả năng
nghe được tiếng loài vật. Truyện Kharaputta kể, vua nghe kiến
và ruồi nói chuyện với nhau, trong khi truyện 21 chỉ ghi nghe
chuyện ruồi thôi. Nghe chúng nói chuyện, vua cười. Hoàng hậu
đòi biết, vua bảo nếu tiết lộ, mình sẽ chết. Nhưng hoàng
hậu đòi riết, vua bèn hứa sẽ nói, khi đi chơi về. Khi đi
chơi, theo truyện 21 thì vua gặp một đàn dê do vua rồng hóa
ra, có con dê cái đòi dê đực đưa mình qua sông, nếu không
đưa, nó sẽ tự sát. Dê đực nói nó không ngu như ông vua
kia đâu, muốn tự sát thì tự sát. Vua hiểu ra là “Đàn
ông làm theo ý đàn bà để giết thân mình”. Còn truyện
Kharaputta thay vua rồng bằng vua trời Sakka và cho biến thành
dê đực làm tình với dê cái trước mặt con dê kéo xe của
vua Senaka. Dê của vua Senaka phản đối cho đó là ngu si đáng
hổ thẹn. Dê đực phản đối, nói nó ngu si chưa bằng vua
Senaka ngu si mà tiết lộ phép nghe hiểu tiếng nói động vật
vì đòi hỏi của vợ. Vua Senaka hiểu ra, bèn về nói vợ muốn
biết phép phải chịu đòn một trăm roi. Vợ đồng ý, nhưng
mới đánh mấy roi đã khóc, không chịu nữa.
Như
thế, tuy có một vài xuất nhập, hai truyện căn bản nhất
trí với nhau. Hiện tượng cải biên đã xảy ra, dẫu không
triệt để lắm.
7.
Truyện 24 » Vedabbhajàtaka 48
Truyện
24 là cải biên tóm tắt của truyện Vedabbha, chỉ kể chuyện
Phật đi vào trong cỏ. A Nan hỏi, Phật đáp: “Trước có
cướp. Sau ba Phạm chí sẽ bị giặc bắt”. Ba người đến
sau, thấy bên tường có đống vàng. Một người vào làng
mua cơm, nghĩ bỏ thuốc độc để giết hai người kia. Hai
người kia cũng nghĩ giết người này. Cuối cùng cả ba người
đều chết.
Truyện
Vedabbhajàtaka kể dông dài hơn, chuyện hai thầy trò Bà
la môn bị một toán cướp 500 tên bắt. Thầy dùng phép làm
mưa vàng cho chúng, bèn được thả ra. Nhưng sau đó, bọn cướp
này bị bọn cướp 500 tên khác chặn bắt, chúng chỉ Bà la
môn. Bọn sau bắt Bà la môn, nhưng Bà la môn không làm mưa
vàng được nữa nên bị giết. Rồi chúng đuổi theo bọn
cướp trước, giết sạch và cướp vàng. Sau đó, chúng lại
giết nhau. Cuối cùng chỉ còn hai tên, một tên vào làng mua
cơm, nghĩ cách giết tên còn lại bằng cách trộn thuốc độc
vào cơm. Tên ở lại giữ vàng cũng nghĩ cách giết tên mua
cơm, nên khi tên mua cơm vừa về, nó giết liền. Giết xong,
bèn ăn cơm, rồi cũng chết.
Truyện
Vedabbhajàtaka còn cho người học trò sống, để đi lấy tiền
chuộc và để kết luận, vì thầy không nghe lời trò, nên
không những thầy chết, mà còn làm chết theo một ngàn tên
cướp.
8.
Truyện 27 » Macchuddànajàtaka 288
Truyện
27 kể hai mẹ con. Người mẹ nói mình không bao giờ mất gì.
Cậu con lấy chiếc nhẫn của mẹ quăng xuống sông, rồi hỏi
mẹ có mất gì. Mẹ trả lời không mất. Mấy ngày sau, nhân
mời các vị Mục Liên, A Na Luật và Ca Diếp đến nhà ăn
cơm, bà sai người ra chợ mua cá về làm. Mổ bụng cá thì
được lại chiếc nhẫn.
Lý
do việc không mất gì này, truyện 27 kể tiếp là do kiếp
trước bà nguyên là một bà góa già và nghèo ở phía bắc
một ngọn núi. Dân vùng đó đến mùa đông đều dời về
ở phía nam. Một mình bà ở lại giữ đồ đạc của cải
của những người đã đi, đến mùa xuân họ về thì trả
lại đầy đủ không thiếu một món. Nên kiếp này bà không
bao giờ mất gì.
Truyện
Macchuddànajàtaka kể chuyện hai anh em. Người em muốn lấy
gói tiền của anh, bèn làm một gói đá y như gói tiền của
anh, rồi khi qua sông bèn đánh rơi gói tiền xuống sông, mà
nghĩ là gói đá. Đến khi về nhà, nó mở gói nó giữ lại
thì ra là gói đá. Trong lúc đó, người anh về nhà mình thì
có người đánh cá đem đến bán cho một con cá. Mổ bụng
ra, thấy lại gói tiền mình. Thần sông Hằng mới nói bài
kệ: “Kẻ ác không giàu”.
Nhân
vật và tình tiết, hai truyện khác nhau, nhưng rõ ràng cốt
lõi là thống nhất, việc mất của được trả lại thông
qua một con cá.
9.
Truyện 39 » Kacchapa (Jàt. 215)
Chuyện
cò đem rùa đi trong văn học dân gian Việt Nam có thể nói
chắc chắn phải xuất hiện vào thế kỷ thứ III sau Tây lịch,
vì nó là truyện 39 ở đây. Truyện 39 chủ yếu thống nhất
với truyện Kacchapajàtaka, tuy có một vài tình tiết dị biệt.
Thứ nhất, truyện 39 có ba ba (tệ) thay cho rùa của truyện
Kacchapajàtaka. Thứ hai, truyện Kacchapajàtaka nói rùa ở Hy Mã
Lạp Sơn, vịt trời đến hẹn rùa đi thăm nhà mình. Trong
khi chuyện 39 nói ba ba gặp mùa khô hạn xin cò giúp đem đi
đến chỗ có ăn. Thứ ba, theo Kacchapajàtaka thì rùa rơi vào
cung vua. Vua đến xem và được dạy cho một bài học về tội
nói nhiều. Truyện 39 chỉ kể ba ba rơi xuống, người ta bắt
được, đem xẻ nấu ăn.
Chuyện
rùa vì không cẩn thận khi ăn nói, mà bị thiệt thân, các
nền văn học Đông Tây đồng thời và trước thời với Khương
Tăng Hội đều có. Phạn bản Pànõcatantra có kể tới[3].
Trong văn học phương Tây, Babrius[4] và Phaedus[5] có ghi. Văn
học Việt Nam cũng thế. Và bây giờ ta có thể khẳng định
là truyện này, nếu không lưu hành trước thời Khương Tăng
Hội, thì cũng phải lưu hành vào thời Khương Tăng Hội trở
đi với Cựu tạp thí dụ kinh, tức khoảng những năm đầu
của thế kỷ thứ III sau Tây lịch.
10.Truyện
40 » Mahàsutasomajàt 537
» Jayaddisa (Jàt. 513)
»
Angulimàla-suttam, MN 86, 11.1.97
» Jàtakamalà 31
Truyện
40 là một trích đoạn của truyện 41 trong Lục độ tập kinh
về việc vua Phổ Minh đi xem dân sướng khổ thế nào, bị
A Quần bắt, vua xin về gặp Phạm chí nghe kệ, rồi sau trở
lại gặp A Quần. A Quần ngạc nhiên, kinh phục và nhờ bài
kệ đã giác ngộ.
Truyện
40 ở đây không nói rõ tên, chỉ nói vua và quỉ ăn thịt
người, và cũng không có bài kệ. Chỉ kết thúc bằng câu:
“Quỉ thấy vua đến, cảm sự chí thành, lễ tạ, không dám
ăn”.
11.
Truyện 45 » Sasajàtaka 316 » Jatakamàlà 6
Truyện
45 hầu như thống nhất hoàn toàn với truyện 21 của Lục
độ tập kinh, tuy hành văn có một ít ngữ cú xuất nhập.
12.
Truyện 54 » Lohakumbhi (Jàt. 314)
Cốt
lõi của hai truyện thống nhất với nhau, tuy có mấy dị biệt
sau. Thứ nhất, truyện 50 có 6 người trong địa ngục, trong
khi Lohakumbhijàtaka chỉ có 4 người, nói thêm 4 người này
rơi vào địa ngục vì đã “gian dâm với vợ người khi còn
ở trần thế”. Thứ hai, vì có bốn người, truyện Lohakumbhijàtaka
chỉ có bốn bài kệ giải thích bốn âm thanh do bốn người
đó thốt ra là dà, du, na, so trong khi truyện 54 có 6 người
nên có sáu âm thanh, mà ngoài bốn âm vừa kể, còn thêm âm
cô và đà la và có sáu bài kệ.
Ngoài
ra truyện Lohakumbhijàtaka còn có phần mở đầu kể chuyện
vua Ba La Nại nghe bốn âm thanh trên, bèn tính làm lễ tế thần
theo lời khuyên của các Bà la môn. Bồ tát thấy vậy liền
đến vườn ngự uyển. Có một đệ tử trẻ tuổi của vị
Bà la môn tư tế của vua không đồng ý lễ ấy, bèn đến
Bồ tát. Cuối cùng, anh ta đem cả vua đến và được giải
thích thỏa đáng nguồn gốc các âm thanh ấy, cứu sống được
các con vật sắp bị đưa đi tế thần.
Qua
phân tích 12 tương đương trên, nổi bật rất rõ nét một
đặc trưng của Cựu tạp thí dụ kinh là văn từ gọn nhẹ,
cốt truyện được giản đơn hóa tới mức tối đa, bỏ những
chi tiết rườm rà, mà vẫn giữ nguyên vẹn cấu trúc câu
truyện. Truyện 39 chẳng hạn đã tước bỏ chi tiết địa
phương của rùa là Hy Mã Lạp Sơn. Truyện 24 rút ngắn cốt
truyện mà vẫn giữ nguyên cấu trúc. Thậm chí có truyện
như truyện 16 là một cải biên tổng hợp các truyện Ananusociyajàtaka,
Udayajàtaka, và Kunalajàtaka với một số thêm bớt tình tiết,
mà vẫn bảo tồn tính gọn nhẹ của văn từ cũng như câu
truyện. Sự tình này đưa chúng ta đến hai kết luận khá
lôi cuốn.
Thứ
nhất, giống như Lục độ tập kinh, Cựu tạp thí dụ kinh
là một tập hợp các truyện kể lấy từ nhiều nguồn kinh
điển Pàli và Phạn văn khác nhau, rồi được cải biên để
thích nghi với truyền thống văn hóa địa phương. Đôi khi,
nó lấy ngay cốt truyện tại địa phương và Phật giáo hóa
để gửi gắm một giáo lý nào đó của Phật giáo, như truyện
7, dù không rõ ràng cho lắm. Truyện 7 này có thể là một
hóa thân của truyện An Tiêm trong Lĩnh Nam chích quái. Nhưng
cũng có thể truyện An Tiêm lại là một hóa thân của nó.
Đây là điểm khó khăn ta chưa giải quyết dứt khoát được.
Thứ
hai, vì là một tập hợp các truyện kể, Cựu tạp thí dụ
kinh không nhất thiết được dịch trực tiếp từ một nguyên
bản Pàli hay Phạn văn một cách trọn vẹn và trung thành.
Ngược lại, có khả năng người tập hợp, một tác giả
Việt Nam trước thời Khương Tăng Hội, nhưng không thể là
“thầy” Khương Tăng Hội, đã rút các truyện của mình
từ những truyền thống văn học khác nhau. Có truyện ông
dịch trực tiếp từ các truyền thống ấy. Có truyện ông
cải biên. Có truyện ông tổng hợp các truyện của những
truyền thống ấy thành một truyện mới. Thậm chí, có truyện
ông lấy cốt truyện từ nền văn học địa phương, để
rồi Phật giáo hóa với một nội dung giáo lý Phật giáo.
Tất cả là để chuyển tải và truyền đạt một số quan
điểm giáo lý Phật giáo mà ông thấy cần.
IV.
NỘI DUNG CỰU TẠP THÍ DỤ KINH
Cựu
tạp thí dụ kinh hiện nay chia làm hai quyển thượng và hạ.
Quyển thượng gồm từ truyện 1 đến 34. Quyển hạ từ 35
đến 61. Nó như vậy có cả thảy 61 truyện theo cách đánh
số của bản in Đại Chính ngày nay. Nhưng một kiểm tra kỹ
cho ta đến 65 truyện bởi vì bốn truyện 8, 9, 14 và 39 là
bốn truyện đôi. Trừ 7 truyện cuối sách có tiêu đề riêng
là truyện “thí dụ bẻ gãy la hán” nhằm nêu những giới
hạn của quả vị la hán, và hai truyện 2 và 45 là những truyện
tiền thân đích thực, 56 truyện còn lại là những truyện
thí dụ thuần túy. Gọi là thí dụ, thực tế chúng là những
truyện ngụ ngôn, ngắn có dài có, với mục đích nhắn gửi
một lời khuyên, một cảnh giác thông qua câu chuyện. Những
lời nhắn gửi này đôi khi không nhất thiết chỉ mang nội
dung đặc biệt Phật giáo, mà còn bộc lộ một sự khôn ngoan
chung, một dạng minh triết, mà bất cứ dân tộc nào cũng
có thể có.
Vì
thế trong 56 truyện loại ngụ ngôn trên, có những truyện
xuất hiện trong nhiều dân tộc khác nhau, như truyện 39, cò
đem baba đi kiếm ăn. Có truyện không giống nội dung
Phật giáo và cũng chẳng có thông điệp nhắn gửi gì đặc
biệt Phật giáo, như truyện 10, 19, 26 chẳng hạn. Có những
truyện có nguồn gốc địa phương, nhưng đã được Phật
giáo hóa để gửi gắm một đạo lý, một quan điểm sống
Phật giáo, như truyện 7, 29 v.v … Cuối cùng, có những truyện
xuất phát từ đời sống Phật giáo thực được viết thành
truyện để gửi gắm một tư tưởng, một nhận định thực
tiễn có giá trị khuyên răn, cảnh giác như truyện 36, 49 …
Nói
vậy, cũng có nghĩa về mặt nội dung Cựu tạp thí dụ kinh
tuy tự thân mang danh một bản kinh, nhưng thực tế là một
tác phẩm văn học chứa đựng nhiều nhân tố phi Phật giáo.
Nó do thế phong phú hơn nhiều so với các bản kinh khác. Ngay
cả khi đối chiếu với Lục độ tập kinh, nó dù đơn giản
vẫn vượt trội tính đa dạng, không chỉ về mặt giáo lý,
mà còn về mặt tư tưởng chung. Sự thực, ta phân tích nội
dung của một truyện như truyện 39 kể việc cò đem baba đi
kiếm ăn. Baba do không giữ được miệng mình, nên đã bị
rơi mất xác, thì ý nghĩa truyện không còn đơn thuần giới
hạn vào trong giáo lý đặc biệt đạo Phật nữa, mà đã
tỏa ra, mang một tính nhân loại phổ quát.
Tuy
nhiên, với tư cách một bản kinh, Cựu tạp thí dụ kinh tự
bản thân có những lời giáo huấn đặc biệt Phật giáo.
Ngay truyện đầu, nó muốn nhấn mạnh đến giá trị của
việc tuân thủ các điều răn của Phật giáo thông qua việc
thắng được cả quỉ dữ. Đề cao vai trò của giới luật
là một thông điệp giáo lý đầu tiên của Cựu tạp thí
dụ kinh. Ngoài truyện 1, nó còn có các truyện 13, 40, 41. Việc
nhấn mạnh này có thể hiểu được, khi ta nhớ rằng quan
hệ xã hội bình thường phải dựa trên một số nguyên tắc.
Mà các nguyên tắc này, người Phật giáo gọi là giới, một
dạng pháp qui bắt buộc, nhưng lại mang tính tự nguyện.
Thực
tế, đúng với tinh thần Lục độ tập kinh, những dạng pháp
qui này không chỉ áp dụng giới hạn thuần túy vào cách hành
xử của từng cá nhân, mà còn có tham vọng trở thành khả
thi đối với toàn xã hội: “Năm giới, mười lành làm quốc
chính, làm chính sách quốc gia” (truyện 41). Quan niệm giới
này vượt ra ngoài phạm vi của khái niệm giới nguyên thủy
với nội hàm “phòng phi chỉ ác” đơn giản tôn giáo. Ngược
lại, nó muốn vươn tới việc biến hệ thống giới luật
Phật giáo thành một hệ thống pháp luật chính trị quốc
gia. Đây là một nét đặc trưng của Cựu tạp thí dụ kinh
cũng như Lục độ tập kinh, hai bộ kinh xuất phát từ nước
ta.
Sự
tình này phải chăng không chỉ phản ảnh ước muốn xây dựng
một hệ thống pháp luật quốc gia dựa trên đức lý Phật
giáo, mà còn thể hiện một thái độ chính trị, đối với
hệ thống pháp luật Trung Quốc đã được đưa vào nước
ta sau khi Mã Viện đánh bại Hai Bà Trưng vào năm 42? Hệ thống
pháp luật Việt Nam trước năm 42 ta biết tồn tại qua bộ
Việt luật. Nhưng nội dung bao gồm những điều khoản gì
thì ngày nay ta chưa truy ra được do thiếu tư liệu. Chỉ biết
sau năm 42, truyện Mã Viện trong Hậu Hán thư 54 tờ 8b6-7 nói
Viện “điều tấu Việt luật với Hán luật sai khác hơn
10 điều. Bèn cùng người Việt giải rõ cựu chế để ước
thúc. Từ đó về sau, Lạc Việt vâng làm việc củ của Mã
tướng quân”.
Hán
luật, ngay từ thời Lý Hiền (651-684) viết chú thích Hậu
Hán thư 1 hạ tờ 1a11 đã nói: “Hán luật nay mất”. Cho
nên, ta hiện khó có thể giả thiết điều khoản nào của
Hán luật có khả năng khác với Việt luật. Điều ta có thể
chắc chắn là người Việt đã có một bộ luật gọi là
Việt luật và họ có một tổ chức chế độ chính trị pháp
qui gọi là “cựu chế” và Mã Viện đã tiến hành cải
cách “hơn 10 điều”, dựa trên cơ sở Hán luật. Việc đưa
những yếu tố Hán luật vào Việt luật, sau khi đánh sụp
hệ thống nhà nước Hùng Vương, tất không thể nào được
nhân dân ta nhận đón một cách vui vẻ và biết ơn.
Từ
đó, tất yếu phải hình thành một thái độ chính trị đối
kháng chống lại hệ thống pháp luật mới đưa vào ấy thể
hiện qua việc kêu gọi sử dụng “năm giới mười lành làm
quốc chính” của Phật giáo. Việc kêu gọi này thực chất
là một phê phán nghiêm khắc hệ thống pháp luật Trung Quốc
do Mã Viện áp đặt, coi nó không xứng đáng để làm “quốc
chính”. Lối biểu thị này vào giai đoạn lịch sử ấy là
một hệ quả tất nhiên, một mặt do hệ thống kềm kẹp
của kẻ thù và mặt khác do lực lượng đối kháng dân tộc
chưa biến thành sức mạnh vũ trang đập tan được hệ thống
kiềm kẹp đó.
Nói
khác đi, nếu trước mắt chưa thể làm sống lại hệ thống
pháp luật dân tộc của Việt luật, thì ít nhất cũng biểu
lộ một quan điểm đối với hệ thống pháp luật do Mã Viện
cải cách. Việc này được thực hiện bằng cách kêu gọi
sử dụng hệ giới luật “năm giới mười lành làm quốc
chính”, để “đưa nước tới thái bình” (truyện 1), “tới
long bình” (truyện 41). “Năm giới mười lành” do vậy không
chỉ làm cho mỗi cá nhân trở nên tốt lành thánh thiện, mà
còn tạo nền thái bình cho quốc gia, cho dân tộc. Khẳng định
như thế cũng có nghĩa quốc gia này, dân tộc này không thể
thái bình được, nếu cứ sống dưới hệ thống Hán luật
của Trung Quốc.
Vậy
việc biến một hệ giới luật mang tính tôn giáo thành một
hệ “quốc chính”, một hệ pháp qui chính trị nhà nước
rõ ràng vượt ra ngoài ý nghĩa “phòng phi chỉ ác” nguyên
thủy của quan niệm giới luật Phật giáo và bộc lộ một
thái độ chính trị phê phán Hán luật đương thời của dân
tộc ta thông qua kinh điển Phật giáo. Chỉ nhìn dưới góc
độ này ta mới thấy tại sao Lục độ tập kinh và Cựu tạp
thí dụ kinh lại đầy dẫy những phát biểu về việc sử
dụng “năm giới mười lành làm quốc chính” mà các bản
kinh khác dịch ở Trung Quốc không có hoặc có một cách hết
sức mờ nhạt.
Ngay
trong truyền thống văn học bản sinh Phạn văn hay Pàli, quan
niệm “quốc chính” “đưa nước tới thái bình” ấy cũng
vắng mặt một cách đáng tò mò. Phân tích truyện 1 của Cựu
tạp thí dụ kinh và truyện Panõcavudhajàtaka của văn học
bản sinh Pàli chẳng hạn, ta thấy quan niệm ấy không xuất
hiện trong văn học bản sinh Pàli, trong khi truyện 1 nói rất
rõ “vâng giới (năm giới mười lành …) nước đi tới thái
bình”. Đây là một cải biên có hàm ý chính trị, chứ không
phải đơn thuần có tính ngẫu nhiên, tuỳ tiện. Nó nhằm
bộc lộ một ước muốn, một thái độ chính trị của người
tiến hành cải biên, khẳng định có một lối quản lý đất
nước, ngoài phương thức quản lý hiện hành và ưu việt
hơn nó.
Khuynh
hướng chính trị hóa hệ tư tưởng Phật giáo, đặc biệt
hệ thống giới luật, là một nét đặc trưng của các tác
phẩm Phật giáo tại nước ta trong mấy thế kỷ đầu. Khi
buộc phải xác định cái đạo của ông là gì, Mâu Tử trong
điều 4 của Lý hoặc luận đã nói: “(Cái đạo đó) tại
gia có thể dùng để thờ cha mẹ, giúp nước có thể dùng
trị dân, ở riêng một mình có thể dùng để tu thân”. Thế
là đạo Phật của Mâu Tử vào những năm 198 được xác định
rõ ràng là một đạo có thể để tu thân, tề gia và trị
quốc, một đường lối để hoạt động chính trị. Có tu
thân đi nữa cũng để nhằm mục đích trị quốc, giúp nước.
Cần ghi nhận là vào lúc đó, Mâu Tử chưa nói tới “bình
thiên hạ”.
Đến
Lục độ tập kinh, không những lý tưởng và mục đích “dân
giàu nước mạnh” (truyện 8, 11, 15 và 53), “đất nước
thái bình” (truyện 10, 15) được khẳng định mạnh mẽ,
mà phương thức để đạt tới lý tưởng ấy cũng được
chỉ ra rõ ràng. Đó là phải “lấy năm giới mười lành
làm quốc chính” (truyện 9), lấy “mười lành làm minh pháp”
(truyện 15), “lấy mười lành làm quốc pháp” (truyện 23),
“thực hiện mười lành làm trị pháp” (truyện 82), lấy
“năm lời dạy làm trị chính” (truyện 91). Và khi “mọi
người giữ mười lành” thì “vua nhân, tôi trung, cha nghĩa,
con hiếu, chồng tín, vợ trinh” (truyện 70).
Thế
là Phật giáo được trình bày như một hệ thống điển huấn,
một hệ thống pháp luật có thể sử dụng để quản lý
đất nước, quản lý xã hội, chứ không phải chỉ như một
hệ thống niềm tin, hệ thống giáo lý. Khi làm vậy, dù không
nói trắng ra, tác giả Lục độ tập kinh chắc chắn có một
mục đích, một ý đồ. Mục đích đó, ý đồ đó là kiên
quyết không để cho hệ thống điển huấn Trung Quốc, hệ
thống pháp luật nhà Hán áp đặt lên dân tộc ta, hạn chế
tới mức tối đa những nọc độc nô dịch do chúng phun ra,
và chuẩn bị cơ sở lý luận cho một hệ thống nhà nước
Việt Nam mới, khi hệ thống nhà nước Hùng Vương đã bị
đánh vỡ và chưa được phục hồi.
Như
vậy, trong những giờ phút đụng độ đầu tiên đầy cam
go khốc liệt này của dân tộc ta với kẻ thù phương Bắc,
Phật giáo đã xuất hiện như một vũ khí sắc bén, có khả
năng tác chiến cao. Và thực tế, đến khoảng những năm 190
hệ thống điển huấn và pháp luật Phật giáo đã tỏ ra
có sức lôi cuốn mạnh mẽ, đến nỗi một thứ sử như Chu
Phù đã “vứt điển huấn của tiền thánh, bỏ pháp luật
của Hán gia”, để chấp nhận nó nhằm cho việc “trợ hóa”,
như Giang biểu truyện đã ghi, mà Bùi Tùng Chi trong Ngô chí
1 tờ 12a9-10 và Lý Hiền trong Hậu Hán thư 60 hạ tờ 20a1-2
đã dẫn ra. Đây là một sự trưởng thành vượt bậc của
không chỉ Phật giáo, mà của nền văn hóa dân tộc ta.
Sự
trưởng thành ấy không chỉ của Phật giáo, bởi vì hệ thống
giới luật Phật giáo, tuy có những tác động xã hội chính
trị nhất định, nhưng đó không phải là chủ yếu. Đối
tượng chủ yếu mà hệ thống giới luật này nhắm tới đầu
tiên và sau cùng, là đời sống của từng cá nhân và quan
hệ của những cá nhân này với xã hội. Cho nên, nói đến
“quốc chính”, “quốc pháp” và muốn “năm giới mười
lành thành quốc chính, quốc pháp” của Cựu tạp thí dụ
kinh rõ ràng phản ảnh một nỗ lực vận dụng lý luận và
tư tưởng Phật giáo thực tiễn vào nền chính trị nước
ta, vào nền văn hóa dân tộc ta, nhằm đáp ứng yêu cầu bức
thiết của sinh hoạt chính trị dân tộc ta vào thời điểm
đó. Nó biểu lộ một cố gắng tổng hợp hệ thống đức
lý của Phật giáo với tinh hoa văn hóa Hùng Vương và thực
tiễn chính trị nước ta, lúc Cựu tạp thí dụ kinh ra đời.
Nhưng
Cựu tạp thí dụ kinh vẫn là một bản kinh Phật giáo. Cho
nên, những gửi gắm chính trị vừa nêu không đánh mất được
quan tâm giáo lý của nó, mà nổi bật nhất là các chủ đề
tham dục, bố thí, nghiệp quả và giác ngộ. Tham dục là lòng
ham muốn có thể do “mùi thơm của vài ba hạt cơm” đối
với môt chú tiểu trong truyện 6, có thể do quan hệ nam nữ
trong truyện 20 đối với người nữ, hay truyện 21, đối với
người nam. Một khi đã lầm lạc, lòng ham muốn ấy nhất
định dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng tai hại đau thương.
Vì thế phải làm chủ lòng ham muốn, đừng để bị lầm
lạc. Nói như vị thầy của chú tiểu, “phải giữ lòng đúng
đắn, đừng để dao động”. Dao động thì dễ sa ngã.
Bên
cạnh lòng ham muốn cho chính mình là lòng nghĩ tới người
khác, lòng vị tha, muốn giúp đỡ cúng dường những người
khác. Một loạt truyện gồm những số 3, 6, 7, 9, 12, 14, 15,
32, 42 v.v … trình bày những khía cạnh khác nhau của sự biểu
lộ lòng vị tha đó, từ việc cúng dường thức ăn cho sa
môn Phạm chí (truyện 3) đến việc cho chó ăn vẫn tiếc (truyện
15), việc đem “quả ngọt” trị bệnh cho người đau (truyện
9) v.v… Chúng mô tả những dạng thức tâm lý phức tạp liên
hệ đến lòng ham muốn của cải, trở ngại số một trên
con đường đi đến giác ngộ của những người Phật giáo.
Sắc đẹp, danh vọng, ăn và ngủ phải đứng sau lòng ham muốn
số một ấy. Và bố thí là một phương thuốc đối trị
hữu hiệu trên đường dẫn đến giác ngộ.
Dẫu
thế phải công bằng mà nói, quá trình giác ngộ Phật giáo
không đòi hỏi nhất thiết phải vượt qua một quá trình
trị liệu lâu dài, tập hợp được nhiều công đức, làm
được nhiều việc thiện. Chỉ cần nghe tiếng va chạm của
chiếc vòng tay người con gái giặt áo quần bên sông, người
ta cũng có thể giác ngộ (truyện 28). Hay buổi sáng nhìn vườn
nho đầy trái, hồ sen đầy hoa, buổi chiều có kẻ đến bẻ
hái sạch, người ta cũng giác ngộ. Thậm chí do ngộ nhận
mà vẫn giác ngộ, như trường hợp hai vợ chồng của truyện
9b. Lạ lùng hơn là ba anh say rượu vẫn được Phật dự kiến
sẽ giác ngộ (truyện 8a). Thậm chí một anh thấy chùa có
chiếc vạc bằng vàng muốn ăn cắp, bèn vào tu ở chùa với
mục đích đó. Vậy mà, nhờ nghe thầy giảng, bèn lại giác
ngộ (truyện 36). Mầu nhiệm và dị thường không kém là việc
con chó nằm dưới giường nghe chủ nó là một sa môn tụng
kinh, thoát được kiếp chó, làm một người con gái và cuối
cùng cũng giác ngộ (truyện 8b).
Con
đường giác ngộ của Phật giáo do thế muôn hình muôn trạng,
không nhất thiết có một giới hạn nhất định nào. Có người
rất nhanh chóng, trong sát na nghe tiếng vòng va chạm là giác
ngộ. Nhưng có người phải trải qua một quá trình đấu tranh
gian khổ chống lại những thói hư tật xấu của bản thân
mình như Y Ly Sa của truyện 15. Cuộc tranh cãi đốn tiệm về
sau trong thiền giới, bao gồm cả thiền của Trí Khải lẫn
thiền của Bồ Đề Đạt Mạ tại Trung Quốc đã có giải
pháp trong Cựu tạp thí dụ kinh, dù trên thực tế nó chưa
sử dụng tới những cặp từ chuyên môn đó. Giải pháp ấy
nằm trong việc thừa nhận tính đa dạng của quá trình giác
ngộ. Nói như truyện 36, “mỗi một giác ngộ có nguyên nhân
của nó” (giác ngộ các hữu nhân). Vì thế, trong lịch sử
Phật giáo thiền tông nước ta đã không xảy ra cuộc đấu
tranh đốn tiệm dai dẳng như đã thấy ở Trung Quốc.
Quá
trình giác ngộ đa dạng, cho nên mức độ giác ngộ có khác
nhau. Chỉ có một giác ngộ trọn vẹn, đó là sự giác ngộ
của Phật. Đây hẳn là quan điểm của Cựu tạp thí dụ
kinh, bởi vì bảy truyện cuối cùng của nó là để “bẻ
gãy la hán”. Gọi “bẻ gãy la hán” thực chất nhằm chứng
minh quả vị la hán chưa phải là quả vị tuyệt đối của
sự giác ngộ hoàn toàn. Bắt đầu với truyện 55, nó đánh
giá trí tuệ của A la hán Xá Lợi Phất như “sắt đồng
chì thiếc”, khi so với “vàng ròng” của trí tuệ đức
Phật. Tiếp đến, truyện 56 đánh giá thần thông của Mục
Kiền Liên với câu: “Thế Tôn nói ta thần thông số một,
thế vẫn chưa đáng nói … Ai phát tâm nên có chí như Phật,
chứ đừng bắt chước ta, mà thành thứ giống hư”.
Truyện
57 kể chuyện một vạn la hán thấy rồng Bạt Kỳ bạo ngược,
muốn đi cứu nó. Không những không cứu được, mà còn suýt
bị nó chế ngự, nếu không có sự can thiệp của đức Phật.
Cuối cùng, đức Phật kết luận: “Một vạn la hán đó muốn
cứu các tội của rồng, nhưng sức không gánh nổi”...Truyện
58 kể có một nước “nhân dân giàu có …, nhưng tính hạnh
ngang ngược, hung bạo, khó dạy”. Đức Phật bèn gửi Mục
Kiền Liên, Xá Lợi Phất, rồi Ca Diếp, ba A la hán đều thất
bại. Cuối cùng đức Phật sai Bồ tát Văn Thù Sư Lợi và
thành công. “Năm trăm la hán gục xuống đất, rơi lệ, nói:
Oai thần Bồ tát dạy dỗ còn như vậy, huống nữa là đức
Như Lai có thể kể hết sao được? Chúng ta là giống hư không
ích lợi cho mọi người”.
Quan
điểm la hán là một thứ “bại chủng”, truyện 59 nhấn
mạnh bằng hình ảnh đức Phật rơi lệ khi thấy các đệ
tử “không thể kể xiết” lại hướng đến quả vị A
la hán. Truyện 60 ghi nhận phước báo to lớn của việc cúng
dường dấu chân Phật, trong khi truyện 61 kể chuyện một
thiên thần xuống đầu thai, mà Xá Lợi Phất và Mục Kiền
Liên không biết. Tất cả những nhận định này về quả
vị A la hán, từ việc đánh giá nó là một thứ giống hư
cho đến tính giới hạn và bất lực của quả vị này trước
một số những công việc phải thực hiện cho ta thấy quan
điểm Phật giáo Việt Nam đã phê bình gay gắt lý tưởng
và phẩm chất A la hán, mà trong các kinh điển thuộc Nikaya
và A hàm được đánh giá rất cao. Điều này có nghĩa khi
Phật giáo mới truyền vào nước ta lý tưởng Bồ tát chắc
chắn đã được đề cao và truyền bá rộng rãi, cho nên mới
dẫn đến tình trạng có sự hạ thấp và phê phán gay gắt
như thế. Đây là sự tình ta cần chú ý, khi nghiên cứu lịch
sử Phật giáo cũng như tư tưởng dân tộc ta vào những thế
kỷ đầu sau dương lịch.
Điểm
đáng lưu ý hơn nữa là Cựu tạp thí dụ kinh với truyện
60 là văn bản đầu tiên hiện biết nhắc tới danh hiệu đức
Phật A Di Đà trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Đây cũng
là một trong những nguồn tư liệu bằng minh văn đầu tiên
nhắc tới tên đức Phật này. Cựu tạp thí dụ kinh do thế
trở thành một văn bản quan yếu cho việc nghiên cứu quá
trình hình thành tín ngưỡng A Di Đà không chỉ ở nước ta,
mà còn trên thế giới. Đối với nước ta, tín ngưỡng này
từ đó xuất hiện khá sớm và đến khoảng năm 450 đã chiếm
lĩnh được một vị thế trọng yếu ở trung tâm Tiên Sơn,
để cho Đàm Hoằng từ Trung Quốc đến tu học.
Toàn
bộ bảy truyện cuối của Cựu tạp thí dụ kinh, như vậy,
phê phán quả vị la hán là một “giống hư” (bại chủng),
mạnh mẽ ca ngợi lý tưởng Bồ tát, như Lục độ tập kinh
đã làm, đó là “quên mình cứu người”, dù có chịu bao
gian khó. Quan điểm Phật giáo của Cựu tạp thí dụ kinh do
thế cực kỳ rõ ràng. Nó đứng hẳn về hệ tư tưởng đại
thừa, tiếp thu và quảng bá hệ tư tưởng này. Thực tế,
quan niệm “mười lành” như một hệ giới luật, để cho
Lục độ tập kinh tuyên bố “lấy mười lành làm quốc pháp”
(truyện 23) là một nét đặc trưng của tư tưởng giới luật
nền văn học bát nhã[6], mà Khương Tăng Hội có tham gia phiên
dịch qua bản Ngô phẩm.
Điểm
đáng tò mò là bảy truyện trên được gom lại dưới tên
Chiết la hán thí dụ sao. Thế phải chăng tự nguyên thủy
chúng là một bộ phận lưu hành bên ngoài Cựu tạp thí dụ
kinh và có tên Chiết la hán thí dụ sao, để sau đó được
một tác gia nào đó thu vào Cựu tạp thí dụ kinh? Trong tình
hình tư liệu hiện còn, ta chưa thể có một câu trả lời
dứt khoát. Tuy vậy, bảy truyện vừa tóm tắt trên rõ ràng
phản ảnh một quan điểm nhất quán về tính ưu việt của
lý tưởng Bồ tát và phê phán nặng nề quả vị la hán.
Điều
này hiển nhiên ám chỉ ít nhiều về một cuộc đấu tranh
nội bộ trong lịch sử Phật giáo nước ta trong những thế
kỷ đầu liên quan đến lý tưởng Bồ tát. Chiết la hán thí
dụ sao do thế có thể từng được lưu hành độc lập bên
ngoài Cựu tạp thí dụ kinh, trước khi được gộp vào.
Ngoài
những truyện thuyết giảng mang tính giáo lý Phật giáo trên,
Cựu tạp thí dụ kinh còn chứa đựng một số truyện, mà
thông điệp gửi gắm không nhất thiết có tính Phật giáo
hay chỉ duy nhất có tính Phật giáo. Chẳng hạn, các truyện
từ số 17 đến 23 và 25, 26, 39. Các truyện này, có truyện
có thể dùng để minh họa cho giáo lý tham dục Phật giáo,
nhưng cũng có thể coi như một loại truyện cảnh giác về
mưu mẹo đàn bà hay đàn ông. Song cũng có truyện có lời
khuyên mang tính phổ quát. Thí dụ, truyện 19 nói đến việc
“học thì nên lấy ý mà suy”. Thậm chí có truyện có ý
nghĩa rất mơ hồ, cụ thể là truyện 26.
Truyện
này tự nguyên thủy có thể phản ảnh một phong tục nào
đó mà ngày nay đã biến mất, nên những tình tiết bên trong
truyện không có gì có vẻ hấp dẫn, nếu không nói là nhạt
nhẽo. Cũng có thể cốt truyện bị đơn giản hóa quá mức,
chỉ còn lại bộ sườn, do thế trông có vẻ khẳng khiu, khắc
khổ. Điểm lôi cuốn là lời bình luận của vị thầy của
Khương Tăng Hội, trong ấy ông dẫn ý kiến của những người
khác. Điều ấy chứng tỏ truyện 26 đã lưu hành rộng rãi
và thu hút sự chú ý của nhiều người, trước khi ông đem
giảng cho Hội và đưa ra nhận xét của riêng ông. Đây là
một chứng cớ khác xác định không những Cựu tạp thí dụ
kinh phải lưu hành trước thời Khương Tăng Hội, mà còn phải
lưu hành dưới một bản kinh tiếng Việt, bởi vì chỉ khi
lưu hành dưới dạng bản kinh tiếng Việt, nó mới được
bàn cãi nhiều và sau đó mới được Khương Tăng Hội dịch
ra tiếng Trung Quốc. Chứ nếu nó lưu hành dưới dạng bản
tiếng Phạn hay Pàli, tất nhiên không thể có việc nhiều
người tham kiến. Còn nếu lưu hành bằng tiếng Trung Quốc
thì không có việc Khương Tăng Hội dịch ra tiếng Trung Quốc
một lần nữa làm gì.
Trên
đây là một tóm tắt sơ bộ những nét chính của nội dung
Cựu tạp thí dụ kinh. Nó hiển nhiên là không đầy đủ,
nhưng cũng đủ để cho ta một ý niệm về các quan điểm
phát biểu trong bản kinh đó. Điểm lôi cuốn đối với chúng
ta là Cựu tạp thí dụ kinh cùng với Lục độ tập kinh, sẽ
giúp định vị lại, nếu không phải là thời điểm ra đời
thì cũng là thời điểm lưu hành của một số tác phẩm văn
học dân tộc, thường được xếp vào loại “truyện cổ
tích”, mà cho đến nay chưa được nghiên cứu một cách dứt
khoát và nghiêm túc.
V.
CỰU TẠP THÍ DỤ KINH VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Trong
lịch sử văn học dân tộc ta có một mảng thường được
gọi là nền văn học dân gian bao gồm các truyện thần thoại,
cổ tích, tục ngữ, ca dao, mà về mặt lịch sử cho tới nay
chưa được định vị thời điểm ra đời một cách chính
xác. Lý do, theo cách nghĩ của một số người, nằm ở chỗ
nó là nền văn học truyền khẩu do dân gian truyền miệng
cho nhau đời này qua đời khác và không biết ai là tác giả.
Vấn đề xác định niên đại từng tác phẩm hay tiểu phẩm
của nó do thế tỏ ra cực kỳ khó khăn. Cho nên, đến nay
vẫn chưa có một kết luận xác định một cách có căn cứ
thời điểm ra đời hay lưu hành của một số tác phẩm của
nó, đặc biệt những thời điểm xa xưa lên tới một vài
nghìn năm, để làm cột mốc cho việc viết lại lịch sử
văn học dân tộc.
Vấn
đề này, Cựu tạp thí dụ kinh cùng với Lục độ tập kinh
giúp ta giải quyết một phần nào trong số 200 truyện do Nguyễn
Đổng Chi thu thập lại trong Kho tàng truyện cổ tích Việt
Nam[7] hiện có 4 truyện có thể truy một phần hay toàn bộ
cốt truyện về Cựu tạp thí dụ kinh. Đó là các truyện
1, 15, 60 và 142. Truyện 1 Sự tích dưa hấu thực chất là một
thuyết giảng về giáo lý nhân quả “ở hiền gặp lành”
của Phật giáo dân gian. Nó gồm hai đoạn. Đoạn 1 kể An
Tiêm gốc là một nô tỳ, được lấy con gái nuôi của vua
Hùng, ăn mặc sung sướng, của cải giàu có. Có người khen,
Tiêm nói đó là “vật tiền thân” của Tiêm. Vua Hùng nổi
giận, đày Tiêm ra đảo. Đoạn 2 kể Tiêm ở đảo, nhờ chim
đem hạt dưa hấu đến, trở nên giàu có và được gọi về.
Tóm
tắt như thế, rõ ràng cốt lõi truyện An Tiêm đã xuất hiện
trong truyện 7 của Cựu tạp thí dụ kinh với những cải biên
tình tiết. Thứ nhất, cũng hai nhân vật là con gái (nuôi)
vua và chàng rể nghèo khó (bên nợ, bên ăn xin), nhưng truyện
An Tiêm thì cho chàng rể nói, còn Cựu tạp thí dụ kinh thì
để con gái Nguyệt Nữ nói. Thứ hai, vì nói “mọi của cải
là vật tiền thân”, là “tự nhiên” và bị đuổi đi,
An Tiêm trở nên giàu có nhờ dưa hấu, còn vợ chồng Nguyệt
Nữ lại làm vua. Hai cải biên tình tiết vừa nêu tuy thế
vẫn che không khuất mỗi cốt truyện chính, mà cả hai cùng
chia xẻ. Do vậy, truyện An Tiêm là một biến dạng của truyện
7 Cựu tạp thí dụ kinh.
Truyện
15 Sự tích con dã tràng cũng thế, khi so với truyện 21 của
Cựu tạp thí dụ kinh. Truyện 15 kể Dã Tràng thấy một cặp
vợ chồng rắn. Khi vợ thay vỏ, chồng săn sóc che chở hết
mực. Đến lúc chồng thay, vợ lại dẫn tình địch về giết
chồng. Dã Tràng giận, giương cung bắn tên tình địch, không
may, tên trúng cô vợ. Chồng thề trả thù, tìm đến ở trên
máng nhà Dã Tràng, nhờ thế biết sự tình, bèn trả ơn bằng
cách nhả cho Dã Tràng một viên ngọc mà nếu mang theo mình
thì hiểu được tiếng chim muông. Một hôm, quạ bảo ông
có thịt dê trên núi, ông đi lấy một ít và mách cho xóm
giềng. Họ lấy hết dê. Quạ tức, trả thù, cắm mũi tên
có tên ông vào một xác trôi sông. Ông bị bắt, đang ở ngục,
ông nghe sẻ bảo nước sắp bị tấn công, ông báo quan và
được tha. Trên đường về, nhờ cứu ngỗng do bạn bắn
chết, ngỗng đền ơn ông một viên ngọc đi được vào nước.
Ông đi thăm Long vương. Sau vợ trộm hai viên ngọc để đi
làm hoàng hậu.
Truyện
21 kể con gái Long vương đi chơi, bị đám chăn trâu đánh,
vua người can thiệp, được tha, lại vu vua người đánh. Long
vương đền ơn, làm cho vua người hiểu tiếng chim muông. Vua
nghe ruồi đực cái bảo nhau rồi cười. Bà vợ đòi biết
lý do, nếu không nói, bà tự sát. Long vương hóa bầy dê dạy
vua. Vua bèn bảo bà chết, tôi còn những cung nữ khác.
Một
lần nữa, rõ ràng cốt truyện 21 đã được vay mượn và
hoán vị để có truyện Dã Tràng với những sắc thái và
thêm thắt địa phương. Truyện 60 cũng vậy. Nó là một mở
rộng của truyện 24 trong Cựu tạp thí dụ kinh. Truyện 24
chỉ kể ba người đi đường thấy một đống vàng, cùng
lấy. Một người được cử đi mua cơm, muốn chiếm hết
vàng, bèn trộn thuốc độc vào. Hai người còn lại cũng không
muốn chia, nên người kia mới đem cơm về, liền giết anh
ta, rồi ăn cơm và ngã lăn ra chết.
Truyện
60 mở rộng ra, đưa thêm người nghèo khổ mò cua được vàng.
Tên trọc phú chiếm lấy, rồi quan huyện, lái buôn. Cuối
cùng, bốn tên cướp giết lái buôn, lấy vàng và bốn tên
đều chết do giết nhau bằng bỏ thuốc vào rượu và dùng
dao đâm. Thế nhưng chưa hết, truyện còn xuất hiện một
khách thương lấy số vàng vô chủ đó, đi buôn bằng thuyền.
Bị bão, thuyền chìm, mất sạch của cải. Khách thương lại
về tay không.
Truyện
142 Hai con cò và rùa của kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
và truyện 39 của Cựu tạp thí dụ kinh về cốt lõi thống
nhất với nhau, tuy về tình tiết có một vài thêm bớt. Thứ
nhất, truyện 142 cho Rùa là đầu thai của một người đàn
bà lắm miệng, một tình tiết không có trong truyện 39. Thứ
hai, Cò phải thuyết phục Rùa đi khỏi ao, trong khi truyện
39 kể Rùa gặp khô hạn, xin Cò giúp mình đi chỗ khác. Thứ
ba, truyện 142 cho Cò bay qua quán nước và chợ, người ta bàn
tán, Rùa không dẹp được tật “ngoa mồm” của mình, nên
rơi xuống đất và bị ăn thịt. Truyện 39 kể Cò cắp Rùa
bay qua kinh thành, Rùa bèn hỏi, liền rơi và bị bắt làm thịt
ăn.
Qua
phân tích bốn truyện có đối bản trong Cựu tạp thí dụ
kinh, điểm lý thú là có ba truyện của kho tàng truyện cổ
tích Việt Nam có tương đương trong văn học bản sinh Pàli,
đó là các truyện 15, 60 và 142. Do thế, chúng rất có khả
năng rất lớn là đã xuất xứ từ Cựu tạp thí dụ kinh.
Đặc biệt là truyện 60 và 142, dù mở rộng và cải biên
tới đâu, vẫn có cốt truyện hoàn toàn thống nhất với
truyện 24 và 39 của Cựu tạp thí dụ kinh và với các truyện
Vedabhhajàtaka và Kacchapajàtaka của văn học bản sinh Pàli.
Vì vậy chúng cùng với các truyện 25 và 49 của Lục độ
tập kinh có thể nói là các tác phẩm văn học truyện kể
xưa nhất hiện biết của lịch sử văn học dân tộc ta. Thời
điểm lưu hành của chúng từ đó không thể muộn hơn năm
200 sau Tây lịch, nếu không là sớm hơn vào thế kỷ thứ
II, thậm chí thứ nhất sau Tây lịch hay sớm hơn nữa, tức
các thế kỷ trước Tây lịch.
Thế
ai viết chúng? Tất nhiên Khương Tăng Hội không viết chúng.
Ngay cả vị thầy của Hội cũng không tham gia viết chúng,
dẫu một số lời bình của ông đã được Hội ghi lại.
Kể từ ngày Pháp Kinh liệt Chúng kinh mục lục 6 ĐTK 2146 tờ
144b13, Cựu tạp thí dụ kinh vào loại “Tây phương chư thánh
hiền sở soạn tập”, các nhà kinh lục về sau như Ngạn
Tôn trong Chúng kinh mục lục 2 ĐTK 2147 tờ 161b3-25, Tỉnh Thái
trong Chúng kinh mục lục 3 ĐTK 2148 tờ 195c21-196a23, Đạo Tuyên
trong Đại Đường nội điển lục 9 ĐTK 2149 tờ 312a20-b11,
Trí Thăng trong Khai Nguyên thích giáo lục 13 ĐTK 2145 tờ 621c12-623a5
v.v… cũng nhất trí xếp nó vào loại “thánh hiền tập truyền”
hay “thánh hiền truyện ký” hay “thánh hiền soạn tập”,
nhưng không nói đến “phương Tây” nữa.
Điều
này cũng có nghĩa Cựu tạp thí dụ kinh phải do một vị “thánh
hiền soạn tập”. Và vị “thánh hiền” đây phải là một
tác giả Việt Nam, chứ không ai xa lạ, bởi vì hai lý do sau.
Thứ nhất, Cựu tạp thí dụ kinh đã lưu hành bằng tiếng
Việt, thứ hai, nó có những truyện như truyện 19 chẳng hạn
không đặc biệt mang tính thuyết giảng Phật giáo, mà chỉ
có tính ngụ ngôn chung chung. Do vậy, tuy chưa có những bằng
chứng rõ rệt đặc trưng Việt Nam như Lục độ tập kinh
nhưng chúng ta có thể hình dung quá trình hình thành của Cựu
tạp thí dụ kinh tiếng Việt này, trừ bảy truyện cuối cùng
của Chiết la hán thí dụ sao.
Ban
đầu khi Phật giáo mới truyền vào n