Chương
V
QUYỂN
BẢY
THIỀN
VƯỢT BỜ
74
Thiền
vượt bờ là thế nào? Nghĩa là thẳng lòng, chuyên ý gồm
thâu các lành, mang lấy trong lòng, ý khởi các dơ ác, lấy
thiện tiêu diệt. Thiền có bốn thứ. Hạnh thiền thứ nhất,
bỏ chỗ tham ái, năm việc yêu tà. Mắt thấy sắc đẹp, lòng
dại vì dâm, bỏ tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, miệng nếm
vị, thân ưa tốt. Chí hành đạo ắt phải xa kia. Lại có
năm che: Che tham của, che sân giận, che mê ngủ, che dâm dục,
che nghi hối. Có đạo hay không đạo, có Phật hay không Phật,
có kinh hay không kinh, tâm ý nghĩ nhớ, thì trong sạch không
dơ. Lòng sáng thì thấy chân, chứng được không gì là không
biết. Trời rồng yêu quỉ không thể mê hoặc. Như người
có mười kẻ oán, thoát thân lìa xa, một mình ở núi, không
ai biết được, không còn lo sợ. Người xa tình dục, trong
sạch, lòng tĩnh, ấy gọi là thiền thứ nhất.
Lòng
đạt thiền thứ nhất rồi thì tiến nhắm thiền thứ hai.
Thiền thứ hai như người trốn thù, tuy ở núi sâu, vẫn sợ
thù tìm tới, càng dấu sâu thêm. Hành giả tuy xa mười thù
tình dục, vẫn sợ giặc dục đến hoại chí đạo. Chứng
thiền thứ hai, tình dục hơi xa, không thể bẩn mình. Ở thiền
thứ nhất, thiện ác tranh nhau, lấy thiện trừ ác, ác lui
thiện tiến. Ở thiền thứ hai, lòng vui lắng dừng, không
còn lấy thiện chận trừ ác kia, hai ý hỉ thiện, thảy tự
tiêu diệt, mười ác bặt tăm, ngoài không nhân duyên len vào
tâm nữa. Ví như núi cao, đỉnh nó có suối, không có sông
nào chảy vào, cũng không rồng làm mưa, nước từ trong ra,
nước sạch đầy suối, thiện từ tâm ra, ác không do tai,
mắt, mũi, miệng mà vào. Dằn tâm như vậy, hướng đến thiền
thứ ba.
Ở
thiền thứ ba, giữ ý vững chắc, thiện ác không vào, tâm
yên như núi Tu Di, các thiện không ra việc ngoài, thiện ác
vắng tiêu, không len vào tâm, như hoa sen gốc cành trong nước,
hoa búp chưa nở, bị nước phủ che. Hạnh thiền thứ ba, trong
sạch như hoa, xa lìa các ác, thân ý đều yên. Dằn tâm như
vậy, bèn hướng đến thiền thứ tư.
Ở
đây thiện ác đều bỏ, tâm không nghĩ thiện, cũng không
nhớ ác, trong lòng sáng sạch, như châu lưu ly. Lại như vương
nữ, tự tắm sạch sẽ, thoa mình hương thơm, trong ngoài áo
mới rực rỡ phục trang, da thịt thơm sạch. Bồ tát lòng
ngay, đạt thiền thứ tư. Lũ tà chúng bẩn không thể che lòng,
như tấm lụa sạch, màu gì cũng nhuộm. Lại như thợ gốm,
dồi đất nặn đồ, đất không cát sỏi, nắn gì cũng được.
Lại như thợ bạc, nấu chín vàng ròng, trăm lạ nghìn khéo,
theo lòng mình muốn. Bồ tát lòng sạch, được bốn thiền
kia, theo ý tự do, nhẹ nhàng bay nhảy, đạp nước mà đi,
phân thân tán thế, biến hóa muôn hình, ra vào không hở, còn
mất tự do, rờ mó trời trăng, chấn Động đất trời, trông
suốt nghe khắp, không đâu là không thấy nghe. Lòng sạch thấy
sáng, được nhất thiết trí, chưa có trời đất chúng sinh
đổi thay, mười phương hiện tại, các tâm đã nghĩ, việc
chưa nảy sinh, hồn linh chúng sinh làm trời, làm người, đọa
vào trong đường núi Thái, ngạ quỉ súc sinh, hết phúc thì
chịu tội, hết họa thì được phúc, không chỗ xa nào mà
không đi tới. Hễ được bốn thiền, mà muốn đắc quả
Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán, Bích chi Phật và
trí sáng của các đức Phật Như Lai Chí Chân Bình Đẳng Chính
Giác Vô Thượng thì cầu nó liền được, giống như muôn
vật đều từ đất sinh, từ trí ngũ thông, đến bậc Thế
Tôn, đều do bốn thiền mà thành, giống như chúng sinh làm
gì không nhờ đất, không thể đứng được.
Đức
Thế Tôn lại dạy: "Quần sinh ở đời, chính sứ thiên đế,
tiên thánh, trí tuệ xảo minh, nếu không gặp kinh này, không
đạt được định, bốn bỏ, thì cũng ngu khờ. Đã có trí
tuệ mà lại nhất tâm, tức gần độ đời".
Đây
là thiền vượt bờ của Bồ tát một lòng như vậy.
75
Xưa
có tỳ kheo, ăn xong súc miệng, đi vào núi sâu, ngồi dưới
gốc cây giữa gò mả, chấp tay cúi đầu, một lòng diệt
niệm, trong tâm nội ý trừ bỏ năm che. Năm che diệt rồi,
tâm kia bừng sáng, tăm tối lùi bước, ánh sáng ngự trị.
Bèn nhìn lại thương xót trời người, các loài bò bay máy
cựa, thương họ ngu mê, ôm mãi năm che, ngăn dứt lòng lành
sáng. Trừ bỏ năm che, các lành liền mạnh, giống như kẻ
nghèo vay nợ làm ăn, được lời trả nợ, của thừa sửa
nhà, ngày có lời vào, kẻ ấy lòng vui. Lại như nô tỳ, thoát
làm dân lành, bệnh nặng được hết, họ hàng ngày đông
như tội nặng lao ngục, được xá thoát ra, lại như tìm báu
qua biển, trải bao hiểm nguy, về nhà thấy lại cha mẹ, vui
mừng vô lượng.
Lòng
ôm năm che, như năm điều khổ ấy. Tỳ kheo thấy rõ sự thật,
xa lìa năm che, như người phàm kia thoát năm nạn trên. Năm
che lùi thì trí sáng tiến, các ác thảy tiêu, chí đạo cường
thịnh liền chứng thiền thứ nhất. Từ thiền thứ nhất
đến thiền thứ hai, phàm có ba hạnh. Một là cần lực, hai
là sổ niệm, ba là tư duy. Từ ba hạnh này, chứng thiền thứ
tư. Từ thiền thứ nhất đến thiền thứ hai, từ thiền thứ
hai đến thiền thứ ba, từ thiền thứ ba đến thiền thứ
tư. Thiền thứ tư hơn thiền thứ ba, thiền thứ ba hơn thiền
thứ hai, thiền thứ hai hơn thiền thứ nhất. Ở thiền thứ
nhất, mười ác lui, năm lành tiến. Sao gọi là mười ác?
Mắt thích sắc đẹp, tai thích tiếng hay, mũi thích mùi thơm,
miệng thích vị ngon, thân thích chạm tốt, cộng năm che trên,
gọi là mười ác. Sao gọi năm lành? Một là kế, hai là niệm,
ba là ái, bốn là lạc, năm là nhất tâm, năm lành này ở
bên trong. Đến thiền thứ hai thì không kế, không niệm, dằn
tâm nội quán, thiện hạnh ở trong, không còn do tai, mắt,
mũi, miệng ra vào, nên hai hạnh thiện ác không còn can hệ
nhau, tâm trụ ở trong, chỉ có hoan hỉ. Hạnh thiền thứ ba,
trừ bỏ hoan hỉ, tâm hướng thanh tịnh, lẳng lặng tịch
tịnh. Đức Thế Tôn, Phật, A la hán dạy: "Ai hay diệt dục,
làm sạch lòng mình thì chết mới yên". Thiền thứ tư, tâm
hỷ bỏ đi, nên đắc tịch tịnh, Thiền thứ nhất, tiếng
làm loạn tai. Thiền thứ hai, niệm làm loạn tâm. Thiền thứ
ba, hoan hỉ loạn tâm. Ở thiền thứ tư, tâm bị hơi thở
làm loạn. Thiền thứ nhất, tiếng làm loạn tai ngưng thì
tiến lên thiền thứ hai. Thiền thứ hai, niệm diệt thì tiến
lên thiền thứ ba. Thiền thứ ba, hoan hỉ diệt thì tiến lên
thiền thứ tư. Thiền thứ tư, hơi thở diệt được thì đắc
không định.
Thiền
vượt bờ của Bồ tát một lòng như vậy.
76
Chí
đạo Bồ tát, phàm dùng mấy việc mới khiến trong tịnh,
tâm chuyên nhất, được thiền.
Hoặc
thấy người già, đầu bạc răng rụng, hình thể đổi khác.
Thấy vậy lòng hiểu: "Ta sau cũng thế". Một lòng hiểu như
vậy thì được thiền. Hoặc thấy người bệnh, thân tâm
đau đớn như bị gậy đánh, buồn bã hiểu: "Ta sau cũng thế".
Một lòng hiểu vậy thì được thiền. Hoặc thấy chúng sinh
sau khi chết, hơi thở dứt, khí ấm lìa, hồn đi, thân lạnh,
họ hàng vứt bỏ, quăng xa ngoài đồng, trong khoảng mười
ngày sình trương rã hôi, hoặc bị cầy cáo chim chóc rỉa
nhai, da thịt hóa dòi, dòi lại ăn thây, máu mũ nhơ xì, ràn
rụa khắp đất, xương cốt rã tan, lóng đốt khác chỗ, chân
gót cẳng đùi, xương cùng, xương sống, hông, cánh tay, đầu,
răng, sọ, mỗi thứ tự lìa một ngã. Người học đạo nghĩ:
"Phàm sống ắt có chết, người vật như huyễn, hợp ắt
có tan, hồn đi xác rã, ta há được riêng, không như thế
sao?" Thấy vậy buồn thương. Một lòng hiểu vậy thì được
thiền. Hoặc thấy thây chết đã lâu, xác xương tiêu diệt,
bùn đất thành bụi, tự nghĩ sâu rằng: "Thân ta rồi cũng
như thế". Một lòng hiểu vậy thì được thiền.
Hoặc
vì nghe núi Thái nước sôi lửa cháy độc dữ, đau đớn khốc
liệt, ngạ quỉ đói khát nhọc nhằn nhiều năm, súc sinh khổ
vì mổ xẻ cắt giết, lòng thấy ngạc nhiên. Một lòng hiểu
vậy thì được thiền. Hoặc thấy nghèo, lạnh đói chết,
hay thấy người làm bậy, bị phép vua giết. Người học đạo
nghĩ: "Người ấy gặp nạn do lòng vô đạo. Ta không tinh tấn,
ắt lại như kia." Một lòng hiểu vậy thì được thiền. Nghĩ
sâu nội quán thì dưới bị phân, nước tiểu bức bách, còn
trên nóng lạnh lấn hiếp, biết thân đáng ghét. Một lòng
hiểu vậy thì được thiền. Hoặc thấy năm mất mùa, lúa
thóc không nhiều, dân nghèo làm loạn, lại cùng đánh nhau,
thây chết ngổn ngang, Thấy vậy buồn thương nghĩ: "Ta không
hành đạo, ắt cũng như thế." Một lòng hiểu vậy thì được
thiền. Thấy thịnh có suy, của sang khó giữ, trẻ mạnh lại
già bệnh, mạng sống như ánh chớp. Nhớ thế ngạc nhiên,
một lòng hiểu vậy thì được thiền. Nghĩ Phật vòi vọi,
tướng tốt khó bì, đều do thanh tịnh, đến thành Thế Tôn,
nghĩ thế lòng vui, một lòng hiểu vậy thì được thiền.
Hoặc nhớ kinh nghĩa sâu xa, sa môn cao hạnh, một lòng hiểu
vậy thì được thiền.
Chỉ
thân làm lành, trước sau chứa đức, một lòng nghĩ vậy thì
được thiền. Chỉ ngu mới mong trái Phật pháp sáng, nhọc
mà thêm tội, chư thiên ở đời, giữ giới trì trai, tự làm
lên trời, sống sang vô lượng. Một lòng nghĩ vậy thì được
thiền. Nhận Phật kinh sâu, suy nghĩ kỹ càng, vì người dạy
bảo, trong lòng hoan hỉ. Một lòng nghĩ vậy thì được thiền.
Tưởng nhớ chúng sinh, có thành tức hoại, hoại thì đau khổ,
nghĩ thế buồn thương. Một lòng nghĩ vậy thì được thiền.
Tính khí chúng sinh, không thể tự giữ, xưa nay biến đổi,
người học đạo tự sợ hãi, mạng hết, chết đến, hoặc
đọa đường ác, thấy đời sang vui, thật dối như mộng,
lòng lại tỉnh ngộ. Một lòng nghĩ vậy thì được thiền.
Món ăn vào miệng, nước miếng chảy tràn, ngoài ngon trong
thối, hóa thành phân giải. Nhớ lại đáng chán. Một lòng
nghĩ vậy thì được thiền. Bé trong bụng mẹ, ban đầu như
váng cháo, dần dần lớn lên, hai trăm sáu mươi sáu ngày,
thân thể đều thành, đến nạn khi sinh, yên ít nguy nhiều,
sau khi đã sinh, các bệnh đều tăng, hoặc một, hoặc mười,
hoặc năm mươi, đến một trăm năm, đều phải già chết,
không khỏi nạn đó. Nghĩ mình cũng thế. Một lòng nghĩ vậy
thì được thiền.
Có
còn ắt mất, theo tìm không chỗ, ba cõi đều không, lòng chẳng
tham luyến, thương nhớ chúng sinh, không thấy kinh Phật, tà
dục ngăn lấp, không hiểu vô thường, thề nguyện cứu vớt.
Một lòng nghĩ vậy thì được thiền. Hoặc cao hạnh chí thành
giữ lòng tứ đẳng, thương nuôi chúng sinh, cũng như mẹ hiền
thương giữ con nhỏ. Con nhỏ theo bạn nô đùa, mẹ đem lòng
từ đi tìm, gặp con bụi cát bẩn thân, đói khát kêu khóc.
Thấy con như vậy, thương xót rơi lệ, bồng về tắm rửa,
mặc áo, cho ăn để thân con khỏe lòng vui. Mẹ hiền hoan hỉ
yêu giữ bồi hồi không thả như trước. Người học đạo
từ bi, yêu giúp chúng sinh hơn mẹ hiền kia, dạy người thiên
hạ, các bò bay máy cựa, thờ Phật xem kinh, thân chuộng sa
môn, nhận giữ giới Phật, nhớ mà hành trì, xa lìa ba ác,
lòng nghĩ lành, thân làm lành, miệng nói lành, mài dấy ba
lành, luôn luôn không khiến rơi vào địa ngục núi Thái, ngạ
quỉ, súc sinh, chỗ nghèo khổ hiểm, ở yên nhà phúc vô bờ.
Bỗng sực nhớ ra, sợ ở chỗ phúc mà thành kiêu đãng, buông
lung lòng ác, trở lại ba đường, cũng là cái họa của sang
giàu. Bèn đem vô thường, khổ, không thay đổi mà răn. Khuyên
giữ vô vi, như người mẹ hiền kia lòng giữ gìn con. Suy nghĩ
mười sáu việc. Một lòng nghĩ vậy thì được thiền.
Sao
gọi mười sáu: Hơi thở dài ngắn, liền tự biết. Hơi thở
động thân liền tự biết. Hơi thở nhỏ lớn, liền tự biết.
Hơi thở mau chậm, liền tự biết. Hơi thở dừng đi, liền
tự biết. Hơi thở vui buồn liền tự biết. Tự nghĩ vạn
vật vô thường, hơi thở tự biết, vạn vật quá khứ không
thể đuổi theo, hơi thở tự biết. Lòng không chỗ suy, vứt
bỏ chỗ nghĩ, hơi thở tự biết. Buông bỏ thân mạng hay
không buông bỏ thân mạng, hơi thở tự biết. Người học
đạo nghĩ sâu: Có đó tức được đó, không đó không được
đó. Hễ sống tất có nạn già chết, hồn linh không mất,
liền phải thọ thân. Không sinh thì không già, không già thì
không chết. Một lòng nghĩ vậy thì được thiền. Người
học đạo dùng mắt xem sự sống chết ở đời chỉ quán
12 nhân duyên. Một lòng nghĩ vậy thì được thiền. Người
học đạo lấy năm việc tự quán hình thể. Một là tự quán
mặt mày nhiều lần biến đổi. Hai là khổ vui nhiều lần
thay đổi. Ba là tâm ý nhiều lần biến chuyển. Bốn là thân
thể nhiều lần đổi khác. Năm là thiện ác nhiều lần cải
đổi. Đó gọi là năm việc, có nhiều biến đổi, như dòng
nước chảy trước sau dồn dập. Nghĩ vậy một lòng thì được
thiền.
Người
học đạo nhớ thiền phải thế nào? Mắt thấy người chết
từ đầu đến chân, nghĩ kỹ xem rõ, giữ niệm trong tâm,
đi, ngồi, nằm, đứng, ăn uống mọi việc, thường giữ niệm
ấy trong tâm, để vững chí mình thì được thiền, suy nghĩ
tự tại. Ví như người nấu mấy hộc gạo, muốn biết chín
chưa phải lấy một hạt nắn để xem sao. Nếu một hạt chín
thì biết các hạt kia chín. Chí đạo cũng vậy. Tâm đi về
như dòng nước chảy. Người học đạo nghĩ thẳng một việc,
tâm dừng, ý sạch thì đạt được đạo chân La hán diệt
độ. Ở thiền thứ nhất, muốn đắc quả La hán được không?
Đáp: "Trong ấy có người đươ
c,
có người không được. Làm gì thì được, làm gì thì không
được? Trong thiền thứ nhất, có niệm có ái thì đạo không
thành. Trời đất không thường, hư không khó giữ, hết lòng
bẩn dơ, không niệm tham ái, lòng sạch như vậy, mới đắc
La hán. Từ thứ hai, thứ ba đến thiền thứ tư, giữ tâm
như ở thiền thứ nhất, chí hằng nhớ thiền thứ nhất,
dù chưa đắc La hán, thì khi mệnh chung, cũng có thể đến
được, liền lên cõi trời thứ bảy, thọ mạng một kiếp.
Tại thiền thứ hai mệnh chung lên cõi trời thứ mười một,
thọ mạng hai kiếp. Ở thiền thứ ba mệnh chung, liền lên
cõi trời thứ mười lăm, thọ mạng tám kiếp. Ở thiền thứ
tư mệnh chung liền lên cõi trời thứ mười chín, thọ mạng
mười sáu kiếp. Người học đạo tự xét trong thân dơ xì,
đều là không sạch, tóc, da, đầu lâu, bắp thịt, mắt, tròng,
nước mắt, nước miếng, gân, mạch, thịt, tủy, gan, phổi,
ruột, dạ dày, tim, gan, lá lách, thận, phân, nước tiểu,
mũ máu, tất cả dơ ấy hợp lại mới tạo thành thân người.
Như túi đựng đầy ngũ cốc, có túi chứa nước mắt, xem
xét riêng ra thứ thứ khác biệt. Rõ người như thế, nội
quán thân mình giống số bốn đại, mỗi tự có tên, đều
là chẳng người. Dùng quán vô dục, mới thấy vốn không.
Một lòng nghĩ vậy thì được thiền.
Người
học đạo xét sâu, biết thêm bốn đại: đất, nước, lửa,
gió, tóc, lông, xương, răng, da thịt, ngũ tạng, đó là thuộc
đất. Nước mắt, nước mũi, nước miếng, mũ, máu, mồ hôi,
mỡ, tủy, não, tiểu tiện, đó tức thuộc nước. Ấm lạnh
trong thân, chủ làm tiêu, đó là thuộc lửa. Hơi thở ra vào
tức thuộc gió. Như tên đồ tể giết gia súc, mổ xẻ chia
ra bốn phần, biết rõ ngoắt nghéo. Người học đạo nội
quán, phân biệt bốn đại, đây là đất, kia là nước, lửa,
gió cũng vậy, đều là không người, nghĩ vậy lòng lắng.
Một lòng như vậy thì được thiền. Người học đạo tự
biết hơi thở dài ngắn, mau chậm, lớn nhỏ, đều phân biệt
biết hết. Như người bóc vật, tự biết cạn sâu, nhớ nghĩ
hơi thở như thế. Một lòng nghĩ vậy thì được thiền.
Thiền
vượt bờ của Bồ tát, một lòng như vậy.
77
Thái
tử ra ngoài dạo chơi, vua lệnh trong nước không để các
dơ ở đường vua đi.
Thái
tử ra thành, Thiên đế thứ hai hóa làm người già, đứng
ở trước xe, đầu bạc lưng còng, chống gậy lần bước.
Thái tử hỏi: "Đây là người gì?" Người đánh xe thưa: "Đó
là người già". Hỏi: "Sao gọi là già?". Đáp: "Các căn bốn
đại chín mùi mạng thừa không mấy nữa". Thái tử hỏi:
"Ta sau cũng sẽ già ư?". Đáp:"Từ xưa ai cũng phải già, không
có thánh nào thoát khỏi". Thái tử nói:"Ta được xem là sang
quí, khác với người phàm mà đều không khỏi thì giàu sang
ích gì cho thân?" Về cung nghĩ mãi. Một lòng nghĩ vậy thì
được thiền. Vua hỏi người hầu: "Thái tử dạo chơi, thấy
nước có vui không?" Đáp: "Đường gặp người già, nghĩ đời
vô thường, lòng chẳng được vui!". Vua sợ thái tử bỏ nước,
tăng thêm món sướng, đem vinh hoa mê hoặc, dùng âm nhạc loạn
chí, muốn phá lòng đạo khiến giữ ngôi quí.
Sau
lại xuất du, vua ra lệnh: "Không để người già yếu nào
đứng ở giữa đường". Trời Đế Thích trước, lại hóa
làm người bệnh, thân mệt, sức mỏn, thịt hết giơ xương,
dơ xì bôi mình, đứng dựa bên cửa". Thái tử hỏi: "Đây
là người nào?" Người hầu thưa: "Đó là người bệnh". Hỏi:
"Sao gọi là bệnh". Đáp: "Uống ăn không chừng, thức ngủ
chẳng thường, nên mắc bệnh này, hoặc lành hoặc chết".
Thái tử hỏi: "Ta cũng ăn uống không chừng, thức ngủ chẳng
thường rồi sẽ bệnh vậy sao?" Đáp: "Có thân thì có bệnh,
không ai thoát nạn ấy". Thái tử nói: "Ta không thoát nạn,
ắt sau cũng vậy". Về cung vẫn nhớ một lòng vào thiền.
Lần
sau ra dạo, Đế Thích lại hóa làm một người chết, người
ta khiêng vác cờ triệu, khóc than đầy đường. Thái tử hỏi:
"Đây là người gì vậy?" Đáp: "Là người chết." Hỏi: "Sao
gọi là chết?" Đáp: "Mệnh hết hồn lìa, hình hài phân tán,
mãi rời người thân, đau đớn khôn xiết." Thái tử hỏi:
"Ta cũng thế sao?" Đáp: "Dẫu bậc thượng thánh, đức độ
thuần thục, cũng không thoát nạn đó." Thái tử trở xe về
cung, một lòng vào thiền. Sau lại ra dạo, đến lều ruộng
vua, ngồi đợi dưới gốc cây, thấy người cày ruộng, lật
đất trùng ra, có con bị thương, có con chết, chim đuổi mổ
ăn, trong lòng buồn bã, thở dài than: "Ôi chúng sinh bồn chồn,
đau đớn khôn chịu". Nghĩ rồi buồn thương, một lòng vào
thiền. Lúc trời lên cao, rọi mình thái tử, cây rũ cành che,
không để trời thiêu. Vua cha đi tìm, xa thấy uy linh vô thượng
thánh đức, buồn vui lẫn lộn, bất giác buộc mình cúi đầu
làm lễ. Thái tử cũng cúi đầu sát đất. Cha con thăm hỏi
xong, vua trở về cung. Thái tử một lòng vào thiền.
Thiền
vượt bờ của Bồ tát một lòng như vậy.
78
Thái
tử mới sinh, vua sai thầy xem tướng. Thầy nói: "Trị nước
tất làm Phi hành hoàng đế, bỏ nước làm sa môn thì sẽ
làm Thầy trời người". Vua xây cung điện ba mùa. Xuân, hạ,
đông mỗi cung khác nhau. Mỗi cung có năm trăm kỹ nữ, không
mập không ốm, cao thấp không có chỗ chê, nhan sắc tươi
sáng đều như đào mận. Mỗi cô rành ít môn nhạc, dáng vẻ
dịu hiền, làm vui Thái tử. Trước cung trồng rặt quả ngọt,
hoa thơm ngào ngạt, ao tắm trong sạch, trong có nhiều hoa, chim
chóc khác loài, tiếng hát hòa nhau, cửa cung đóng mở, nghe
xa đến bốn mươi dặm, trung thần vệ sĩ canh tuần siêng
năng. Có chim báo động giao tinh, uyên ương, hót báo cho nhau.
Năm
Thái tử mười bảy tuổi thì không kinh nào là không thông
hiểu, thầy phải lạy mà học lại. Vua cưới vợ cho, vợ
tên Cù Di, dung nhan như hoa, sánh với thiên nữ. Sức mạnh
Thái tử quật ngã sáu mươi voi lớn. Đến tuổi mười chín,
Thái tử gom hết kỹ nữ, gồm một ngàn năm trăm người,
cùng ở một cung chơi hết các môn múa hát, muốn họ mệt
nằm, mới bỏ đi được. Trời khiến những người chơi nhạc
ngủ hết không biết. Thái tử lặng suy, thấy các kỹ nữ,
giống như người gỗ, xương cốt đều rỗng, trông như lóng
tre, tay chân duỗi đất, nước mắt, nước mũi chảy ra, nước
dãi chảy hoen đôi má, đầu rối gối trống. Kỹ nữ đều
đeo khuyên ngọc lủng lẳng, khi đi đong đưa, màu sắc lấp
lánh. Hạt châu chuỗi ngọc, vòng côn, đồ khéo, lụa là gầm
vóc, thượng phục ngự y, cầm sắt, tranh, sáo, kèn, tiêu,
nhạc khí ngổn ngang đầy đất. Chim báo động quân bảo vệ
ngủ gục không biết. Thái tử dùng mắt sáng suốt, xem khắp
mọi thân, lại nhìn vợ mình, từ đầu, tóc, sọ, xương,
răng, móng, ngón, da thịt, mủ, máu, tủy, não, gân mạch, tim,
mật, lá lách, thận, gan, phổi, ruột già, bao tử, hốc mắt,
phân, nước tiểu, nước mắt, nước miếng. Trong xem như xương
khô, ngoài xem như túi thịt, không chút đáng quí. Bất tịnh
chỗ hôi, thấy rồi nhớ lại, khiến người buồn nôn, như
tranh điểm mặt, áo quần, sặc sở, xức thơm bên ngoài, mà
phân, nước tiểu, mủ, máu đầy khắp trong thân. Người ngu
tin bề ngoài, còn kẻ trí thấy bên trong, rồi xa vạn dặm,
còn phải nhắm mắt. Thái tử thấy chúng như huyễn, khó thể
giữ lâu, ở đời tạm mượn, ắt rồi trả chủ, người
nằm ngổn ngang giống như thây chết, chẳng có chi vui. Một
lòng được thiền, từ thiền mà hiểu, ngửa nhìn sao trời,
đã gần nửa đêm, chư thiên đứng đầy chắp tay làm lễ,
hoa hương âm nhạc, tấu lên vô lượng. Thái tử thấy chư
thiên cúi đầu lễ, liền nói kinh.
Dâm
dật rất ác
Khiến
người cuồng say
Chê
chính khen tà
Lấy
tối làm sáng
Thế
nên chư Phật
Bích
chi, La hán
Chẳng
khen là hay
Phải
mau xa tránh
Suy
nghĩ kỹ càng, bèn gọi Xa Nặc mau thắng Kiền Trắc, rồi
lại tự nghĩ: "Cửa thành đóng mở, nghe xa bốn mươi dặm,
phải làm sao đây?" Chư thiên đều nói: "Kính vâng Thế Tôn,
chúng con dằn cửa, khiến không có tiếng, để người trong
cung không biết". Chân ngựa tuyệt nhiên không nghe tiếng nhỏ.
Thái tử lên ngựa, trăm ức Đế Thích, bốn trăm ức Tứ
đại thiên vương, Trời rồng quỉ thần, đi theo dẫn dắt,
làm bằng đường xá. Nhạc trời reo ca:
Đấng
Vô thượng vòi vọi
Chúng
ta sinh gặp Ngài
Được
thấy ánh linh quang
Tiêu
diệt lòng trần bẩn
Trọn
đời chẳng suy phai
Khổ
đau thay tám nạn
Đáng
thương phải xa Ngài
Lại
nói: “May mắn thay cho chúng ta được gặp Ngài. Ngựa mới
ra cửa, cửa liền phát tiếng. Ngựa nghẹn ngào kêu thương
rơi lệ quanh má, chư thiên giấu vua, cả nước không biết.
Sở dĩ như vậy là muốn để Thái tử sớm được đắc đạo.
Thái tử bỏ ngôi vua kim luân bảy báu, chịu mọi gian khổ,
cứu độ chúng sinh”.
Thiền
vượt bờ của Bồ tát, một lòng như vậy.
79
Khi
Thái tử chưa đắc đạo, lấy lác trải đất, ngồi thẳng
chấp tay dưới gốc cây, bỏ các niệm dơ làm trong sạch tâm,
chuyên nhất chí, rồi tự nghĩ: "Bắt đầu hôm nay, đến lúc
thịt nát gân khô chỗ này, nếu không thành Phật, ta không
bao giờ đứng dậy". Bồ tát liền chứng thiền thứ nhất,
thứ hai, thứ ba đến thiền thứ tư. Trong đêm thứ nhất
chứng được thuật đồ thứ nhất, biết cha mẹ anh em, vợ
con và họ hàng từ vô số kiếp. Trong đêm thứ hai, chứng
thuật đồ thứ hai, tự biết chúng sinh từ vô số kiếp,
giàu nghèo sang hèn cao thấp đen trắng, trong tâm có niệm hay
không niệm, chứng được không gì là không biết. Trong đêm
thứ ba, chứng thuật đồ thứ ba, ba độc đều diệt. Khi
đêm gần sáng, Phật đạo đã thành. Ngài tự nghĩ sâu: "Ta
nay thành Phật rất sâu, rất sâu, khó hiểu, khó biết, nhỏ
nhiệm nhất trong nhỏ nhịệm, huyền diệu nhất trong huyền
diệu. Nay Phật đạo đã thành, được nhất thiết trí. Bèn
đứng dậy đi đến cung rồng. Rồng tên Văn Lân, chỗ ở
Văn Lân, bên sông có cây, đức Phật ngồi dưới gốc cây,
nói: "Thuở xưa đức Phật Định Quang trao ta ấn quyết quí
là sẽ làm Phật Thích Ca Văn, thật đúng với điều ta nghe.
Ta nay thành Phật là do từ vô số kiếp đến nay, bố thí,
trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ,
nguyện chứa công đức, nay mới chứng quả cực quí, làm
lành phúc đến, không mất công ta.
Đức
Phật vừa nghĩ, bèn vào thiền vượt bậc, Phật ở bờ sông,
ánh sáng chiếu suốt đến chỗ rồng ở, rồng thấy bóng
sáng, vẩy vi dựng ngược. Rồng từng thấy ba đức Phật
là Phật Câu Lũ Tần, Phật Câu Na Hàm Mâu Ni và Phật Ca Diếp.
Ba đức Phật đắc đạo đều ngồi tại đó, ánh sáng chiếu
rọi chỗ rồng ở. Nay rồng thấy ánh sáng, liền nghĩ: "Ánh
sáng này giống như bóng sáng ba đức Phật trước. Thế gian
lại không còn có Phật sao?" Rồng rất hoan hỉ, ra khỏi sông,
ngoảnh nhìn hai bên phải trái, thấy Phật ngồi dưới gốc
cây, thân có ba mươi hai tướng, sắc vàng tía, ánh sáng rực
rỡ, hơn cả trời trăng. Tướng tốt đoan chính như cây có
hoa. Rồng đến trước Phật, đầu mặt lạy xuống đất rồi
đi vòng quanh đức Phật bảy vòng, thân rồng cách Phật bốn
mươi dặm, lấy bảy đầu che trên Phật, rồi rồng vui vẻ
làm mưa gió bảy ngày bảy đêm. Đức Phật ngồi ngay không
động không lay, không thở không hít. Bảy ngày không ăn thì
được thành Phật. Lòng vui, không còn tưởng. Rồng rất vui
mừng, cũng bảy ngày không ăn, mà không có niệm đói khát.
Hết bảy ngày, mưa gió tạnh. Đức Phật từ thiền định
dậy, Rồng hóa làm phạm chí tuổi trẻ, áo mới, đến quì
gối chấp tay, cúi đầu lạy hỏi: "Ngài được không lạnh,
không nóng, không đói, không khát, công phước chứa nhóm,
mọi độc không hại, ở đời làm Phật, ba cõi đặc tôn
há không thích sao? Đức Phật bảo rồng: "Kinh điển các đức
Phật quá khứ nói: Chúng sinh lìa ba đường ác được làm
người là thích. Ở đời sống an nhàn giữ đạo là thích.
Điều xưa từng nghe, nay đều hiểu được là thích. Ở đời
có lòng từ không hại chúng sinh là thích. Thiên ma độc dữ
đều diệt hết là thích. Đạm bạc vô dục không ham giàu
sang là thích. Ở đời đắc đạo làm thầy trời, lòng được
định không, vô nguyện, vô tướng, các dục vì có thân. Khi
thần hồn trở về vốn không thì tịch tịnh mãi mãi, cùng
với sự khổ vĩnh viễn đoạn tuyệt. Đó là niềm thích vô
thượng".
Rồng
cúi đầu thưa: "Từ đây về sau con tự qui Phật, tự qui Pháp".
Phật bảo rồng: "Vừa có chúng thánh, thệ làm La hán, chịu
khổ tỳ kheo, cũng nên tự qui vị ấy". Rồng đáp: "Thưa vâng,
con xin qui y chúng tỳ kheo". Trong loài súc sinh, trở về chịu
Phật giáo hóa trước tiên thì rồng đứng đầu.
Thiền
vượt bờ của Bồ tát, một lòng như vậy.
80
Đức
Phật đi đường, gặp lối nhỏ, bên lối nhỏ có cây, đức
Phật ngồi dưới gốc cây cùng 1250 vị tỳ kheo, một lòng
nhập định.
Có
năm trăm cỗ xe đi qua. Khi ấy đức Phật rất khát, bèn bảo
A Nan: "Ông đi lấy nước, ta đang muốn uống". A Nan thưa: "Vừa
có năm trăm cỗ xe đi qua, nên nước rất đục, không thể
uống được". Đức Phật lại bảo: "Ta khát rất nhiều, con
mau đi lấy nước lại". Nói đến ba lần, A Nan thưa: "Có khe
tên Cưu Đối, nước trong lại ngọt, tắm được uống được."
Đức Phật và A Nan nói chuyện đó chưa xong thì có một người
tên Bào Kế, thờ đạo sĩ làm thầy. Đạo sĩ tên La Già Lam.
Bào Kế thấy Phật oai linh rực rỡ, thân màu vàng tía, tướng
đẹp lạ lùng, thánh xưa hiếm có, nên lòng vui dào dạt, vòng
tay tiến đến, cúi đầu thưa: "Vừa có năm trăm cỗ xe đi
ngang đây, đức Thế Tôn có nghe thấy không?" Đáp: "Ta chẳng
thấy chẳng nghe gì." Bào Kế nói: "Đức Thế Tôn ngủ à?"
Đáp: "Ta ngồi thiền được định nhất tâm." Bào Kế ca ngợi:
"Đức Như Lai Vô Sở Trước Chính Chân Giác, được định
sâu huyền, đến thế sao? Ban nảy xe làm chấn Động cả nước,
thân lấm bụi bặm, mà chí đạo không đổi, không nghe không
thấy. Càn khôn có thể lay động mà chí ấy khó xiêu. Khi
thầy con còn sống, cũng dưới gốc cây bên đường mà được
thiền. Bấy giờ cũng có năm trăm cỗ xe đi ngang trước mặt.
Có người hỏi: "Ngài có nghe thấy không?" Thầy con đáp: "Không
thấy không nghe gì." Người ấy hỏi: "Ngài lúc ấy nằm ngủ
hay đi đâu?" Thầy con đáp: "Ta một lòng được định thanh
tịnh, nên không thấy không nghe." Người ấy nói: "Bậc La
hán chí đạo sâu xa, mới đến như thế sao?" Xe đi qua trước
mặt, thân lấm bụi mà không biết. Người ấy thấy chí thầy
con u huyền, suốt đời thờ làm thầy. Bào Kế nói: "Chí Phật
tịch định không lay, cũng như thầy con thuở trước. Bắt
đầu từ hôm nay đến trọn đời, con xin giữ năm giới của
Phật, làm cư sĩ thanh tín, không dám theo các ác. Phật bảo
Bào Kế: "Tiếng năm trăm cỗ xe của ai như tiếng vang sấm
nổ?" Bào Kế đáp: "Tiếng 1000 cỗ xe, nó không bằng tiếng
sấm nhỏ của cơn mưa, huống gì là sấm sét đùng đùng hay
sao?" Đức Thế Tôn nói: "Xưa ta ở huyện A Đàm, ngồi dưới
lều tranh, nghĩ về gốc sinh tử. Bỗng có trận cuồng phong
mưa bão sấm chớp ầm ầm, giết mất bốn con trâu đực và
hai anh em người cày ruộng. Dân chúng huyện đó, người xem
rất nhiều. Lúc ấy ta đi kinh hành. Có một người đến chỗ
ta, ta hỏi: "Mọi người xem chuyện gì vậy?" Người ấy cứ
việc kể rồi hỏi: "Lúc ấy đức Phật đi đâu?" Ta đáp:
"Ta ngồi một mình ở nhà." Người ấy hỏi: "Khi ấy đức
Phật ngủ à?" Ta đáp: "Không." Người ấy hỏi: "Đâu có chuyện
thức mà không nghe ư? Chí đạo Ngài rất sâu, từ nay về
sau con nguyện thờ đức Thế Tôn làm thầy, xin giữ năm giới
thanh tịnh, làm cư sĩ thanh tín trọn đời giữ lẽ chân."
Bào Kế nghe rồi, lòng mở nút gỡ, vui vẻ vô cùng, nhìn lại
bảo tùy tùng: "Trong kho, vàng lụa dệt thành y có 1000 bộ,
chọn bộ nào đẹp nhất đem đến đây, ta muốn dâng lên
đức Phật." Người hầu vâng lệnh, về nhà lấy lại. Bào
Kế tự tay lấy y, đắp lên thân đức Phật, rồi lui, lại
cúi đầu thưa: "Từ nay xin đức Thế Tôn bớt chút oai linh
vĩ đại, đến chỗ những thanh tín sĩ làng con và xin hạ
cố đến nhà con. Họ hàng lớn nhỏ mỗi người tự thân
cúng dường đức Phật. Đem hết tuổi thọ của trời đất
và lòng chí kính để phụng dưỡng trời, rồng, thần, quỉ
và các loài bò bay máy cựa cũng không bằng cúng dường một
bữa cho sa môn, huống chi cúng cho đức Phật Vô Thượng Chính
Chân sao? Xin rủ lòng từ bi rộng lớn, ban cho con phước báu
vô bờ ấy." Đức Thế Tôn nói: "Tốt lắm."
Thiền
vượt bờ của Bồ tát, một lòng như vậy.
81
Đức
Thế Tôn tự nói: Khi còn làm Bồ tát tên là Thường Bi. Bồ
tát Thường Bi thường vừa đi vừa rơi lệ. Đời bấy giờ
không có Phật, kinh điển mất hết, không thấy chúng sa môn,
hiền thánh, mà Bồ tát thường mong thấy Phật và nghe kinh
diệu chỉ. Đời lúc ấy nhơ bẩn, bỏ chính theo tà, ưa dối
ham lợi, như thiêu thân thích lửa. Tứ đẳng sáu độ là
nhà yên mãi, mà đời lại bỏ pháp ấy của Phật, chỉ thích
đến nguy họa kia, để tự đập nát mình. Vì vậy Bồ tát
mới buồn bã, vừa đi vừa khóc.
Thuở
xưa, có Phật tên là Ảnh Pháp Vô Uế Như Lai Vương, diệt
độ đã lâu, nên kinh pháp mất hết. Bồ tát Thường Bi nằm
mộng thấy Phật vì mình thuyết pháp: "Cẩn thận đừng cống
cao, học hạnh của kẻ sĩ, bỏ lòng dơ ân ái, không lấm
bụi bặm sáu tình, không để lại các ái nhỏ như tơ tóc
trong lòng ngươi. Các niệm lắng diệt, ấy là vô vi". Bồ
tát theo Phật nghe Pháp ấy, như người đói được thức ăn
ngon, mừng vui vô lượng, lòng dơ đã trừ, vào định thanh
tịnh. Liền bỏ nhà cửa vợ con, vào núi sâu ở chỗ vắng
lặng, lấy hoa trái nước rừng tự nuôi thân. Ở núi giơ
tay đấm ngực kêu than: "Con sinh oan sao mà không gặp thời
Phật, không nghe kinh Phật, mười phương hiện tại chí chân
đời tôn, nhìn thấu nghe suốt, đều biết hết thảy, biến
hiện phảng phất, ánh sáng không đâu không tới. Xin hiện
tôn linh, khiến con thấy Phật, được nghe ý thú tột đỉnh
của đạo lớn pháp tỏ".
Tiếng
than vừa dứt, Thiên thần hiện xuống nói: "Kẻ sĩ sáng suốt
là ngươi, đừng kêu than nữa, đức Phật có giáo pháp vĩ
đại gọi là trí sáng của trí tuệ vượt bậc. Các đức
Phật quá khứ, hiện tại và vị lai đều do đó mà thành.
Ngươi phải tìm để đọc tập văn đó, nhớ hiểu nghĩa nó,
vâng giữ hành trì. Ngươi sẽ chứng bốn vô úy, mười lực,
mười tám pháp bất cộng thân màu vàng tía, cổ có hào quang
vô hạn, kinh giáo mười phương, ngươi sẽ làm minh chủ, bậc
quí trong các thánh, làm thầy trời người, Bích chi Phật và
La hán là chỗ không có".
Bồ
tát Thường Bi ngẩng nhìn, đáp: "Tôi sẽ nghe pháp quí này
từ ai, phải dùng phương tiện gì và đi đến quốc độ nào?
Vị thầy ấy tên họ là chi? Vị trời ấy đáp: "Ngươi từ
đây đi thẳng về đông, đừng nhớ sắc thọ tưởng hành
thức, đừng nhớ khổ vui thiện ác, mắt tai mũi miệng thân
tâm, ta, người, và người đời trước đổi thay, việc đời
sau tới, đừng nhớ đất, nước, lửa gió, không, xanh vàng
đen trắng cho đến các màu, tham dâm, sân nhuế, ngu si tật
đố, trai gái họ hàng, phải trái trước sau, cao thấp, mau
chậm, đừng nhớ có Phật, không Phật, có kinh đạo không
kinh đạo, có hiền thánh, không hiền thánh, làm trống ý ngươi,
dứt các ước nguyện, ngươi giữ lòng, không trái lời ta
thì thấy ngay sách thánh trí tuệ vượt bậc". Bồ tát Thường
Bi ngẩng đầu thưa: "Vâng, xin trọn đời giữ". Vị trời
lại nói: "Hãy siêng năng nhớ lấy". Nói xong bỗng nhiên không
thấy.
Bồ
Tát nhận lời dạy, lòng ngay, ý sạch, đi về phương Đông
tìm. Đi được mấy ngày thì nghỉ, tự nghĩ sâu: "Ta trước
phước mỏng, sinh không gặp Phật, đời không sa môn, vua tôi
mù tối, không biết có Phật, trí tuệ vượt bậc là thầy
trừ tối. Cách đây mấy dặm, lúc chưa thấy được lòng
buồn lắm, vừa đi vừa khóc, tinh thành đến vậy, cảm động
chư Phật. Phật từ trên bay đến trước mặt, thân màu vàng
tía, tướng tốt hơn thánh, mặt như trăng tròn, cổ có hào
quang như trời. Chư thiên theo hầu, màn báu, lọng hoa, đánh
nhạc rải hoa, chắp tay cúi đầu. Đức Phật ca ngợi Bồ
tát: "Lành thay! Lành thay! Ngươi đi mau khỏe, ở đời ít có”.
Bồ
tát thấy Phật, vừa vui vừa buồn, cúi đầu thưa: "Xin Phật
thương con, cắt dây trói con, mở nút buộc con, mở mắt mù
con, chữa lành bệnh con, vì con giảng kinh". Đức Phật bảo:
"Ba cõi đều không, hễ có ắt không, vạn vật như huyễn,
vừa sinh liền diệt, cũng như bọt nước, thấy đời như
vậy ngươi hãy nghĩ đi, ta vì ngươi giảng kinh, hãy đoan tâm
nghe rõ, cẩn thận đừng quên. Từ đây về đông hai vạn
dặm, có nước tên Kiền Đà Việt, thành của các Bồ tát.
Cả nước đều là thượng sỹ không có người thường. Muốn
tả công đức các Bồ tát, dẫu kiếp số hết, công đức
vẫn còn. Có Bồ tát đức cao chí tôn tên là Pháp Lai, ở
trong các thánh ngài như sao có trăng, nhớ các kinh điển, trí
tuệ vô hạn, diễn thuyết kinh Trí tuệ vượt bậc, dạy người
kỹ càng. Các Bồ tát có người nghe, người tụng, người
chép, người san định nguyên bản kinh, ngươi đến sẽ thấy
họ, ắt làm thầy ngươi, dạy ngươi tìm Phật. Ngươi mau
đi đến, họ tự sẽ vì ngươi giảng đức lớn trong ngoài
của trí tuệ vượt bậc".
Bồ
tát Thường Bi nghe Phật ca ngợi danh đức vị Bồ tát kia,
lòng được pháp hỉ, đắc định hiện tại, mọi tưởng
đều lặng, thấy hết chư Phật vì mình giảng công đức
của trí tuệ vượt bậc, ca ngợi mình có công tinh tấn tìm
Phật, nên đều nói: "Lành thay! Chí đi tìm Phật! Ngươi đã
gặp rồi. Ta ở kiếp xưa, khi vừa phát tâm, cũng đều như
vậy. Chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại, đều đi tìm
như ngươi cả. Ngươi ắt thành Phật cứu tất cả chúng sinh".
Bồ tát Thường Bi từ thiền định dậy, ngoái nhìn phải
trái không thấy chư Phật nữa, lòng liền lại buồn, rơi
lệ vừa nói: "Ánh thiêng chư Phật từ đâu mà đến, nay lại
bỏ đi như vậy?"
Thiền
vượt bờ của Bồ tát, một lòng như vậy.
82
Xưa
có hai vị Bồ tát chí hạnh thanh cao, trong lặng vô dục ngoài
như vàng trời, bỏ lũ dơ bẩn, ở nơi núi đầm, đập đá
làm nhà, ở yên chí tịnh, lấy vỏ làm áo, cỏ làm chiếu,
ăn trái rừng uống nước suối, thanh tinh vô vi, chí như hư
không, gồm đủ bốn thiền, chứng trí năm thông. Một là
có thể trong suốt, không xa nào là không thấy. Hai là có thể
nghe thông, không có tiếng nhỏ nào không nghe. Ba là có thể
bay lượn ra vào không ngăn trở. Bốn là có thể biết rõ
những gì trong lòng chúng sinh khắp mười phương đang nghĩ.
Năm là có thể biết những thay đổi cuộc đời mình từ
vô số kiếp trước đến nay. Phạm thiên, Đế Thích, tiên
thánh, chư thiên, rồng, quỷ, không ai là không cúi đầu.
Ở
trong núi đầm hơn 60 năm, thường nhớ chúng sinh trôi nổi
ngu tối, không biết làm ác, sau có họa nặng, bớt tình bỏ
dục, kính phụng ba ngôi báu, phúc đến đáp lại ắt được
giàu sang. Có hai phạm chí, một tên Đề Kỳ La, một tên Na
Lại. Đề Kỳ đêm dậy đọc kinh, quá mệt nằm ngủ. Khi
ấy Na Lại cũng tụng kinh, nhỡ đạp nhằm đầu của Đề
Kỳ La. Đề Kỳ liền thức dậy nói: "Ai đạp đầu ta, sáng
mai khi mặt trời mọc lên một sào, ta đập bể đầu người
ấy làm bảy mảnh, được không?" Na Lại lại nói: "Tôi lỡ
đạp trúng đầu ông, sao nỡ rủa thề nặng vậy? Phàm thứ
không biết đi, còn có khi chạm nhau, huống chi con người cùng
ở chung với nhau, trọn đời không lầm lỡ sao? Lời ông thường
đúng. Ngày mai mặt trời mọc, đầu tôi tất vỡ làm bảy
miếng. Vậy tôi phải ngăn mặt trời không cho mọc". Mặt
trời bèn không mọc trong khoảng năm bảy ngày. Cả nước
u tối, đèn đuốc liên tục, các quan không đi làm việc, vua
dân hoảng hốt, họp các quan lại, mời đạo sĩ, vua nói:
"Mặt trời không mọc, lỗi ấy do đâu?" Trong các đạo sĩ,
người chứng năm thông nói: "Đạo sĩ trong núi, hai người
có chút tranh cãi, nên ngăn không cho mặt trời mọc". vua hỏi:
"Tranh cải vì cớ gì?" Đạo sĩ thuật rõ đầu đuôi cho vua
biết. Vua nói: "Vậy phải làm sao?" Đạo sĩ đáp: "vua dẫn
quan dân không kể lớn nhỏ, đến chỗ hai vị cúi đầu xin
hòa giải, họ ắt từ hòa". vua liền xuống chiếu theo lời
đạo sĩ nói. Đến chỗ núi đầm, họ cúi đầu thưa: "Nước
giàu dân yên, nhờ ơn hai vị. Mà nay hai vị bất hòa, cả
nước mất chỗ trông nhờ, lỗi ấy ở ta, dân không có lỗi.
Vậy xin hai vị tha cho". Na Lại nói: "vua nên hiểu ý vị kia,
nếu vị kia ý đã mở, tôi sẽ thả mặt trời ra". Vua đến
chỗ Đề Kỳ La nói lại ý của Na Lại, vua liền nói: "Khiến
vị kia lấy bùn trét lên đầu rồi thả mặt trời ra, đầu
bùn vỡ làm bảy mảnh, mà Na Lại không bị gì cả". Vua tôi
dân chúng, không ai là không vui mừng. Hai đạo sĩ vì vua nói
rộng việc trị nước, phải đem lòng từ tứ đẳng không
ngăn, khuyên giữ năm giới, vâng làm mười lành. vua và thần
dân hết thảy thọ giới. Vua về kinh đô xuống chiếu: Người
không kể tôn ty, phải mang kinh năm giới, mười lành, dùng
làm chính sách cuả nước.
Từ
đó về sau, ơn vua thấm đến cỏ cây, trung thần vừa thành
thật, vừa trong sạch, khiêm nhường, cha đúng phép, mẹ đúng
nghi, vợ chồng đều chuộng giữ đạo trinh tín, nhà có con
hiếu. Đức Thế Tôn nói: "Hai vị Bồ tát thấy vua không biết
ba ngôi báu, quan dân mờ tối, tà kiến ngăn che, như chỗ tối
bịt mắt mà đi thương bọn họ chết không thấy kinh Phật,
nên biến hóa như thế, muốn họ thấy được ánh sáng".
Đức
Phật bảo các tỳ kheo: "Na Lại là thân ta, Đề Kỳ La là
Di lặc".
Thiền
vượt bờ của Bồ tát, một lòng như vậy.