MỤC
LỤC
Tựa
Phần
I:
KHƯƠNG
TĂNG HỘI VÀ MỘT SỐ TÁC DỊCH PHẨM
[1]
I. A.Giới thiệu kinh Cựu tạp thí dụ
1.
Truyền bản và tên gọi
2.
Vấn đề niên đại và bản đáy
3.
Vấn đề xuất xứ.
4.
Nội dung Cựu tạp thí dụ kinh
5.
Cựu tạp thí dụ kinh và văn học Việt Nam
6.
Tổng kết
[2]
B. Kinh Cựu tạp thí dụ
[3]
II.A. Giới thiệu Pháp Kính Kinh Tự
1.
Vấn đề truyền bản
2.
Vấn đề niên đại
3.
Vấn đề nội dung tư tưởng
4.
Vấn đề hiệu bản
[4]
B. Tựa Pháp kính kinh
C. Kinh Pháp kính
D. Pháp kính kinh hậu tự
[5]
III.A. Giới thiệu An ban thủ ý kinh chú giải
1.
Vấn đề truyền bản và tên gọi
2.
Vấn đề niên đại
3.
Quá trình hình thành và Mâu Tử
4.
Nội dung tư tưởng
5.
Vấn đề hiệu bản và dịch
[6] B. Tựa An ban thủ ý kinh chú giải
C. An ban thủ ý kinh chú giải
[7]
IV.A. Giới thiệu Tạp thí dụ kinh
1.
Vấn đề truyền bản và tên gọi
2.
Phân tích nội dung
3.
Vấn đề niên đại và ngôn ngữ
B. Tạp thí dụ kinh
Phần
II:
[8]
SÁU LÁ THƯ- LÝ MIỄU, ĐẠO CAO VÀ PHÁP MINH
[9]
I. Nguồn gốc Việt Nam về mặt điển cố lịch sử
II.
Nguồn gốc Việt Nam về mặt điển cố thư tịch
[10]
III. Về tác giả và soạn niên của Sáu lá thư
1.
Về Đạo Cao
2. Về Pháp Minh
3. Về Lý Miễu
[11]
IV. Huệ Lâm và lý do ra đời của Sáu lá thư
[12]
V. Niên đại của Đạo Cao, Pháp Minh và Lý Miễu
Về Hiền pháp sư
[13] 2. Nội dung cuộc khủng hoảng
[14] 3. Những đóng góp của Sáu lá
thư
a.
Về nghệ thuật
b.
Về âm nhạc
c.
Về văn học
d.
Về lịch sử Phật giáo
e.
Về lịch sử chính trị
f.
Về lịch sử tư tưởng
[15]
Bản dịch Sáu lá thư
[16]
Nguyên bản Hán Văn
Tựa
Tổng
tập Văn học Phật giáo Việt Nam 2 bao gồm các tác dịch phẩm
còn lại của Khương Tăng Hội cùng sáu lá thư của Lý Miễu
và hai pháp sư Đạo Cao và Pháp Minh. Về những tác dịch phẩm
còn lại của Khương Tăng Hội, thì trong tập 2 này chúng tôi
cho công bố các nghiên cứu và bản dịch của Cựu tạp thí
dụ kinh, Pháp kính kinh tự và An ban thủ ý kinh chú giải.
Đây là những tác phẩm hiện được bảo lưu trong các truyền
bản khác nhau, mà đầu thế kỷ XX Takakusu Junjiro đã cho khảo
dị và in lại trong bộ Đại Chính tân tu đại tạng kinh (viết
tắt ĐTK) vào những năm 1915-1925 của triều vua Đại Chính
(Taisho) ở Nhật Bản. Sáu lá thư của Lý Miễu, Đạo Cao và
Pháp Minh cũng được xuất bản trong bản in ấy. Chúng tôi
đã sử dụng bản in vừa nói cho việc nghiên cứu phiên dịch
các tác dịch phẩm vừa nêu.
Trong
Tổng tập 2 này, để hiểu Pháp kính kinh tự của Khương
Tăng Hội, chúng tôi cho dịch luôn bản Pháp kính kinh của
Kỵ đô úy An Huyền. Đây là một trong những bản kinh xưa
nhất của nền dịch thuật Phật giáo Trung Quốc, nên đầy
dẫy những văn cú khó khăn của giai đoạn cổ dịch. Vì thế
trong khi dịch, chúng tôi có tham khảo bản dịch của Trúc
Pháp Hộ đối với kinh này, biết dưới tên Uất Ca La Việt
vấn Bồ tát hạnh kinh (ĐTK 323).
Tổng
tập 2 này cũng bao gồm phần nghiên cứu và bản dịch kinh
Tạp thí dụ. Đây là một bản kinh, mà các kinh lục Trung
Quốc thường xếp vào loại thất dịch của đời Hán, nghĩa
là một bản dịch không biết do ai thực hiện. Vì bản thân
bản kinh có chứa đựng một số cấu trúc ngôn ngữ mang tính
chất ngữ pháp tiếng Việt, gần gũi với văn phong của Khương
Tăng Hội, nên để cung cấp tư liệu cho việc nghiên cứu
ngôn ngữ và đời sống văn hóa Việt Nam, chúng tôi cho đưa
vào phần phụ lục các tác dịch phẩm của Khương Tăng Hội.
Giống
như Tổng tập 1, Tổng tập 2 này cũng sẽ có phần phụ bản
chữ Hán, nhằm cung cấp cho người đọc những tư liệu tham
khảo và nghiên cứu khi cần thiết.
Vạn
Hạnh
Tết
Nguyên đán năm Tân Tỵ (2001)
Lê
Mạnh Thát