THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 
 
 
c
TỔNG TẬP VĂN HỌC PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Lê Mạnh Thát
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam 
716 Nguyễn Kiệm, Q. Phú Nhuận, Sài Gòn 
TẬP I
TẬP II
TẬP III
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
PHỤ LỤC 3
 NGUYÊN BẢN HÁN VĂN LÝ HOẶC LUẬN
 
PHỤ LỤC 4
 NGUYÊN BẢN HÁN VĂN LỤC ĐỘ TẬP KINH
 

[1][1] Lê Mạnh Thát, Phật giáo truyền vào nước ta từ lúc nào? Tư tưởng 5-6 (1973) 105-117.

[2][2] Trần Văn Giáp, Le Bouddhisme en Annam dès Origines Jusqu'au XIIIe Siècle. BEFEO XXXII (1932).

[3][3] Mật Thể, Việt Nam Phật giáo sử lược, Hà Nội: Tân Việt, 1941.

[4][4] Hồ Nguyên Thụy, Thiếu thất sơn phòng bút tòng 32 (Tứ bộ chính ngụy hạ), Quảng Nhã thư cục.

[5][5] Tăng Hựu, Xuất tam tạng ký tập 12 ĐTK 2145 tờ 82c29-83a1. Theo Pháp luận mục do Tăng Hựu chép lại trong Xuất tam  tạng ký tập 12, thì Pháp luận gồm cả thảy 16 tập là: 1. Pháp tính, 2. Giác tính, 3. Bát nhã, 4. Pháp thân, 5. Giải thoát, 6. Giáo môn, 7. Giới tạng, 8. Định tạng, 9. Huệ tạng, 10.Tập hạnh, 11. Nghiệp báo, 12. Sắc tâm, 13. Vật lý, 14. Duyên tự, 15. Tạp luận, 16. Tà luận.

[6][6] Fukui Kojun, Dokyò no kishò teki kenkyu, Tokyo: Shoshiki bunmotsu ryùshokai, 1952, tr. 363.

[7][7] Hồng Di Huyên, Mâu Tử. Bình tân quán tòng thư.

[8][8] Châu Quảng Nghiệp, Ý Lâm chú, Gia khắc bản.

[9][9] Tôn Chí Tổ, Độc thư tỏa lục 6, Gia khắc bản.

[10][10] Tôn Di Nhượng, Sửu cảo thuật lâm 6, Gia khắc bản.

[11][11] Lê Mạnh Thát, Thiền uyển tập anh. Tp. Hồ Chí Minh: NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1999, tr. 203.

[12][12] Lương Khải Siêu, Mâu Tử Lý hoặc luận biện ngụy trong Phật giáo chi sơ du nhập của Âm băng thất hợp tập 14 và Lương Nhiệm công cận trước 1. Thượng Hải: Thương vụ ấn thơ quán - 1925 - 1928.

[13][13] Chu Thúc Ca, Lương Nhiệm công Mâu Tử biện ngụy chi thương xác trong Mâu Tử tòng tàn, Bắc Kinh: II-II Tòng thư 1,1931.

[14][14] Fukui Kojun, Dokyò no kishò teki kenkyu, tr. 347 - 353.

[15][15] Tokiwa Daijò, Kanmin guhosetsu no kenkyu, Toyogakuho X (1910) 1-49. Xt. Shina ni okeru Bukkyo to Jukyo Dokyo, Tokyo: 1937, tr. 89-100.

[16][16] Fukui Kojun, Dokyò no hisò teki kenkyu, tr. 332-45.

[17][17] Matsumoto Bunzaro. Boshirihoku no jusakunendai ko, Toyogakuho XII (1942)  1-40. Xt. Yojunishokyo seiritsu nendai ko, Toyogakuho XIV (1944).

[18][18] Sakaino Koyo, Shina Bukkyo shikowa, quyển thượng, Tokyo, 1935, tr. 46.

[19][19] H. Maspéro, Le songe et l'ambassade de l'Empereur Ming, étude critique des sources, BEFEO X (1910) 95-130.

[20][20] Fukui Kojun, Dokyò no kiso teki kenkyu, tr. 369.

[21][21] E.Zurcher, The Buddhist conquest of China, Leiden: E. J. Brill, 1972. tr. 13-15.

[22][22] P. Pelliot, Meou-tseu ou les doutes élevés, traduit et annoté. T'oung Pao XVIII (1918-1919)

[23][23] Chu Thúc Ca, Lương Nhiệm Công Mâu Tử biện ngụy chi thương xác, trong Mâu Tử tòng tàn, Bắc Kinh: II-II Xã tùng thư, 1930.

[24][24] Hồ Thích, Dự Chu Thúc Ca luận Mâu Tử thư, Bắc Bình đồ thơ quán quán san V (1933)  và trong Hồ Thích văn tồn.

[25][25] Dư Gia Tích, Mâu Tử Lý hoặc luận kiểm thảo. Yên kinh học báo XX (1935) 1-23, và trong Dư Gia Tích luận học tạp trước I, Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục, 1963. tr. 109-132.

[26][26] Lê Mạnh Thát, Về một số cấu trúc tiếng Việt cổ trong Lục độ tập kinh, (Cảo bản 1975) và Khương Tăng Hội toàn tập I, Sài gòn: Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1975, tr 150-151.

[27][27] Lê Mạnh Thát, Khương Tăng Hội toàn tập I, Sài  gòn: Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1975, tr. 29-31.

[28][28] Thang Dụng Đồng, Hán Ngụy lưỡng Tấn Nam bắc triều Phật giáo sử, Thượng Hải: Thương Vụ ấn thơ quán. 1937.

[29][29] Lê Mạnh Thát, Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên dân tộc ta, Sài Gòn: Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1972.

[30][30] Lê Mạnh Thát, Khương Tăng Hội toàn tập I, Sài  gòn: Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1975.

[31][31] O. Jansé, Archaeological research in Indochina 1, Cambridge, Mass.: Harvard University Press, 1956.

[32][32] Lê Mạnh Thát, Khương Tăng Hội toàn tập II, Sài Gòn: Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1975.

[33][33] Lê Mạnh Thát, Thiền uyển tập anh, TP. Hồ Chí Minh: NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1999, tr. 203-204.

[34][34] Lê Mạnh Thát, Phật Giáo truyền vào nước ta lúc nào? Tư tưởng 5-6 (1973) 105-117.

[35][35] Matsumoto Bunzaro, Yojunishokyo seiritsu nendaiko, Tohogakuho XIV (1914).

[36][36] Chữ Trức ²È , Bùi Tùng Chi chú thích Ngô chí phiên âm là “tráng lực phản”, nên đọc là Trức, còn Lý Hiền chú thích Hậu Hán thư đọc là "trắc cách phản", tức Trắc. Ở đây chúng tôi đọc Trức theo Bùi Tùng Chi, đôi khi đọc Trắc theo Lý Hiền, chứ không đọc Sạ một cách sai lầm.

[37][37] Tư trị thông giám 6 viết: “Năm Hưng Bình thứ 2 (195) Đào Khiêm lấy Trức Dung làm tướng Hạ Bì”. Đây hẳn là một sai lầm của Tư Mã Quang, vì năm 193 đã đánh vào huyện Phó Dương của Bành Thành, nên Dung đã rút quân qua Quảng Lăng.

[38][38] Chúng tôi đồng ý với cách đọc tên Can Cát của Fukui. Xem Fukui Kojun, Dokyò no kiso teki kenkyu, tr. 63.

[39][39] Chúng tôi đồng ý cách đọc chữ Hàm ¨ç  như một viết lộn chữ tháp    của Fukui và dịch là "gậy nhỏ". Xem Fukui Kojun, Dokyo no kiso teki kenkyu, tr. 65.

[40][40] Fukui Kojun, Dokyo no kiso teki kenkyu, tr. 375-376.

[41][41] Chớ không phải Sỹ Nhiếp, như có người đã hiểu.

[42][42] Fukui Kojun, Dokyo no kiso teki kenkyu, tr. 476.

[43][43] Hồ Thích, Dự Chu Thúc Ca luận Mâu Tử thơ, Bắc Bình đồ thư quán, quán san V.

[44][44] Fukui Kojun, Dokyo no kiso teki kenkyu, tr. 391-395.

[45][45] Lê Mạnh Thát, Khương Tăng Hội toàn tập II, Sàigòn: Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1975.

[46][46] Vương Quốc Duy, Hán Ngụy bác sỹ khảo, trong Quan đường tập lâm 4, Di thơ bản.

[47][47] Fukui Kojun, Dokyò no kiso teki kenkyu, Tokyo: Shoshiki bunmotsu ryushokai 1952. tr. 409.

[48][48] Dật văn của Lý hoặc luận có cả thảy 15 tác giả và 16 nguồn, đó là: 1. Thế thuyết tân ngữ, 2. Tử sao của Dữu Trọng Dung, 3. Ngọc chúc bảo điển của Đỗ Đài Khanh, 4. Phá tà luận của Pháp Lâm, 5. Biện chính luận của Pháp Lâm, 6. Tập cổ kim Phật đạo luận hành và Quảng Hoằng Minh tập của Đạo Tuyên, 7. Văn tuyển chú của Lý Thiện, 8. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết của Trạm Nhiên. 9. Lịch đại pháp bảo ký. 10. Bắc sơn lục của Thần Thanh, 11, Thái bình ngự lãm của Lý Phưởng, 12, Quảng vận của Trần Bành Niên, 13. Bắc sơn lục tùy hàm của Đức Khuê, 14. Tam giáo bình tâm luận của Lưu Mật, 15. Chiết nghi luận của Tử Thành và 16. Biện ngụy lục của Tường Mại.

[49][49] Chu Thúc Ca, Mâu Tử tòng tân, Bắc Bình: II - II Xã tòng thư 1.

[50][50] Dư Gia Tích, Mâu Tử Lý hoặc luận kiểm thảo, trong Dư Gia Tích luận học cận trước I, Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục, 1963 tr. 109-132.

[51][51] Giáp bản: Thông nhân.

[52][52] Gb: Năng phi

[53][53] Gb: Chỉ

[54][54] Gb: Không

[55][55] Gb: Chi

[56][56] Gb:  kỳ

[57][57] Gb: Chư châu.

[58][58] Chiết nghi luận có nhiều đoạn văn cú thống nhất với Mâu Tử Lý hoặc luận. Nhưng đoạn vừa trích có lẽ vì quá dài nên Tử Thành lại dẫn tên Mâu Tử. Điểm lôi cuốn là ở quyển 5 tờ 816c22-25, Tử Thành lại cho dẫn Mâu Tử và viết: “Mâu Tử nói: Thanh tịnh pháp hạnh kinh nói: Người nước Chấn Đán khó dạy, nên trước sai ba thánh đến giáo hóa, Bồ tát Đại Ca Diếp gọi là Lão Tử, Bồ tát Tịnh Quang Đồng Tử gọi là Trọng Ni, Bồ tát Nho Đồng gọi là Nhan Hồi”. Rồi chua ở dưới: “Văn xuất từ Phá tà luận (...) quyển thượng”. Kiểm Phá tà luận quyển thượng ĐTK 2109 tờ 478c7 và 9-11 có ghi: “Tử thơ Mâu Tử 2 quyển thạnh luận Phật pháp (...) Thanh tịnh pháp hạnh kinh nói: Phật sai ba đệ tử đến Chấn Đán giáo hóa. Bồ tát Nho Đồng, kia gọi Khổng Khâu, Bồ tát Quang Tịnh kia gọi Nhan Hồi, Ma Ha Ca Diếp kia gọi Lão Tử”. Thì rõ ràng Mâu Tử không dính líu gì đến chuyện kinh Thanh tịnh pháp hạnh cả về việc ba đệ tử Phật thành Khổng Tử, Nhan Hồi và Lão Tử. Tuy nhiên, vì Bác di hạ luận của Huệ Thông trong Hoằng Minh tập 7 ĐTK 2102 tờ 45c9-10 có nhắc đến ba đệ tử ấy với câu: “Cho nên kinh  nói: Ma Ha Ca Diếp, kia gọi Lão Tử, Quang Tịnh Đồng Tử, kia tên Trọng Ni”. và Bác di hạ luận lại có nhiều đoạn văn cú đồng nhất với Mâu Tử, như Tokiwa Daijo đã nhận ra, cụ thể là những đoạn ở tờ 46a17-20, 46b7-10, 46b11- 12 và 46b23-c6, nên có khả năng Mâu Tử ít nhiều dính líu chăng?

[59][59] Lê Mạnh Thát, Khương Tăng Hội toàn tập I. Saigon: Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1975.

[60][60] Lê Mạnh Thát, Thử nghiên cứu bài Việt ca, (Cảo bản 1970). Xt, Lê Mạnh Thát, Vài tư liệu mới cho việc nghiên cứu lịch sử âm nhạc Việt Nam giai đoạn trước năm 939. I, Saigon: Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1970 tr. 42-52.

[61][61] Lê Mạnh Thát, Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên dân tộc ta, Saigon: Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1972.

[62][62] Trần Văn Giáp, Le Bouddhisme en Annam des origines jusqu'au XIII siècle, BEFEO 32 (1932).

[63][63] Thích Mật Thể, Việt Nam Phật giáo sử lược, Hà Nội: Tân Việt, 1941.

[64][64] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận I, Sài Gòn: Lá bối, 1973.

[65][65] Trần Văn Giáp, Le Bouddhisme en Annam dès origines jusqu'au XIIIe siècle, BEFEO XXXII (1932). Thích Mật Thể, Việt Nam Phật giáo sử lược, Hà Nội: Tân Việt, 1941. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận I, Saigon: Lá bối, 1973.

[66][66] Trong câu phần in chữ đậm là phần thêm của Huệ Hạo, không có trong bản của Tăng Hựu. Còn giữa bản Huệ Hạo và Tăng Hựu có một vài chữ sai khác, chúng tôi bỏ qua, không ghi chú ở đây.

[67][67] Chi tiết này, Tăng Hựu chỉ viết: “Đến Tôn Hạo hôn ngược, muốn đốt tháp chùa, quần thần...”

[68][68] Chi tiết này, Tăng Hựu viết: “Hạo sai đem để trước nhà xí. Đến ngày mồng tám tháng tư Hạo đến nhà xí làm dơ tượng, nói: ‘Tắm Phật xong’, trở về cung quần thần cười cho là vui. Chưa tới chiều, bìu dái sưng đau, kêu la không thể chịu nổi”.

[69][69] Câu này nguyên bản của Tăng Hựu trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 16c27 và Huệ Hạo trong Cao tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 326a7 đều viết: "Phật thần đại gia?" Việc để tính từ "đại"  sau chữ "thần", phải chăng xuất phát từ một bản tiểu sử của Khương Tăng Hội do người Việt viết và dịch lại tiếng Trung Quốc?

[70][70] Chi tiết này, Tăng Hựu viết: “Mười ngày bệnh lành, Hạo cho sửa sang chùa Hội ở, gọi là chùa Thiên tử, ra lịnh cho trong cung tôn thất, quần thần, không ai là không phụng thờ”.

[71][71] Xem thêm Lê Mạnh Thát, Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên dân tộc ta, Sài gòn: Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1972.

[72][72] Thang Dụng Đồng,  Hán Ngụy lưỡng Tấn Nam bắc triều Phật giáo sử, I - II, Thượng hải: Thương vụ ấn thư quán, 1936.

[73][73] Nhạc kinh của Nho giáo đã mất khá lâu trước Khương Tăng Hội. Cho nên, nhạc đây không hẳn là của Nho giáo, mà là của đời thường và của Phật giáo. Xuất tam tạng ký tập 12 tờ 92b3 có ghi Khương Tăng Hội truyền Nê hoàn bối ký, còn Cao tăng truyện nói Hội “truyền Nê hoàn bối tiếng réo rắt trầm buồn, làm mẫu mực cho một thời”. Lịch sử âm nhạc Việt Nam và Phật giáo Việt Nam đã có một nhạc sỹ tên tuổi xuất hiện khá sớm. Xem thêm những biện giải ở dưới.

[74][74] Lê Mạnh Thát, Thiền uyển tập anh, TP. Hồ Chính Minh: NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1999.

[75][75] Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Mâu Tử, Sài Gòn: Tu thư Vạn Hạnh, 1982.

[76][76] Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Mâu Tử, Sài Gòn: Tu thư Vạn Hạnh, 1982.

[77][77] Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Mâu Tử, Sài Gòn: Tu thư Vạn Hạnh, 1982.

[78][78] Hoặc từ câu “thị bất minh, thính bất thông, hành bất chính, bất trị ai, quân tử bịnh chi” của Lễ thiên tạp kỷ của Lễ ký chính nghĩa 42 tờ 8b4.

[79][79] Năm minh: năm môn học mà một tu sĩ Phật giáo phải học là: nội minh (học giáo lý Phật giáo), thanh minh (học về các ngôn ngữ), nhân minh (học về luận lý học), y phương minh (học về y dược), công xảo minh (học về khoa học kỷ thuật)

[80][80] Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam I, Huế: NXB Thuận Hóa, 1999, tr. 795-800.

[81][81] Trần Văn Khê, La musique traditionelle Vietmamienne, Paris: Musée Guinet, 1964.

[82][82] Lê Mạnh Thát,  Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên dân tộc ta, Sài Gòn: Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1972, tr. 33-53.

[83][83] Lê Mạnh Thát, Thử nghiên cứu bài Việt ca, (Cảo bản, 1972) và Lịch sử âm nhạc Việt Nam, NXB Tp. Hồ Chí Minh, 2001, tr. 90-135.

[84][84] Lê Mạnh Thát, Vấn đề kế thừa văn hóa dân tộc nơi Nguyễn Trãi, trong Nguyễn Trãi, Tp. Hồ Chí Minh: Viện Khoa học xã hội tại Tp Hồ Chí Minh, 1980, Tr. 249-260.

[85][85] Lê Mạnh Thát, Thử nghiên cứu bài Việt ca, (Cảo bản 1970). Xt Lê Mạnh Thát, Lịch sử âm nhạc Việt Nam, NXB Tp Hồ Chí Minh, 2001, tr. 90-135.

[86][86] Lê Mạnh Thát, Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên dân tộc ta, Saigon: Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1972.

[87][87] Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam I, Huế: NXB Thuận Hóa, 1999, tr. 412-625.

[88][88] Kokuyaku issaikyo 8, Tokyo, 1937; E. Chavannes, Cinq cent contes bouddhiques, Paris: André Maisonoeuvre, 1949.

[89][89] Truyện Hội ở quyển 13 ĐTK 2145 tờ 96a 29-97a 12 nói: “Hội ở chùa Kiến Sơ dịch ra kinh pháp A nan (sic) niệm di kinh, Kính diện vương kinh, Phạm hoàng vương kinh, Đạo phẩm và Lục độ tập kinh…”

[90][90] Thang Dụng Đồng, Hán Ngụy lưỡng Tấn Nam bắc triều Phật giáo sử, Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục, 1963.

[91][91] Thang Dụng Đồng, Hán Ngụy lưỡng Tấn Nam bắc triều Phật giáo sử, Thượng Hải: Thương vụ ấn quán, 1935.

[92][92] Xem Lê Mạnh Thát, Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên dân tộc ta, Sàigòn: Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1972.

[93][93] Vấn đề quan hệ của cấu trúc ngữ pháp và từ vựng Kinh Thi với cấu trúc và ngữ vựng tiếng Việt, chúng tôi bàn ở một chổ khác. Xem chương Vấn đề tiếng Việt thời Hùng Vương, trong Lê Mạnh Thát, Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên dân tộc ta. Sàigòn: Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1972, tr. 254-290.

[94][94] Câu “trung tâm” cũng xuất hiện trong bài Phong phú của Tống ngọc ở Văn tuyển 13 tờ 2b6-8:

            Đôn hỗn uất ấp

            Khu ôn trí thấp

            Trung tâm thảm đát

            Sinh bệnh tao nhiệt

 

[95][95] Phan Nhạc có nhái theo hai câu 

            Hành đạo trì trì, 

            Trung tâm hữu vi

 của Cốc Phong để viết hai câu:

            Thân hữu các ngôn mai

            Trung tâm trường hữu vi

Xem Văn tuyển 20 tờ 22a2-3

[96][96] Thực tế câu này là một tiếp thu câu “trung tâm bất dục” của Dương Hùng (53 tdl-18 sdl) trong Phương ngôn 6 tờ 1a4.

[97][97] Cần chú ý đến số lần này, Kinh thi 300 bài thơ, “trung tâm” xuất hiện 16 lần. Lục độ tập kinh 91 truyện lại có 8 lần. Tỷ lệ như vậy là 16/300 đối với 8/91.

[98][98] Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam I, Huế: NXB Thuận Hóa, 1999, tr. 488-495.

[99][99] Lê Mạnh Thát, Chân Nguyên thiền sư toàn tập II, Tp. Hồ Chí Minh: Tu thư Vạn Hạnh, 1980.

[100][100] Ngô Thì Sỹ, Việt sử tiêu án, Ngô Mạnh Nghinh dịch, Sài gòn: Tự do 1958; Lê Mạnh Thát, Chân Nguyên thiền sư toàn tập I, Tp. Hồ Chí Minh: Tu thư Vạn Hạnh, 1980, tr. 2.

[101][101] P. Pelliot, Meou tseu ou les doutes élevés, T'oung pao XVIII (1918 - 1919).

[102][102] Hồ Thích, Hồ Thích văn tồn, Đài Bắc: Thương vụ ấn quán, 1962.

[103][103] Fukui Kojun, Dòkyò no kiso teki kenkyu, Tokyo, 1952, tr. 327 – 435.

[104][104] Lê Mạnh Thát, Lịch sử âm nhạc Việt Nam, NXB Tp Hồ Chí Minh, 2001, tr. 90-135. Và Thử nghiên cứu bài Việt ca, (Cảo bản 1970).

[105][105] Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam I, Huế: NXB Thuận Hóa, 1999, tr. 196-205. Xt Nghiên cứu về Mâu Tử, Tu thư Vạn Hạnh, 1982, tr. 37-54.

[106][106] Lê Mạnh Thát, Phật giáo truyền vào nước ta từ  lúc nào? Tư tưởng 7 (1973) 75 - 92 và 8 - 9 (1973) 177-206. Xt Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam I, Huế: NXB Thuận Hóa, 1999, tr. 11-44.

[107][107] Kết luận này thực sự không mới mẻ gì, vì Đàm Thiên vào thế kỷ thứ VI đã nói như thế với Tùy Cao Tổ, mà Thông Biện trích lại, khi trình bày lịch sử Phật giáo Việt Nam cho Thái hậu Linh Nhân Ỷ Lan nhà Lý. Xem Lê Mạnh Thát, Thiền uyển tập anh, NXB Tp Hồ Chí Minh, 1999, tr. 203.

[108][108] Matsumoto Bunzaro, Boshirihoku no jusaka nendaiko, Toyogakuho  XII (1942) 1-40. Xt, Fukui Kojun, Dokyo no kiso teki kenkya, Tokyo: 1958, 410 – 436.

[109][109] Fausboll  Jataka I - VII, Copenhagen: Pàli Text Society, 1910 - 15. Ở đây viết tắt là Jat. Tham khảo thêm Kinh bổn sanh, Thích Minh Châu dịch, Tp. Hồ Chí Minh: Viện Phật học Vạn Hạnh, 1980 - 1982. Viết tắt BS. Số đi sau BS là chỉ số truyện.

[110][110] A. Cuningham, Stùpa of Bharhut, ảnh XXXIII, hình 4.

[111][111] Jataka V. H. Francis dịch, E.B. Cowell in, London: The Cambridge University Press, 1905, tr. 141.

[112][112] A. Cunningham Stùpa of Bharhut, Ảnh XLVIII (2).

[113][113] Avadanasùataka, A. Shastri in, Dharbanga: Mithila Sanskrit Institute, 1962. Viết tắt A.Tây Tạng Đại tạng kinh, Linh Mộc Đại Quật tài đoàn ảnh ấn, Tokyo: Suzuki Daisetsu Zaido,1956-1963. Soạn tập bách duyên kinh ĐTK 200. Viết tắt B. Số đi sau chữ viết tắt là số truyện.

[114][114] Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam chích quái, trong Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san I, Trần Khánh Hạo chủ biên, Đài Loan: Học Sinh thư cục ấn hành, 1986.

[115][115] Ngô Sỹ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư , Nội các quan bản năm 1695, Hà Nội: NXB Khoa học xã hội, 1998.

[116][116] Quốc sử quán, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đài Bắc: Thương vụ quán ảnh ấn, 1960.

[117][117] Lê Mạnh Thát, Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên dân tộc ta, Saigon: Tu thư Vạn Hạnh, 1972.

[118][118] Lê Mạnh Thát, Lịch sử manh động của Nho giáo tại Việt Nam, (Cảo bản 1969) Chính sử Việt Nam, cụ thể là bộ Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục, lại bắt chước Hy để tự nhục mạ mình và dân tộc mình, qua việc đề cao những tên như Tích Quang, Nhâm Diên, ca ngợi chúng đã khai hóa cho dân tộc ta, dạy cho dân tộc ta biết cày cấy, cưới hỏi v.v... Thế thì truyện Triệu Đà đánh nhau với Lữ Hậu vì tranh chấp nông cụ là lưỡi cày sắt và trâu bò nằm ở đâu? Nam phương thảo mộc trạng cũng như Nam Việt chí đều nói đến tiến bộ thủy nông của Việt Nam hơn cả Trung Quốc nằm ở đâu? rồi đến bộ "Việt luật"

[119][119] Ngô Thì Sỹ, Việt sử tiêu án, Ngô Mạnh Nghinh dịch, Sài gòn: 1958.

[120][120] A Dục vương kinh ĐTK 2043. A Dục vương truyện  ĐTK 2042.

[121][121] Ương Quật Ma La kinh ĐTK 120.

[122][122] E. Conzes, The Vajrachedikà Prajnõapàramità-sùtra, Roma: Institute of Oriental Studies, 1960.

[123][123] Đại bát niết bàn kinh ĐTK 374.

[124][124] Lavitavistara, A. Shastri in. Darbhanga: Mithila Sanakrit Institute, 1958. Xt Phổ diệu kinh, ĐTK 196.

[125][125] Lê Mạnh Thát, Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên dân tộc ta, Saigon: Tu thư Vạn Hạnh, 1972.

[126][126] Muốn hiểu thêm những nghĩa khác nhau của chữ “hiếu” từ Lễ ký, Châu lễ, Luận ngữ cho đến Dĩ nhã, Hiếu kinh câu mạng quyết v.v… xem Biện chính luận 7 ĐTK 2110 tờ 542a 23-b 14.

[127][127] Truyện này tương đương với truyện Lạc Long Quân giết rồng trong Lĩnh Nam chích quái. Vấn đề xuất xứ truyện này chưa giải quyết được dứt khoát, nghĩa là ta hiện chưa xác định rõ truyện 70 xuất xứ từ truyện Lạc Long Quân giết rồng hay ngược lại. Trần Thế Pháp đã chép lại truyện 70 lưu hành trong dân gian với những cải biên cần thiết như việc đưa Lạc Long Quân thành nhân vật chính.

[128][128] Lê Mạnh Thát, Toàn Nhật Thiền sư toàn tập I, Tp. Hồ Chí Minh: Viện Phật học Vạn Hạnh, 1979.

[129][129] Lê Mạnh Thát, Vấn đề kế thừa văn hóa dân tộc nơi Nguyễn Trãi, trong Nguyễn Trãi, Tp. Hồ Chí Minh: Viện Khoa học xã hội tại Tp Hồ Chí Minh, 1980, tr. 249-260.

[130][130] Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam I, Huế: NXB Thuận Hóa, 1999, tr. 420.

[131][131] Lê Mạnh Thát, Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên dân tộc ta, Sài Gòn: Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1972.

[132][132] Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam I-V, Hà Nội: NXB Văn Học, 1957.
 
 

TVHS
 
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap