Chương
IV
QUYỂN
SÁU
TINH
TẤN VƯỢT BỜ
Tính
tấn vượt bờ là thế nào? Chuyên nhớ đạo mầu, tiến đến
không biếng, đi đứng nằm ngồi thở nín không rời, mắt
phảng phất luôn thấy bóng linh chư Phật biến hóa đứng
trước mặt mình. Tai nghe tiếng thì luôn nghe tiếng đức chân
chính dạy bảo. Mũi ngửi hương đạo, miệng nói lời đạo,
tay làm việc đạo, chân đi nhà đạo, không bỏ chí ấy trong
từng hơi thở. Lo thương chúng sinh đêm dài biển sôi, trôi
nổi luân chuyển, độc thêm không cứu. Bồ tát lo buồn như
con chí hiếu mất cha mẹ. Nếu như con đường cứu chúng sinh
mà phía trước có khó khăn nước sôi lửa bỏng, có thuốc
độc đao gươm làm hại vẫn lăn mình chịu nguy tính mệnh,
vui vẻ cứu người tai nạn, chỉ mong vượt khỏi sáu đường
tăm tối, đến được vinh hoa.
55
Xưa
có Bồ tát lúc làm người phàm, nghe được tên hiệu, tướng
tốt và đạo lực của Phật, công đức vòi vọi, chư Thiên
cùng tôn. Người theo cao hạnh, các khổ đều diệt. Bồ tát
nhớ tưởng, than khóc không yên, nói: "Ta làm sao được xem
đọc kinh điển của bậc Thầy trời người chấp hành cho
đến khi thành Phật, để chữa bệnh chúng sinh, khiến quay
về với gốc tịnh đây".
Bấy
giờ Phật đã qua đời, không có chúng tỳ kheo, không do đâu
mà được nghe nhận. Hàng xóm có người phàm, tính tình tham
tàn, thấy chí Bồ tát tinh tấn sắc bén, nói: "Ta biết một
bài ba giới của Phật, ngươi muốn vâng thọ không?" Bồ tát
nghe nói, lòng mừng vô hạn, đảnh lễ dưới chân, quì xuống
xin nghe giới. Người biết kệ nói: "Đây là giáo lý tinh yếu
của đấng Vô Thượng Chính Chân Tối Chính Giác Đạo Pháp
Ngự Thiên Nhân Sư. Ngươi muốn nghe suông, há được vậy
sao?". Bồ tát đáp: "Xin hỏi cách thức, nghĩa nó thế nào?"
Người ấy nói: "Nếu ngươi thật thành khẩn thì lông mình
mỗi lỗ một kim chích vào, máu chảy thân đau, lòng không
hối hận thì giáo pháp tôn quí mới có thể nghe được".
Bồ tát đáp: "Nghe Phật mà chết, tôi cũng vui làm, huống
gì chích mình mà vẫn còn sống sao?" Liền đi chợ mua kim,
tự chích vào mình, máu chảy như suối. Bồ tát vui vẻ nghe
pháp, được định (không đau). Trời Đế Thích thấy Bồ
tát chí sắc, thương xót cho người, hóa khiến cả thân, mỗi
lỗ chân lông có một cây kim. Người kia thấy vậy, biết
có chí cao, liền dạy giới pháp nói: "Gìn miệng giữ lòng.
Thân đừng phạm ác. Trừ ba hạnh ấy. Được đư
ng
hiền độ. Đấy là giới các đức Như Lai Vô Sở Trước
Chính Chân Tối Chính Giác chân thực nói ra". Bồ tát nghe giới,
vui vẻ cúi đầu, nhìn lại kim trên mình bỗng nhiên không
thấy nữa. Mặt mày rực rỡ, khí lực hơn trước. Trời người
quỉ rồng, không ai là không ca ngợi. Bồ tát chí tiến hạnh
cao từ đầu tới sau, cho đến thành Phật cứu vớt chúng
sinh.
Phật
bảo các Tỳ kheo: "Người trao kệ cho Bồ tát nay là Điều
Đạt. Điều Đạt tuy trước biết kệ của Phật nhưng như
người mù cầm đèn rọi mà mình không sáng thì có ích gì
cho mình?".
Chí
sắc vô bờ của Bồ tát, tinh tấn như vậy.
56
Xưa
Bồ tát làm vua loài vượn, thường theo năm trăm con vượn
đi chơi. Bấy giờ trời khô hạn, trái cây không nhiều. Thành
vua nước ấy cách núi không xa, chỉ qua một con sông nhỏ.
Vua vượn đem bầy vào vườn ăn trái, người coi vườn bèn
tâu vua. Vua nói: "Giữ chặt đừng để chạy mất". Vua vượn
biết được, buồn bã nghĩ: "Ta là đầu đàn, họa phúc do
ta. Tham trái nuôi mình để lầm cả đàn". Bèn ra lệnh cho
đàn: "Đi khắp tìm dây". Đàn về dây đến, đua nhau nối
lại. Lấy một đầu dây cột vào một cành cây lớn. Vua vượn
tự buộc vào eo rồi leo lên cây gieo mình vịn cành cây kia.
Dây ngắn phải duỗi mình, rồi ra lệnh cho đàn vượn: "Mau
nắm dây qua". Đàn đã qua rồi, hai nách đều đứt, rơi ngay
bờ suối, chết đi sống lại.
Quốc
vương sáng sớm đi xem, bắt được vượn chúa. Vượn có
thể nói tiếng người. Bèn cúi đầu tự trình: "Dã thú tham
sống, cậy nhờ ơn nước. Lúc hạn quả thiếu, nên phạm
vườn vua, tội lỗi do tôi, xin tha cho đàn, thịt hư thân thú
xin dâng thái quan làm bữa cho vua”. Vua ngửa mặt than: "Đầu
đàn loài thú giết mình cứu bầy, có lòng nhân rộng lớn
của bậc hiền xưa. Ta làm vua người há được như nó ư?"
Vì vậy gạt lệ, bảo người cởi trói, đỡ ngồi trên đất,
ra lệnh cả nước để mặc tình vượn ăn, ai phạm đến
vượn, tội đồng với giặc. Trở về, vua kể với hoàng
hậu: "Lòng nhân của vượn, hạnh của bậc hiền xưa sánh
chưa bằng thế, lòng nhân của ta như tơ tóc, còn của vượn
kia hơn cả núi Côn Lôn". Hoàng hậu nói: "Hay thay! Thú ấy
thật lạ lùng. Vua nên mặc chúng ăn uống, đừng để người
hại". Vua nói: "Ta đã ra lệnh rồi".
Đức
Phật bảo các tỳ kheo: "Vua vượn là thân ta. Quốc vương
là A Nan. Năm trăm con vượn nay là năm trăm vị tỳ kheo".
Chí
sắc vô bờ của Bồ tát, tinh tấn như vậy.
57
Xưa
có Bồ tát thân làm vua nai, sức mạnh hơn bầy, nhân ái phủ
khắp, lũ nai thích theo, đi chơi gần vườn, người chăn tâu
lên. Vua đem quân sĩ bao vây ép bắt. Vua nai biết được rơi
lệ nói: "Ách của các ngươi do lỗi ta cả. Ta sẽ chết để
cứu bầy bọn nhỏ". Vua nai đến mép lưới quì hai chân trước
xuống nói: "Hãy leo lên ta nhảy ra, các ngươi được toàn
mạng". Đàn nai làm theo, liền được thoát hết. Vua nai mình
mẩy rách nát, máu chảy như suối, ngã xuống chết ngất,
đau đớn khôn tả. Đàn nai khóc than, bồi hồi không đi. Vua
người thấy mình vua nai tàn tạ, máu chảy đỏ đất, không
thấy đàn nai, hỏi: "Con này sao vậy?" Vua nai đáp: "Giữ nết
không sạch, thân chịu làm thú, đi tìm cỏ ngon, để nuôi
mạng hèn, phạm vào nước vua, tội đáng rất nặng. Thịt
mình tuy hết, hai đùi ngũ tạng vẫn còn đầy đủ, xin để
thái quan làm bữa dâng vua". Vua hỏi: "Ngươi làm sao mà đến
thế này?" Vua nai kể rõ nguyên cớ đầu đuôi. Vua nghe thương
cảm rơi lệ nói: "Ngươi là súc sinh mà có lòng nhân rộng
như đất trời, hủy mình cứu đàn. Ta làm vua người, tham
bậy hiếu sát, giết vật trời sinh". Liền ban nghiêm lệnh,
bảo dân cả nước: "Từ nay bỏ săn, không ham thịt nai, xé
lưới đem nai thả chỗ đất bằng". Đàn nai thấy vua mình,
ngửa mặt lên trời than khóc. Mỗi con đến trước vua nai
liếm vết thương, rồi chia nhau đi tìm thuốc, nhai ra rịt
vào. Vua người thấy vậy, lại gạt lệ nói: "Vua đem lòng
thương con mà nuôi dân thì dân đem ơn cha mẹ mà mến vua.
Đạo làm vua có thể bất nhân sao?" Từ đấy vua bỏ sát sanh,
chuộng nhân từ, trời liền giúp cho, nước giàu, dân vui,
gần xa khen nhân, dân theo như nước.
Đức
Phật bảo Xá Lợi Phất: "Vua nai là thân ta. Năm trăm nai nay
là năm trăm vị tỳ kheo, vua người là A Nan".
Chí
sắc vô bờ của Bồ tát, tinh tấn như vậy.
58
Xưa
có Bồ tát thân làm nai, tên là Tu Phàm, lông mình chín màu,
ở đời hiếm thấy, đi chơi ở bờ sông, thấy người chết
chìm, kêu trời cầu cứu. Nai thương xót nghĩ: "Thân người
khó được, mà phải chết sao? Ta thà nhảy vào chỗ nguy để
cứu mạng nó". Bèn bơi đến hỏi: "Ngươi đừng có sợ, níu
sừng, cỡi lưng ta thì được cứu ngay thôi". Người ấy làm
như lời. Nai vớt người xong, cũng gần đứt hơi. Người
sống mừng lắm, liền đi quanh nai ba vòng, cúi đầu nói: "Thân
người khó gặp, mạng sống là trọng, trượng phu liều nguy,
cứu mạng tôi sống, ơn hơn đất trời, trọn đời chẳng
quên, xin làm tôi mọi, dâng những gì người thiếu". Nai nói:
"Người hãy đi đi, vì thân mạng ta, lụy ngươi trọn đời.
Nếu ai tìm ta, hãy nói không thấy". Người bị chìm vâng dạ
nói: "Chết thân không trái".
Bấy
giờ quốc vương tên Ma Nhân Tiên, vốn tính thuần hòa, thương
nuôi dân chúng. Nguyên hậu của vua tên là Hòa Trí mộng thấy
vua nai, lông mình chín màu, sừng hơn sừng tê. Tỉnh dậy tâu
vua: "Thiếp muốn lấy da nai làm áo, sừng làm vòng, nếu không
có được, chắc thiếp chết mất". Vua đáp: "Được". Sáng
họp quần thần, vua tả dạng nai, ra lệnh thuê kiếm, ai bắt
được phong cho một huyện, bát vàng đầy hạt bạc, bát bạc
đầy hạt vàng. Thuê tìm như vậy, người bị chìm vui nghĩ:
"Ta được một huyện, vàng bạc đầy bát, sung sướng trọn
đời, nai tự mất mạng, ta can dự gì?" Bèn đến cửa cung,
tâu bày tự sự, tức thì mặt liền bị phung lỡ, miệng bị
hư thối. Lại nói: "Nai này tính thiêng, vua phải đem quân,
mới bắt được nó". Vua liền hưng binh qua sông tìm nai.
Bấy
giờ nai cùng với quạ kết làm bạn thân, nhưnng nai nằm ngủ,
không biết vua đến. Quạ kêu: "Bạn ơi! Vua đến bắt bạn".
Nai mệt không nghe, quạ mổ vào tai nói: "Vua đến giết bạn".
Nai thất kinh, thấy vua giương cung bắn mình, chạy mau đến
trước, quì gối cúi đầu thưa: "Thiên vương tha mạng tôi
chốc lát, tôi muốn tỏ mối ngu tình". Vua thấy nai nói, liền
bảo dừng tên. Nai nói: "Vua quí nguyên hậu, khổ thân đến
đây, tôi rốt không thoát. Thiên vương ở trong chốn thâm
cung mà biết thú hèn ở đây sao?" Vua lấy tay chỉ, nói: "Người
cùi này chỉ". Nai nói: "Tôi tìm cỏ non để ăn, xa thấy có
người chết chìm kêu trời cầu cứu. Tôi thương kẻ cùng,
liều nguy cứu nó, người ấy lên bờ, vui mừng cúi đầu
nói: Mạng tôi gần chết mà người cứu cho, xin trọn đời
làm tớ để dâng nước cỏ". Tôi đáp: "Ngươi cứ việc đi
tự do, cẩn thận đừng nói với ai là tôi ở đây". Vua nai
lại nói: "Thà vớt cỏ cây trôi sông lên bờ, chứ không vớt
người không nghĩ suy. Cướp của giết chủ, tôi có thể tha,
chứ chịu ơn mà mưu phản, ác nó khó bày". Vua cả kinh nói:
"Đây là loài súc sinh nào mà lại có lòng thương rộng lớn,
liều mình cứu vật không cho là khó, đây chắc là trời".
Vua khen lời nai, vui vẻ tiến đức.
Bèn
ra lệnh trong nước: "Từ nay về sau, mặc tình nai ăn, ai dám
phạm nó, tội đều đáng chết". Vua về, nguyên hậu nghe vua
thả nai, giận quá vỡ tim chết vào ngục núi Thái. Trời Đế
Thích nghe vua lập chí chuộng nhân, khen vua làm vậy, hóa ra
nhiều nai, khắp nước ăn lúa, mộng mạ các lúa, ăn quét
hết sạch, để xem chí vua. Dân chúng kiện tụng. Vua nói:
"Hung dối giữ nước, không bằng giữ tín mà mất". Đế Thích
nói: "Vua thật giữ tín". Bèn đuổi nai đi, lúa nhiều gấp
bội, độc hại tiêu hết, tai nạn thảy trừ.
Đức
Phật bảo các tỳ kheo: "Vua nai bấy giờ là thân ta, quạ là
A Nan, vua là Thu Lộ Tử, người chết chìm là Điều Đạt,
vợ vua nay là vợ Điều Đạt".
Chí
sắc vô bờ của Bồ tát, tinh tấn như vậy.
59
Số
196 Bổn sanh Valàhassa (Jat. 2.127) t 186. Giống truyện 37 Lục
độ
Xưa
có Bồ tát thân làm vua ngựa, tên là Khu Da, thường ở bờ
biển, cứu người chết trôi.
Bấy
giờ bờ biển kia có bọn quỷ dâm nữ, số nó rất nhiều.
Nếu thấy lái buôn liền hóa làm thành quách nhà ở, ruộng
vườn, kỹ nhạc ăn uống, rồi biến thành người đẹp nhan
sắc rực rỡ, mời mọc lái buôn, rượu nhạc vui chơi. Quỷ
mê hoặc người, nên ai cũng ăn ở. Trong khoảng một năm,
quỷ dâm chán cũ, lấy dao sắt đâm vào cổ, uống máu ăn
thịt, hút tủy. Vua ngựa xa thấy dâm quỷ ăn người mà rơi
lệ, nhân bay qua biển, đến bên bờ kia, kiếm được gạo
giã rồi, ngựa chúa ăn xong lên núi kêu to: "Ai muốn qua biển
không?". Kêu như vậy ba lần. Lái buôn nghe vậy vui mừng nói:
"Thường nghe ngựa thần thương vớt người nạn, nay đã đến
rồi sao?" Họ vui vẻ đến nói: "Thương cứu chúng tôi". Ngựa
thần nói: "Các ngươi khi đi, dâm quỷ tất sẽ bế con
đưa cho các ngươi, đuổi theo khóc lóc. Ai lòng quyến luyến,
khi ta đi rồi, quỷ ắt lại lấy dao sắt, đâm cổ các ngươi,
uống máu ăn thịt các ngươi, còn ai lòng ngay nghĩ lành, sẽ
được toàn mạng. Hễ ai muốn về, hãy cỡi lưng ta, vịn
lấy bờm đuôi, nắm lấy cổ đầu, tự do bám vào, cùng vịn
lấy nhau thì chắc sống mà gặp mẹ cha". Lái buôn tin dùng
lời ấy, đều được toàn mạng, về gặp cha mẹ bà con,
còn kẻ dâm mê, tin vào yêu quỷ, không ai là không bị ăn
thịt. Hễ tin chính bỏ tà, đời nay an lành mãi mãi.
Đức
Phật bảo các tỳ kheo: "Vua ngựa bấy giờ là thân ta".
Chí
sắc vô bờ của Bồ tát, tinh tấn như vậy.
60
Xưa
có Bồ tát thân làm vua cá, có quan tả hữu, đều giữ hạnh
cao, thường nhớ lời Phật, ăn nghỉ không bỏ, ăn rong dưới
nước, tạm để nuôi thân, thương nuôi loài nhỏ như tự
nuôi mình, theo triều đi chơi, đem dạy giới Phật.
Không
ngờ, kẻ chài quăng lưới bắt được. Bầy cá lớn nhỏ
không con nào là không hoảng hốt. Vua cá thương xót bảo:
"Cẩn thận đừng sợ, một lòng niệm Phật, nguyện chúng
sinh yên, thề lớn thương khắp, ơn trời như dội, mau đến
tìm giúp, ta cứu các ngươi. "Vua cá đâm đầu vào bùn, dùng
đuôi dở lưới, cả đàn chạy ra, bầy cá được sống, không
con nào là không đội ơn". Đức Phật bảo các tỳ kheo: "Vua
cá bấy giờ là thân ta, bầy tôi tả hữu là Thu Lộ Tử và
Mục Kiền Liên".
Chí
sắc vượt bờ của Bồ tát, tinh tấn như vậy.
61
Xưa
có Bồ tát thân làm vua rùa, ngày đêm tinh tấn, nghĩ phương
tiện lành để hồn chúng sinh được về chỗ bản vô. Lại
có vua rùa ở chung trong rừng sâu cùng thấy cắc kè leo cây
nhảy xuống, như vậy không dừng. Bồ tát bói xem, nói: "Đây
là điềm nguy mạng, chúng ta nên mau tránh đi là tốt". Vua
rùa kia ngu dốt tự chuyên chẳng theo lời thật. Bồ tát hết
lòng cứu con theo mình, khiến được thoát nạn.
Mười
ngày sau đó, Vua voi đem đàn đến cây nghỉ ngơi, cắc kè
nhảy xuống, rớt vào tai voi. Voi thất kinh kêu rống, đàn
voi chạy tán loạn, tung hoành lui tới dày chết các rùa. Vùa
rùa kia giận nói: "Biết việc như vầy mà không chỉ cho, ta
chết ngươi sống, lòng tốt ở đâu? Thề suốt kiếp tìm
ngươi, gặp là giết chết".
Đức
Phật bảo các tỳ kheo: "Rùa bói giỏi là thân ta, con rùa tự
chuyên không đi ấy là Điều Đạt".
Chí
sắc vượt bờ của Bồ tát, tinh tấn như vậy.
62
Xưa
có Bồ tát thân làm vua Anh vũ, đàn đông ba ngàn, có hai Anh
vũ, sức mạnh hơn đàn, miệng ngậm cành trúc, để làm xe
đi, vua cỡi trên đó, bay dừng dạo chơi. Vua thường cỡi
xe trúc, trên dưới trước sau tả hữu, mỗi phía năm trăm
Anh vũ, sáu mặt chầu hầu họp thành ba ngàn, dâng hiến món
ngon, vui thú theo thời. Vua tự nghĩ sâu: "Đàn vui loạn đức,
không sao được định. Ta phải quyền biến, bèn thác bệnh
không ăn, giả chết bỏ đàn". Cả đàn lấy cỏ phủ lên,
rồi mỗi bỏ đi. Vua dậy kiếm ăn. Đàn Anh vũ ấy bay đến
chỗ vua Anh vũ ở núi khác nói: "Vua tôi chết rồi, xin đến
làm tôi". Vua kia hỏi: "Vua ngươi đã chết, đem xác lại xem.
Nếu thật chết rồi, ta sẽ nhận đàn các ngươi". Chúng về
lấy xác, bỗng nhiên không thấy, đi tìm bốn phía, thấy được
vua mình. Tất cả làm lễ dâng cúng như cũ. Vua nói: "Ta còn
chưa chết, các ngươi đã bỏ đi rồi". Chư Phật dạy
rõ: Thấy đời không thân, chỉ Đạo đáng tôn. Sa môn cho
râu tóc làm nhơ loạn chí mình, nên cạo bỏ đi, chuộng hạnh
vô dục. Các ngươi vui ồn, tiếng tà loạn chí, nên ta một
mình không vợ, sánh đức thượng thánh". Nói xong bay đi, ở
chỗ sâu khuất, bỏ dục vô vi, suy nghĩ thiền định, các
dơ đều diệt, lòng như vàng trời.
Đức
Phật bảo các tỳ kheo: "Vua Anh vũ bấy giờ là thân ta".
Chí
sắc vô bờ của Bồ tát, tinh tấn như vậy.
63
Giống
với truyện 29 Lục độ
Xưa
có Bồ tát, thân làm vua bồ câu, bầy đông năm trăm, bay đến
vườn vua kiếm ăn. Vua thấy ra lệnh người giữ giăng lưới
bắt lấy. Cả đàn lớn nhỏ, không sót con nào, đem nhốt
vào lồng, lấy gạo ngon nuôi mập, để thái quan làm bữa
dâng vua. Vua bồ câu bị bắt, một lòng niệm Phật hối lỗi,
khởi lòng từ: "Nguyện cho chúng sanh bị bắt được thả,
mau thoát tám nạn, không như thân ta". Bèn gọi các bồ câu
bảo: "Các giới kinh Phật, tham là đầu mối. Người tham được
sang, như kẻ khát được thức uống độc, sự sướng đắc
chí lâu như lằn chớp, các khổ khốn thân, đến cả ức
năm. Các ngươi bỏ ăn, thân mạng được toàn". Cả đàn đáp:
"Bị bắt nhốt lồng, còn muốn mong gì?" Vua Bồ câu nói: "Trái
bỏ lời Phật, mặc lòng tham muốn, không ai là không mất
thân". Bèn tự bỏ ăn, thân mập ngày ốm, ra khỏi khe lồng,
bèn nhìn lại đàn, nói: "Bỏ tham nhịn ăn, sẽ được như
ta". Nói xong bay đi.
Đức
Phật bảo các tỳ kheo: "Vua bồ câu ấy là thân ta".
Chí
sắc vượt bờ của Bồ tát, tinh tấn như vậy.
64
PHẬT
NÓI KINH VUA ONG MẬT
Nghe
như vầy, một thời Phật ở nước Xá Vệ, vườn Cấp Cô
Độc, cây của Kỳ Đà. Đức Phật bảo đệ tử: "Hãy siêng
tinh tấn, nghe nhớ đọc tụng, không được lười biếng,
ấm cái che lấp. Ta nhớ quá khứ, vô số kiếp trước có
Phật tên Nhất Thiết Độ Vương Như Lai Vô Sở Trước Tối
Chính Giác, lúc ấy vì tất cả chư thiên nhân dân không thể
kể số mà giảng kinh pháp.
Bấy
giờ trong chúng có hai tỳ kheo, một vị tên Tinh Tấn Biện,
một vị tên Đức Lạc Chính, cùng ngồi nghe pháp. Tinh Tấn
Biện nghe kinh hoan hỉ. Ngay khi ấy liền chứng được quả
không thối chuyển, thần thông đầy đủ. Đức Lạc Chính
ngủ gục không thức, riêng không được gì.
Khi
ấy, Tinh Tấn Biện gọi Đức Lạc Chính bảo: "Đức Phật
khó gặp, ức trăm nghìn đời thì mới xuất hiện một lần,
nên phải tinh tấn làm việc cho người, sao lại ngủ gục?
Hễ người ngủ gục, bị tội che lấp, phải tự siêng gắng,
có tâm giác ngộ". Đức Lạc Chính nghe lời dạy bảo, liền
đi kinh hành giữa những hàng cây của Kỳ Đà. Vừa mới kinh
hành, lại ngủ gục nữa, vì vậy phiền loạn, không thể
định được. Ông liền đi ngay, đến bên bờ suối, ngồi
muốn thiền định, lại ngồi ngủ gục.
Bấy
giờ, Tinh Tấn Biện khéo dùng quyền biến, đi đến độ cho,
hóa làm vua ong, bay đến trước mắt như muốn chích vào. Đức
Lạc Chính lúc ấy kinh hãi thức ngồi dậy, sợ vua ong đó,
một chốc lại ngủ. Bấy giờ vua ong bay xuống dưới nách,
chích vào bụng ngực. Đức Lạc Chính thất kinh, trong lòng
run rẩy, không dám ngủ nữa. Lúc đó, ở giữa dòng suối
có hoa nhiều màu, ưu đàm, câu văn, thứ thứ tươi sạch.
Vua ong bay đậu trên hoa, hút lấy mật hoa. Đức Lạc Chính
đang ngồi nhìn thấy, sợ nó bay lại, không dám ngủ gục,
suy nghĩ vua ong xem xét gốc rễ. Vua ong hút nhụy, không bay
khỏi hoa. Chừng một lát sau, vua ong ngủ gục, rớt vào vũng
bùn, thân thể lấm dơ, lại bay trở về, đậu trên đóa hoa.
Lúc ấy, Đức Lạc Chính hướng về vua ong nói kệ:
Người
uống nước cam lồ
Thân
thể được yên ổn
Không
gắng lại đem về
Cho
khắp cả vợ con
Vì
sao rớt trong bùn
Tự
làm nhơ thân thể
Như
vậy là không khôn
Vị
cam lồ mất hết
Cũng
như đóa hoa này
Không
nên ở trong lâu
Trời
lặn hoa lại khép
Muốn
ra chẳng được nào
Phải
đợi mặt trời mọc
Ngươi
mới ra khỏi được
Mệt
tối trong đêm dài
Như
vầy rất khó nhọc
Lúc
ấy, vua ong hướng Đức Lạc Chính đáp lại bài kệ:
Đức
Phật như cam lồ
Lắng
nghe không nhàm đủ
Chẳng
nên có biếng lười
Vô
ích với tất cả
Năm
đường biển sanh tử
Ví
như rớt bùn nhơ
Trói
buộc trong ái dục
Vô
trí rất lầm mê
Trời
mọc các hoa nở
Như
sắc thân đức Phật
Trời
lặn hoa khép lại
Thế
Tôn đã nhập diệt
Gặp
đời có Như lai
Phải
mau tinh tấn thọ
Trừ
bỏ ngủ ngăn che
Chớ
bảo Phật thường có
Yếu
tuệ của pháp sâu
Không
dùng sắc nhân duyên
Ấy
hiện có người trí
Phải
biết là phương tiện
Chỗ
độ của phương tiện
Có
ích không nêu dối
Mà
hiện biến hóa này
Cũng
vì tất cả ấy
Khi
Đức Lạc Chính nghe nói như vậy, liền được Vô sinh pháp
nhẫn, hiểu các pháp căn bản và đà la ni, biết Tinh Tấn
Biện dùng phương tiện quyền xảo, thường siêng kinh hành,
không còn biếng nhác, đến lúc cũng được ngôi không thối
chuyển.
Đức
Phật bảo A Nan: "Tinh Tấn Biện lúc ấy nay là thân ta. Đức
Lạc Chính là Di Lặc". Đức Phật bảo A Nan: "Ta bấy giờ
với Di Lặc cùng nghe kinh pháp. Di Lặc lúc ấy ngủ gục, riêng
không được gì. Nếu ta bấy giờ không dùng phương tiện
thiện xảo mà cứu độ, thì Di Lặc đến nay còn ở trong
đường sinh tử, chưa được độ thoát. Ai nghe pháp này, thường
nên tinh tấn, rộng khuyên tất cả, đều khiến trừ bỏ ngủ
ngáy che lấp, phải tạo căn bản cho trí tuệ quang minh".
Nói
việc ấy rồi, có vô số người phát lòng vô thượng bình
đẳng.
Chí
sắc vượt bờ của Bồ tát, tinh tấn như vậy.
65
KINH
ĐỨC PHẬTCƯỜI VÌ BA VIỆC
Xưa
có Bồ Tát làm người cư sĩ, qui y ba báu, nhân từ rộng lớn,
quên mình cứu vật, giữ sạch không trộm, bố thí đến khắp,
trinh không dâm tà, xét bỏ lòng dâm, tín giống bốn mùa, nặng
như Tu di, dứt rượu không uống, quí hiếu vâng thân. Tháng
giêng giữ chay sáu ngày, tinh tấn không mệt. Sinh gặp thời
Phật, đức hạnh ngày thêm, đến thành Như Lai Vô Sở Trước
Chính Chân Giác Đạo Pháp Ngự Thiên Nhân Sư giáo hóa khắp
nơi.
Khi
đi qua chợ, thấy một ông lão đong đấu bán cá, buồn thương
than thở: "Oan quá, trời ơi! Con tôi tội gì, mà sớm chết
đi, con còn bán cá, tôi đâu cực khổ thế này". Đức Phật
thấy vậy mỉm cười, miệng có hào quang năm sắc. Qua chợ
một lúc, lại thấy heo lớn lấm phân đi đường. Đức Phật
lại cười. A Nan sửa y, cúi đầu thưa: "Lần trước Phật
cười, vì có nhiều người, không do đâu mà kính hỏi. Nay
lại cười nữa, ắt có điều dạy, xin mở lòng nghi đại
chúng, để làm khuôn phép đời sau". Đức Thế Tôn nói: "Này
A Nan! Ta cười có ba lý do: Một là thấy cái ngu của ông lão
kia rất là to lớn, hằng ngày giăng lưới, hại mạng quần
sinh mà không có mảy may trắc ẩn, vạ lây chết con, lại
đi oán trời, kêu than ghê sợ, đó là hạnh của kẻ hạ ngu,
chẳng phải lòng nhân của trời đất, lòng thứ tha của hiền
thánh, vì vậy ta cười. Thuở xưa, Phi Hành hoàng đế, trồng
phúc vòi vọi, nhưng lòng kiêu nết hung, nên nay làm cá người
đong bán, đấy là thứ hai. Không nghĩ trời người, thọ tám
mươi ức bốn ngàn vạn kiếp, lòng chuyên nơi không, nhưng
không thể làm không cái không, trở về vốn không, nên phúc
hết, chịu tội, nay ở trong đấu, đây là ba. A nan hỏi: "Phi
hành hoàng đế, so với bậc thiên tôn kia, đức cao vòi vọi,
sao lại không thoát khỏi tội?" Đức Thế Tôn nói: "Họa phúc
chẳng thật, có gì là thường? Hễ sống sang quý, thi ân bốn
đẳng, hiểu bốn vô thường thì thoát được họa kia. Nếu
nhân sang quý, mà tự toại chí, buông lòng theo tà thì phúc
hết chịu tội. Từ xưa đến nay đều thế, họa phúc theo
mình như bóng đuổi hình, như vang đáp tiếng, há có sang hèn
ư? Khi ta đời trước, làm người cư sĩ. Bấy giờ có người
hàng xóm thích thờ ma quỷ, họp với loài gian, không tin làm
ác, họa nặng sẽ đáp. Mỗi đến ngày trai, ta kêu vào chùa
thờ Phật Chính Chân, nghe các sa môn giảng nói giáo pháp trong
sạch, để làm gốc đức, ngăn tuyệt họa hung, thì nó dâm
hoang, nói dối bận việc. Ta đến chùa Phật, còn nó đi đường
tà. Từ đó về sau, ta sinh ra đời, gặp Phật nghe Pháp, cùng
sánh chí với sa môn, đức hạnh ngày tăng, đến thành Như
Lai Vô Sở Trước Chánh Chân Đạo Tối Chánh Giác Đạo Pháp
Ngự Thiên Nhân Sư, làm bậc tôn quý trong ba cõi, hiệu là
Pháp Vương. Còn người hàng xóm thích thờ thuật quỷ, tàn
hại quần sinh, buông theo nữ sắc, rượu trà điên loạn,
không có hiếu hạnh, tự cho đắc chí, nên trôi nổi ba đường,
khổ sở vô lượng.
Ta
đã thành Phật, người ấy tiếp tục làm loài thú dơ. Vì
vậy ta cười.
Đức
Phật bảo A Nan: "Ta nhiều kiếp xem kinh tìm nghĩa, thân mến
sa môn, nên được công đức vòi vọi".
Chí
sắc vượt bờ của Bồ Tát, tinh tấn như vậy.
66
KINH
ĐỨA BÉ NGHE PHÁP LIỀN HIỂU
Xưa
có tỳ kheo, tinh tấn giữ phép, nhỏ giữ giới cấm, không
chút hủy phạm, thường tu phạm hạnh, nghỉ ở tinh xá. Nếu
có tụng kinh thì tụng Bát nhã ba la mật. Khi giảng kinh, tiếng
hay không ai bì kịp. Nếu nghe tiếng tỳ kheo ấy, không ai là
không hoan hỷ.
Có
một đứa bé, tuổi vừa lên bảy, ngoài thành chăn trâu, xa
nghe tiếng vị tỳ kheo tụng kinh, liền lần theo tiếng, tìm
đến tinh xá, lễ vị tỳ kheo, rồi ngồi một bên, để nghe
lời kinh. Khi giảng gốc sắc, nghe xong hiểu ngay, đứa bé
rất vui. Tiếng kinh vừa dứt, bèn hỏi tỳ kheo. Tỳ kheo đối
đáp, không vừa ý bé. Bấy giờ bé lại giảng giải, nghĩa
kinh rất hay, từ xưa ít nghe. Tỳ kheo nghe rồi, rất là vui
vẻ lấy làm lạ về đứa bé ấy, sao có trí tuệ, chẳng
phải người phàm.
Lúc
ấy bé liền đi về chỗ trâu. Trâu nghé nó chăn, chạy mất
vào núi. Bé theo dấu chân mò mẩm đi tìm, chẳng may gặp cọp
bị hại. Đứa bé ấy chết, thần hồn liền chuyển, sinh
nhà trưởng giả, làm con vợ cả. Vợ cả mang thai, miệng
có thể nói kinh Bát nhã ba la mật, từ sáng đến chiều, không
chút lười biếng. Nhà vị trưởng giả, rặt không hiểu đạo,
sợ miệng vợ cả nói sàm, cho là bệnh quỷ, đi hỏi trừ
tà, không chỗ nào không đến, mà chẳng ai biết. Trưởng
giả buồn lắm, không biết vợ mắc bệnh gì, trong nhà nội
ngoại, thảy đều lo lắng.
Bấy
giờ tỳ kheo vào thành khất thực, đến cửa trưởng giả,
xa nghe tiếng kinh, lòng rất vui vẻ. Đứng cửa một hồi,
chủ nhân chợt ra, thấy vị tỳ kheo, cũng không làm lễ. Vị
tỳ kheo lấy làm lạ: "Trong nhà hiền giả này có người đọc
kinh tiếng hay đến thế, mà nay sao trưởng giả này lại không
nói năng gì với ta?" Liền hỏi trưởng giả: "Trong nhà có
ai đọc kinh tiếng hay như thế?" Trưởng giả đáp: "Vợ tôi
trong nhà bị mắc bệnh quỷ, ngày đêm nói sàm, miệng không
chút ngớt". Lúc ấy, tỳ kheo mới biết nhà trưởng giả này
là không hiểu đạo. Tỳ kheo nói: "Đây không phải là bệnh
quỷ, chỉ giảng kinh quý, đạo lớn của Phật, xin được
vào nhà cùng người ấy gặp mặt ".
Trưởng
giả nói: "Tốt". Bèn dẫn tỳ kheo vào chỗ người vợ. Người
vợ thấy vị tỳ kheo, liền làm lễ. Tỳ kheo chú nguyện,
nói mắc bệnh Phật. Bèn cùng tỳ kheo, hỏi giảng kinh pháp,
đem giải nghĩa kỹ, tỳ kheo rất vui. Trưởng giả hỏi "Đây
là bệnh gì?" Tỳ kheo đáp: "Không có bệnh gì. Chỉ đọc
kinh mầu, rất có nghĩa lý. Tôi nghĩ phu nhân có mang đứa
bé là đệ tử Phật". Trưởng giả hiểu ra, bèn giữ tỳ
kheo ở lại, cùng mình ăn uống. Khi ăn uống xong, tỳ kheo
trở về tinh xá, lần lượt kể lại: "Có vợ của trưởng
giả, có mang rất lạ, miệng đọc kinh quí, nói năng lưu loát,
tiếng đọc du dương, giải thích lý kinh rất sâu.
Hôm
sau trưởng giả lại thỉnh tỳ kheo cùng với chúng tăng đến
nhà, sắm đủ cơm nước. Tới giờ đều đến ngồi chỗ
đã định, rửa tay ăn uống. Xong thì chú nguyện, nhận vật
cúng dường. Bấy giờ phu nhân bước ra, lễ các tỳ kheo,
rồi ngồi một bên lại vì tỳ kheo, vui thuyết kinh pháp, có
những chỗ nghi, không thể hiểu thấu, phu nhân hết lòng,
vì các tỳ kheo, giải nói đầy đủ, chúng tăng phấn chấn,
vui vẻ trở về.
Đủ
ngày đầy tháng, phu nhân tại nơi sinh được bé trai mà không
nước bẩn. Cậu bé vừa sinh, liền chắp tay quì gối tụng
Bát nhã ba la mật. Phu nhân sinh rồi, trở lại như cũ, không
còn biết chi, như mộng vừa thức, chẳng biết gì hết. Trưởng
giả lại mời chúng tăng, tỳ kheo đều đi xem đứa bé giảng
kinh, chuyện xưa, không chút vấp váp. Bấy giờ chúng Tăng
mỗi mỗi một lòng xem xét nguồn gốc đứa bé, đều không
thể biết. Trưởng giả hỏi: "Nó là người nào?" Tỳ kheo
đáp: "Đó thực là đệ tử Phật, cẩn thận chớ sợ hãi
nghi ngờ, khéo nuôi nấng nó. Đứa bé sau này lớn sẽ làm
Thầy tất cả mọi người, chúng tôi thảy phải theo nó mà
học."
Khi
bé lớn lên, đến được bảy tuổi, biết hết mọi việc
vi diệu của đạo đời, siêu tuyệt mọi người, trí tuệ
vượt bậc. Các tỳ kheo đều theo học tập. Trong kinh có chỗ
lầm lẫn thoát lạc, ít ngắn, đều được san định, bổ
túc đoạn thiếu. Bé mỗi lần ra vào đều có mục đích.
Bèn dạy dỗ người, khiến phát lòng đại thừa. Nhà cửa
trưởng giả, trong ngoài lớn nhỏ, đông năm trăm người,
đều theo Bé học, phát lòng đại thừa, thảy làm việc Phật.
Bé dạy dỗ từ thành thị đến thôn quê khoảng tám vạn
bốn nghìn người đều phát lòng vô thượng chính đạo, năm
trăm người thuộc thừa Thanh văn. Các tỳ kheo nghe bé giảng,
gốc tâm hữu lậu đều được cởi bỏ. Người có chí cầu
đại thừa, đều được mắt pháp trong sạch.
Đức
Phật bảo A Nan: "Đứa bé bầy giờ là thân ta, tỳ kheo ấy
là Phật Ca Diếp. Như vậy, này A Nan! Ta thuở xưa một lần
theo vị tỳ kheo nghe phẩm đại thừa liền ca ngợi hiểu rõ,
tâm ý vui mừng chẳng chuyển, tinh tấn chẳng quên, sâu biết
kiếp trước, tự mình chuyên tâm, vô thượng bình đẳng chính
giác. Một lần nghe kinh, đức còn như thế, huống gì trọn
ngày tuân theo tu hành".
Chí
sắc vượt bờ của Bồ tát, tinh tấn như vậy.
67
KINH
GIẾT MÌNH CỨU NGƯỜI BUÔN
Xưa
có Bồ tát, cùng năm trăm lái buôn đi vào biển lớn, định
tìm các báu. Vào biển mấy tháng, của báu tìm được, chở
nặng đầy thuyền. Khi sắp về quê, giữa đường gặp cơn
bão, sấm sét rung đất, thần nước tụ lại, vây kín bốn
bề như thành, mắt nhìn tóe lửa, sóng vỗ ướt núi, mọi
người kêu khóc. "Chúng ta chắc chết". Sợ hãi biến sắc,
ngửa mặt lên trời kêu cứu. Bồ tát buồn bã lòng nghĩ ra
kế: "Ta cầu thành Phật, chỉ vì chúng sinh. Thần biển ghét
nhất là gặp thây chết, liều mình cứu người là sự nghiệp
cao cả của Bồ tát. Ta không lấy máu mình đổ xuống biển
thì thần biển làm dữ, chắc thuyền nhân rốt cuộc không
thể qua bờ kia". Bèn gọi mọi người bảo: "Các ngươi đan
tay nhau lại, nắm lấy thân ta" Mọi người vâng lời, Bồ
tát rút dao, tự đâm chết mình. Thần biển ghét thấy, đẩy
thuyền vào bờ, mọi người được cứu. Thuyền nhân ôm thây,
kêu trời gào khóc: "Đây chắc Bồ tát, chứ không phải hạng
người tầm thường". Rồi lăn lộn kêu trời: "Thà để chúng
tôi mất mạng nơi đây, chứ đừng giết kẻ sĩ cao đức".
Lời nói chân thành, cảm tới chư thiên, Trời Đế Thích thấy
Bồ tát lòng từ rộng lớn, cả đời ít có. Đế Thích tự
thân xuống nói: "Đây là bậc Bồ tát chí đức, sẽ là đấng
thánh hùng, nay ta tự cứu sống lại". Bèn lấy thuốc trời
đổ vào trong miệng, và thoa khắp thân thể. Bồ tát sống
lại, bỗng nhiên ngồi dậy, cùng mọi người hỏi han. Đế
Thích đem cho danh báu đầy thuyền gấp nghìn lúc trước. Rồi
họ về quê, bà con gặp lại không ai là không vui mừng. Bèn
biếu nghèo giúp thiếu, cho khắp chúng sinh, tuyên giảng kinh
Phật, khai hóa ngu mờ. Quốc vương cảm đức Bồ tát, đến
theo thanh hóa. Vua nhân, tôi trung, cả nước giữ giới, nhà
có con hiếu, nước giàu nạn hết, dân chúng mừng vui, chết
đều lên trời, mãi rời các khổ. Bồ tát nhiều kiếp tinh
tấn không dừng cho đến lúc thành Phật.
Phật
bảo các tỳ kheo: "Người giết mình cứu người đó là thân
ta, trời Đế Thích là Di Lặc, năm trăm lái buôn nay là La
hán đang ngồi trong đây".
Chí
sắc vượt bờ của Bồ tát, tinh tấn như vậy.
68
Xưa
có Bồ tát, làm con mẹ góa, sáng đến chùa Phật, bỏ tà
chuộng chân, đảnh lễ sa môn, vâng theo lời Phật, sáng học
chiều luyện. Bình minh trời mọc, tìm hiểu các kinh, hạnh
hiếu hiền xưa tinh thành ngưỡng mộ, như đói mơ ăn.
Nước
của ngài ở, có vua nói vô đạo, tham tài trọng sắc, bạc
hiền khinh dân. Vua nhớ vô thường tự nghĩ: "Ta làm chẳng
lành, chết vào núi Thái. Sao không gom vàng dâng vui núi Thái?"
Thế rồi thâu vàng của dân, ra lệnh nghiêm ngặt: "Nếu ai
giấu phân vàng, tội đến tử hình". Như vậy ba năm, vàng
dân đều hết. Vua vờ treo giải: "Ai có chút vàng đem dâng,
vua sẽ gả gái út cho làm vợ, ban tước vị cao".
Đứa
bé thưa mẹ: "Xưa mẹ đem một đồng tiền vàng đặt trong
miệng cha khi mất, định để hối lộ cho vua núi Thái nay
chắc hãy còn, vậy có thể lấy đem dâng vua". Người mẹ
nói: "Được". Bé lấy đem dâng. Vua ra lệnh tra hỏi do đâu
được vàng. Bé đáp: "Khi cha tôi mất, mẹ đem vàng đặt
trong miệng, định đút lót núi Thái". Nay nghe Đại vương
đặt tước, kiếm vàng, mới quật mộ gỡ gỗ lấy vàng".
Vua hỏi: "Cha ngươi mất đến nay mấy năm rồi? Bé đáp: "Đã
mười một năm". Vua hỏi: "Cha ngươi không hối lộ vua núi
Thái sao?" Bé đáp: "Sách vở thánh hiền, chỉ lời Phật dạy
là đúng". Kinh Phật dạy: "Làm lành phúc theo, làm ác họa
tới, họa với phúc như bóng với tiếng vang. Chạy thân để
tránh bóng, vỗ núi để bặt tiếng vang, việc ấy có được
không?" Vua nói: "Không thể được". Bé nói: "Phàm thân tức
do bốn đại, khi chết, bốn đại phân rã, hồn linh ra đi,
biến hóa, theo nghiệp mà đi, đút lót nào được. Đại vương
đời trước bố thí làm đức, nay được làm vua, lại chuộng
nhân ái, ơn thấm xa gần, tuy chưa đắc đạo, đời sau sẽ
lại làm vua". Lòng vua hoan hỉ, đại xá tù ngục, trả vàng
đã đoạt.
Phật
bảo các tỳ kheo: "Khi vua muốn lấy vàng còn trong dân mà giết
hại người vô tội. Bồ tát thấy dân kêu ca, do vậy gạt
lệ, xông mình vào nơi chính trị hà khắc, để cứu dân khỏi
nạn lầm than. Dân cảm ơn ấy, thờ Phật giữ giới, nước
mới giàu sang. Đứa bé lúc ấy là thân ta".
Chí
sắc vượt bờ của Bồ Tát, tinh tấn như vậy.
69
KINH
ĐIỀU ĐẠT DẠY NGƯỜI LÀM ÁC
Xưa
có Bồ tát ngôi làm vua trời, chuyên giữ hạnh nhỏ, chí tiến
như nước, mỗi đến ngày trai, lên ngồi xe ngựa, tuần tra
bốn phương, dạy kinh Phật sâu, khai hóa chúng sinh, gột trừ
vết nhơ, khiến họ tôn sùng đạo giáo quí của đức Như
Lai Ưng Nghi Chính Chân Giác, bậc trời trong các trời, vua trong
các Thánh, lìa được nguồn gốc các khổ của ba đường.
Điều
Đạt cũng là vua trời cõi ma, đi dạo bốn phương, dạy người
làm ác tùy theo ý muốn, chẳng có quả báo họa ương núi
Thái. Đi gặp Bồ Tát, Điều Đạt hỏi: "Ngài đi đâu vậy?"
Đáp: "Dạy dân thờ Phật, tu đức thượng thánh". Điều Đạt
nói: "Tôi dạy dân buông dục, đời sau không tai họa. Làm
lành nhọc chí, không ích cho mình". Bồ tát nói: "Ngươi tránh
đường ta" Điều Đạt đáp: "Ông làm lành như vàng bạc,
tôi chuộng ác như gang sắt, gang sắt có thể cắt vàng bạc,
chứ vàng bạc không thể cắt gang sắt. Ông không bỏ đường
ấy, tôi sẽ chém ông". Điều Đạt ác nhiều, thành họa,
sống vào núi Thái.
Phàm
người làm ác, chết vào ba đường. Trong ba đường mà làm
lành, không ai là không lên trời. Dẫu ở chỗ sang quí mà
ôm lòng ác dữ, chẳng bằng ở nơi ba đường mà nhớ một
lời Phật dạy.
Đức
Phật bảo các tỳ kheo: "Vua trời dạy người làm lành là
thân ta, còn Vua trời mà dẫn người làm ác là Điều Đạt".
Chí
sắc vượt bờ của Bồ tát, tinh tấn như vậy.
70
KINH
GIẾT RỒNG CỨU CẢ NƯỚC
Xưa
có Bồ tát, anh em một lòng đều đi học đạo, ngưỡng mộ
chư Phật, đức hạnh khó bì, tụng kinh giải nghĩa, khai đạo
sáu tối, luyện bỏ lòng uế, thiền định chỉ quán. Mỗi
khi nghe nước nào, mù mờ với ba ngôi báu, liền đến dạy
bảo, khiến giữ diệu hạnh chân chính của sáu độ.
Bấy
giờ có một nước lớn, vua thích học đạo, lũ yêu dụ dỗ,
dạy điều tà ngụy, cả nước vâng thói, đều thờ đạo
quỉ. Mưa gió thất thời, yêu quái khắp nước. Anh em Bồ
tát, cùng tự bàn nhau. Đất nước chúng ta, ba báu hành hóa,
người giữ mười lành, Vua nhân tôi trung, cha nghĩa con hiếu,
chồng tín vợ trinh, nhà có người hiền, thì chúng ta lại
dạy ai nữa? Nước kia tin quỉ, rồng rắn ở đó, nuốt hết
dân đen, kêu van chẳng cứu, mà ta lập chí cầu Phật, chỉ
vì loại ấy. Vậy có thể đem đạo đến dạy, đem nhân dẫn
dụ, rồng ngậm độc dữ, chúng ta diệt nó". Người em nói:
"Giới Phật cho giết là tội hung ngược lớn nhất, cứu sống
là đầu mối của đạo nhân, vậy phải làm sao?" Người anh
nói: "Hễ giết một người, chịu tội trăm kiếp, nay rồng
nuốt cả nước, ta sợ hằng sa kiếp hết, họa nó chưa trừ.
Nếu tham nếm chút lợi trong chốc lát, mà không thấy cái
tội thiêu đốt núi Thái sơn, lòng ta thấy thương: Làm người
khó được, Phật pháp khó nghe, giết rồng cứu cả nước,
đem ba ngôi báu và cao hạnh sáu độ dẫn dạy thì họa như
tơ tóc mà phúc như đất trời vậy. Em hóa làm voi, ta làm
sư tử, nếu hai mạng không chết, thì không cứu được nước
này.
Rồi
cúi lạy mười phương thề: "Chúng sinh không yên, là lỗi
tại tôi, sau thành Phật, sẽ độ tất cả". Voi đến chỗ
rồng, sư tử lên đó. Rồng liền dương oai, sấm rền chớp
lóe, sư tử dậm chân rống lên. Oai linh của rồng, thế hách
sư tử, chấn Động khắp nơi, ba mạng đều chết. Chư Thiên
ca ngợi, không ai là không tán thán lòng nhân.
Hai
Bồ tát mệnh chung, sinh lên cõi trời thứ tư. Cả nước toàn
mạng, ôm thây kêu khóc nói: "Đây ắt là thần, chứ ai nhân
từ như vậy?". Môn đồ tìm đến, thấy thầy có lòng từ
rộng lớn, giết mình cứu người, đều khóc thương ca tụng
đức độ, mỗi người lại lên đường, tuyên hóa đạo thầy,
vua và quan dân mới biết Phật. Cả nước đều nói: "Đức
nhân hóa của Phật đến như thế ư?" Chôn cất hai thầy,
cả nước buồn thương. Vua liền ra lệnh: "Có ai không vâng
giữ sáu độ, mười lành của Phật mà thờ yêu quỉ thì
bị tội cả quyến thuộc". Từ đó về sau, nước có sa môn
số ngàn sánh vai mà đi. Trai gái trong nước đều làm hạnh
cao thanh tín, bốn cõi yên lành bèn đến thái bình.
Đức
Phật bảo các tỳ kheo: "Người anh lúc ấy là ta, người em
là Di Lặc, còn rồng dữ là Điều Đạt".
Chí
sắc vượt bờ của Bồ Tát, tinh tấn như vậy.
71
KINH
DI LẶC LÀM THÂN NGƯỜI NỮ
Xưa
có Bồ tát làm trời Đế Thích, ngôn quí có sang, mà lòng
vẫn nhớ vô thường, khổ, không, vô ngã. Ngồi thì suy nghĩ
đi thì giáo hóa, thương người ngu, yêu kẻ trí, đem trí tuệ
dạy, tinh tấn không ngừng. Thấy bạn kiếp trước chịu thân
người nữ, làm vợ nhà giàu, mê nơi tài sắc, không hiểu
vô thường, ở chợ bán quán.
Trời
Đế Thích hóa làm lái buôn, giả vờ đi chợ, đến đứng
trước người đàn bà. Bà ấy vui vẻ, sai con chạy về, lấy
cái ghế một định mời ngồi lên. Lái buôn nhìn kỹ người
đàn bà và mỉm cười. Bà giữ tiết hạnh cao, lòng lấy làm
lạ. Lái buôn đứng cười không đúng cách. Đứa bé đi lấy
ghế trễ, nên khi về bị đánh. Lái buôn lại cười. Có người
cha bệnh, con bắt trâu đem tế quỉ. Lái buôn cũng cười.
Có người đàn bà bồng con nâng niu đi dạo trong chợ, con
quào rách mặt, máu chảy quanh cổ. Lái buôn lại cười. Khi
ấy vợ người nhà giàu hỏi: "Ông đứng trước tôi, mỉm
cười không thôi, tôi đánh đứa bé, ấy là tại ông, vì
sao ông cười?" Lái buôn nói: "Nàng là bạn tốt của ta, nay
quên rồi sao?" Người đàn bà ấy buồn bã, lòng càng chẳng
vui, lấy làm lạ về điều lái buôn nói. Lái buôn lại nói:
"Tôi sở dĩ cười nàng đánh con, vì nó là cha nàng. Hồn linh
cảm lại, nên đầu thai làm con nàng. Trong khoảng một đời,
có cha mà không biết, huống gì lâu dài? Đứa bé đánh trống
cơm vốn là con trâu. Trâu chết, phách linh về làm con người
chủ, nhà lấy da trâu để bịt trống. Nay nó ôm đánh, nhảy
nhót múa cười, chẳng biết da ấy là thân xưa của nó,
nên ta cười. Còn người giết trâu đem tế, bệnh cha xin sống.
Muốn sống mà giết, việc rất chẳng lành, như uống độc
chim cưu để chữa bịnh. Người cha ấy vừa chết, chết thì
làm trâu, nhiều đời bị đâm giết, chịu họa không thôi,
nay đem trâu tế, trâu chết, hồn về, sẽ thọ thân người
thoát hết sầu khổ, nên ta lại cười. Bé quào mặt mẹ,
vốn là vợ nhỏ, mẹ là vợ lớn. Nữ tình chuyên dâm, lòng
mang ghen ghét, thường gây khốc bạo, nên vợ nhỏ ngậm hờn,
khi chết, hồn sinh làm vợ lớn, nay đến báo thù, rạch mặt,
thương thân, mà chẳng dám oán, thế nên ta cười. Phàm tâm
chúng sinh, vốn nó không thường, xưa ghét nay yêu, nào có
thường đâu. Đấy chuyện một đời, thấy còn không biết,
huống gì nhiều kiếp. Kinh dạy: Vì sắc vùi thân, đạo lớn
không thấy, chuyên nghe tiếng tà, không nghe âm hưởng lời
Phật, vì vậy ta cười. Giàu sang như chớp, giây lát liền
diệt, phải hiểu vô thường, chớ như lũ ngu, trau dồi nết
đức diệu hạnh sáu độ. Ta nay trở về, hôm sau sẽ đến
nhà ngươi.".
Nói
xong bỗng nhiên không thấy. Người đàn bà buồn bã trở về,
trai giới nghiêm túc, ngóng trông ngưỡng mộ, cả nước đều
nghe. Vua và các quan, không ai là không khâm phục. Lái buôn
sau quả đến cửa, hình dạng xấu xí, áo quần tồi tàn,
hỏi: "Bạn ta trong ấy, ngươi gọi thì ra". Người nhà vào
báo, kể đủ như vậy. Người đàn bà đi ra nói: "Ngươi không
phải bạn ta". Đế Thích mỉm cười nói: "Biến hình đổi
áo, nàng còn không biết, huống chi đời khác, bỏ thân này
thọ thân kia sao?" Lại nói: "Nàng siêng thờ Phật, thời Phật
khó gặp, tỳ kheo cao hạnh khó được cúng dường, mạng người
như hơi thở, đừng theo đời mê". Nói xong không thấy. Cả
nước vui khen, mỗi giữ sáu độ, hạnh cao diệu vợi.
Đức
Phật bảo Thu Lộ Tử: "Người đàn bà bấy giờ là Di Lặc,
còn trời Đế Thích ấy là thân ta".
Chí
sắc vượt bờ của Bồ Tát, tinh tấn như vậy.
72
KINH
NGƯỜI NỮ CẦU NGUYỆN
Xưa
có Bồ tát, làm thân người nữ. Người chồng tính khí ngu
ác hay ghen. Mỗi khi đi buôn bán, đem vợ gửi cho bà góa lối
xóm. Mẹ góa vâng giữ giới Phật, làm hạnh thanh tín. Khi
Phật vào nước, vua cùng thần dân, không ai là không thọ
giới. Mẹ góa nghe kinh, về nói cho người đàn bà ấy nghe.
Bà ấy vui khen: "Đây chắc là đấng Vô Thượng Chính Chân
Đạo Tối Chính Giác "Bèn theo mẹ góa đi nghe Phật. Từ xa
thấy Phật liền đảnh lễ. Ngày chay, mẹ góa hỏi: "Con đi
nghe kinh được không?" Bà vui vẻ đáp: "Dạ được". Rồi
theo đi đến ngoài thành, bỗng nhớ chồng hay ghen, buồn bã
không vui, về lại nhà, tự khinh mình, nói: "Họa ta nặng vậy
sao?" Mẹ nghe về, thuật lại: "Hôm nay, trời rồng quỉ thần,
đế vương thần dân đi nghe kinh, có người chứng bốn quả
sa môn, hoặc nhận thọ ký bồ tát. Thời Phật khó gặp, kinh
pháp khó nghe, sao con trở về?" Người ấy nghe đức độ Phật,
rơi lệ thuật rõ lòng ghen của chồng. Người mẹ góa
nói: "Cứ thử đi một lần". Người vợ đáp: "Xin vâng".
Sáng
mai theo mẹ góa đến gặp Phật, bèn gieo năm vóc xuống đất
lạy, rồi đứng một bên với tâm trong sạch, thấy tướng
Phật đẹp, nghĩ Phật thanh tịnh, thật bậc trời kính. Đức
Phật hỏi người vợ rằng: "Con đến đây có ước nguyện
gì?" Người vợ cúi đầu thưa: "Con nghe đức Phật là đấng
Vô Thượng Chính Chân Đạo Tối Chính Giác Đạo Pháp Ngự
Thiên Nhân Sư, đức như hằng sa, trí như hư không, sáu thông
bốn trí, chứng nhất thiết trí. Nay mới có dịp đến viếng
đức Thế Tôn, xin Phật thương con". Đức Thế Tôn bảo: "Phật
giúp tất cả, con tự do trình bày sở nguyện". Người vợ
cúi đầu thưa: "Phàm người ở đơ
i,
chưa hiểu bổn không, đều vì tham dục, mà thành vợ chồng
ăn ở với nhau. Xin khiến con đời đời cùng người chí đức
ở thành vợ chồng đồng chí không có nết ghen. Hai là thân,
miệng, ý, nết hạnh đoan chính tuyệt thế. Ba là đời đời
kính vâng ba báu, lòng trần ngày một tiêu trừ, tinh tấn học
đạo không mỏi, chư Phật giúp sức, các tà không cản, tất
được nhất thiết trí, cứu nạn chúng sinh". Đức Thế Tôn
tán thán: "Lành thay! Lành thay! Mong người được vậy". Người
đàn bà rất vui mừng, cúi đầu lạy, rồi trở lại nhà.
Người
chồng buôn bán trở về, đi thuyền đường sông, lẽ ra ngày
ấy thì đến. Trời Đế Thích thấy người vợ đức hạnh
cao cả, phát nguyện không bì, bèn giúp vui khen lành, làm nổi
gió mưa, chận mái thuyền đi, sáng mai mới tới. Người vợ
sau khi chết, thần hồn sinh vào nhà có đạo đức, sắc đẹp
tuyệt trần, lớn lên lấy chồng, làm vợ nho sĩ của nước,
cả nước khen là cao hiền. Khi chồng đi biển tìm báu, muốn
cứu dân nghèo, vợ ở nhà, lấy lễ tự giữ, như bức thành
bảo vệ chống cướp. Hậu phi của vua, thê thiếp đại thần,
không ai là không ngưỡng mộ, đến cửa như mây nhóm, vâng
học nếp đức. Người vợ đêm ngủ tỉnh giấc nghĩ: "Đời
là vô thường, giàu sang như huyễn, ai được lâu dài, thân
như thuyền mục, thần hồn phải chở, như người đươ
c bóng
trăng, mà mong báu trời, nhọc lòng khổ thân, ích gì cho mình,
mộng huyễn đều không thì đời sang trời thần cũng về
chỗ đó. Sáng mai ta sẽ đi tìm bậc Vô Thượng Chính Chân,
bậc trời trong trời làm thầy cho ta".
Sáng
sớm thức dậy, đã thấy tháp đá trước sân, tượng Phật
vàng ánh, vách chạm viết kinh, ca ngợi đức Phật là thầy
các thánh, đi một mình trong ba cõi. Người đàn bà mừng vui
khen: "Đây chắc là đấng Như Lai Ứng Nghi Chính Chân Đạo
Tối Chính Giác ư? Bèn gieo năm vóc xuống đất, rồi nhiễu
quanh miếu ba vòng, rải hoa thắp hương, đốt đèn giăng gấm,
sớm hôm thành kính, cúi đầu cúng lễ. Vương hậu, và phụ
nữ trong nước xin theo thói sạch, bỏ tà chuộng chân.
Hàng
xóm có kẻ hung phu đi buôn gặp chồng bà ấy nói: "Vợ anh
theo yêu, dối dựng miếu quỉ, sớm tối xông hương, bùa chú
yêu ma, nguyền cho anh chết, thật rất chẳng lành. Chồng về,
vợ thưa: "Thiếp một đêm trước, hiểu đời vô thường,
sáng thấy tượng tuyệt đẹp của bậc tôn linh vô thượng
chính chân, đến ở giữa sân, nay thiếp cúng thờ, đốt hương
thắp đèn, treo gấm dâng hoa, sớm hôm lễ bái, cúi đầu tự
qui. Vậy chàng hãy thờ đi, ắt hợp pháp thánh". Chồng rất
vui mừng, một lòng thành kính. Người trong nước lớn nhỏ,
hết thảy vâng theo, như vậy đến tám vạn bốn nghìn năm.
Đức
Phật bảo Thu Lộ Tử: "Người đàn bà bấy giờ là thân ta,
người chồng lúc ấy là Di Lặc, bà mẹ góa là Thu Lộ Tử,
còn kẻ hung phu hàng xóm là Điều Đạt".
Chí
sắc vượt bờ của Bồ tát, tinh tấn như vậy.
73
KINH
NGƯỜI THẮP ĐÈN THỌ KÝ
Xưa
có Bồ tát, thân làm người nữ, trẻ đã góa bụa, thủ tiết
qui y ba báu, chịu nghèo vui đạo, tinh tấn không lười, trừ
bỏ lời dữ, làm nghề bán dầu.
Bấy
giờ có một sa môn, tuổi đã về chiều, lòng giữ hạnh cao,
chẳng thông văn học, bọn ưa khen chê đều bảo không trí,
thiên về lễ kính, thiếu trước hụt sau, đi xin dầu mè,
đem cúng trước Phật. Mẹ góa biết vậy, dâng không thiếu
một ngày. Có một tỳ kheo, cúi đầu lạy dưới chân Phật,
chắp tay thưa: "Tỳ kheo già ấy, tuy ít trí tuệ, nhưng giới
đủ hạnh cao, đốt đèn cúng dường, sau được phước gì?"
Đức Thế Tôn khen: " Lành thay! Lời hỏi. Tỳ kheo già ấy
trải vô số kiếp sẽ làm Như Lai Vô Sở Trước Chính Chân
Đạo Tối Chánh Giác, cổ có hai vòng hào quang, sẽ dắt ba
cõi, chúng sinh được độ, số nhiều khôn kể. Mẹ góa nghe
vậy, chạy đến chỗ Phật cúi lạy trình bày: "Thầy tỳ
kheo thắp đèn, dầu do con cúng. Vị ấy chứng được Vô Thượng
Chính Chân Đạo, sẽ dắt chúng sinh, hồn về gốc không, trời
người rồng quỉ không ai là không vui mừng. Kính mong Phật
thương, lại thọ ký cho con". Đức Phật bảo bà ấy: "Thân
nữ không được làm Phật, Duyên giác, Phạm vương, Đế Thích,
Ma thiên, Phi hành hoàng đế. Ngôi ấy vòi vọi, thân nữ không
thể làm được. Hễ muốn đạt được, phải bỏ xác dơ
mà thọ thân sạch". Bà cúi đầu thưa: "Hôm nay con sẽ bỏ
nó". Bèn về nhà tắm gội sạch sẽ từ xa vọng bái, thưa:
"Thân do bốn đại mà có, ta chẳng giữ lâu". Thế rồi lên
lầu phát nguyện: "Nay đem thân nhơ cho những chúng sinh đói
khát, xin được thân nam, để nhận thọ ký làm Phật. Nếu
có đời dơ, chúng sinh mờ tối, bỏ chính theo tà, không biết
đến Phật, con sẽ ở trong đời đó mà cứu vớt họ".
Rồi
từ lầu cao nhảy xuống, người xem lạnh run. Đức Phật biết
ý chí thành, hóa khiến đất mềm như tơ trời. Cả thân không
hại, liền hóa thân nam. Người ấy mừng rỡ vô lượng, đi
đến chỗ Phật hớn hở thưa: "Nhờ ơn Thế Tôn, con được
thân sạch, kính mong thương xót, thọ ký cho con". Đức Phật
khen: "Người chí dũng mãnh, đời ít người có, ắt được
thành Phật, đừng hoài nghi nữa. Tỳ kheo đốt đèn khi được
thành Phật sẽ trao danh hiệu cho ngươi". Trời người rồng
quỉ nghe vị ấy sẽ thành Phật đều hướng về lạy mừng,
rồi trở về nhà khen ngợi, mỗi người ngày thêm tinh tấn,
bấy giờ khuyên dạy quần sinh, số không kể xiết.
Đức
Phật bảo Thu Lộ Tử: "Tỳ kheo bấy giờ là đức Phật Định
Quang, người đàn bà góa là thân ta".
Chí
sắc vượt bờ của Bồ Tát, tinh tấn như vậy.