QUYỂN
BA
15
KINH
BỐ THÍ VƯỢT BỜ
Nghe
như vầy,
Một
thời đức Phật ở nước Xá Vệ, vườn ông Cấp Cô Độc,
cây của thái tử Kỳ Đà. Phật dạy các tỳ kheo:
Xưa
có quốc vương hiệu Hòa Mặc. Hạnh vua nhân đạo công bình,
thương dân như con, dùng chính trị nước, nên dân không có
lòng oán. Nước ấy rộng lớn, quận huyện rất nhiều, quốc
cảnh giàu thịnh, ngũ cốc được mùa, nước không có thiên
tai độc hại, người sống đến tám vạn tuổi. Hòa Mặc
là vua thánh, mệnh lệnh rõ ràng. Hoàng hậu, quí nhân, bá
quan kẻ hầu đều giữ bổn phận, dùng chính pháp dạy họ,
mỗi người quản lý bộ mình. Vua thường từ tâm, thương
chúng sinh, buồn họ ngu mê điên đảo, để tự đọa lạc,
nên tìm giữ nguồn đạo, không niềm vui nào là không chia
xẻ, thương giúp chúng sinh như trời Đế Thích. Sát sinh, trộm
cắp, dâm dật, nói hai lưỡi, nói lời dữ, nói dối, nói
thêu dệt, ghen ghét sân si, những điều hung ác như thế không
còn trong lòng. Hiếu thuận cha mẹ, kính yêu họ hàng, tìm
theo người hiền, tôn kính bậc thánh, tin Phật, tin Pháp, tôn
lời dạy của bậc sa môn, tin làm lành được phúc, làm ác
chịu họa, lấy mười điều lành trung chính này làm pháp
sáng suốt, tự mình chấp hành, lại dạy hoàng hậu cung phi
đến tiện thiếp đều khiến tuân theo cùng nhau làm lành.
Bo áo cho thần dân bốn trấn, lớn nhỏ đều phải mang
đọc, lòng nhớ để tu hành. Nước có người nghèo quá chịu
không nổi, không còn kể gì, bèn đi ăn trộm. Người chủ
bắt được đem đến tâu vua. Vua nói: "Ngươi ăn trộm sao?"
Kẻ trộm nói: "Tôi thật ăn trộm". Vua hỏi: "Ngươi vì sao
ăn trộm?" Kẻ trộm nói: "Tôi thật nghèo khốn, không có gì
để nuôi thân, nên trái phép sáng của bậc thánh, đạp lửa
mà đi ăn trộm". Vua buồn thương cho nó, khen nó thành thật,
nhưng lòng nao nao hổ thẹn, thở dài mà rằng: "Dân đói tức
ta đói, dân lạnh tức ta trần truồng, lại nói: "Thế ta có
thể khiến nước không có người nghèo. Dân khổ hay vui chỉ
tại ta mà thôi". Liền đại xá cho cả nước, lấy trân bảo
trong kho ra bố thí cho người nghèo khốn. Người đói khát
liền được ăn uống, kẻ lạnh được áo, người bệnh được
thuốc, nhà cửa ruộng vườn, vàng bạc châu báu, xe ngựa
trâu tiền, mặc ý mà xin. Chim bay thú chạy cho đến côn trùng,
ngũ cốc cỏ cây cũng theo ý thích của chúng. Từ khi vua bố
thí về sau, nước mạnh dân giàu, đem đạo giúp nhau. Dân
chúng không ai giết người, ăn trộm của cải người, gian
dâm vợ con người, nói hai lưỡi, nói lời dữ, nói dối,
nói thêu dệt, ganh ghét, sân giận, si mê. Lòng hung ác ngu si
lặng lẽ tiêu mất. Tất cả đều tin Phật tin Pháp, tin Sa
môn, tin làm lành có phúc, làm ác có họa, cả nước hòa vui,
roi gậy không dùng, kẻ thù địch đến xưng làm bầy tôi,
chiến cụ mục nát trong kho, lao ngục không còn nhốt tù, nhân
dân khen hay rằng: "Ta sinh gặp thời!" Trời, rồng, quỷ thần
không ai là không giúp cho nước ấy, độc hại tiêu hết,
ngũ cốc được mùa, nhà có dư của. Lòng vua riêng mừng,
liền được năm điều phước. Một là trường thọ, hai là
nhan sắc ngày một đẹp tươi, ba là đức độ vang đến tám
phương trên dưới, bốn là không bệnh, khí lực ngày một
tăng, năm là bốn cõi an ổn, lòng thường vui vẻ. Vua khi chết,
vẫn như người cường tráng, ăn no nằm khỏe chốc lát sinh
lên cõi trời Đao lợi. Nước ấy dân chúng theo lời vua, giữ
mười lành, nên không sa vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh.
Sau khi chết hồn linh đều được lên trời.
Phật
bảo các sa môn: "Vua Hòa Mặc bấy giờ là Ta". Các sa môn nghe
kinh xong đều rất vui vẻ, lạy Phật mà lui.
16
PHẬT
NÓI KINH TỨ TÍNH (CÔ ĐỘC)
Nghe
như vầy,
Một
thời Đức Phậtở nước Xá Vệ, vườn ông Cấp Cô Độc,
cây thái tử Kỳ Đà. Lúc ấy nhà Cô Độc gặp phải tai ương
kiếp trước, nghèo khốn càng riết, mặc áo cỏ, nằm chiếu
rơm, rau cháo nuôi thân. Tuy bị cực khổ, nhưng chân không
hề bước đến nhà vô đạo, tay không cầm của người vô
đạo cho, chí hạnh trong sạch, các tà vạy không thể nhuốm
lòng. Sáng học tối dạy, giới và kinh không rời miệng, được
đức Thế Tôn khen ngợi, các bậc trí kính trọng. Tuy cơm
áo không đủ nuôi thân miệng, nhưng phụng dưỡng thánh chúng,
tùy cảnh nhà có cháo rau giường cỏ, chẳng quên một bữa.
Các sa môn nói: "Cô Độc nghèo khốn, thường có vẻ đói,
chúng ta không thể nhận thức ăn thường của ông". Kinh dạy:
"Sa môn một lòng giữ điều chân chính, giới đủ hạnh cao,
chí như thiên kim, không trọng tài sắc, chỉ kinh là quí, diệt
hết sáu đói, nên thề xuất gia, xấu gì xin ăn mà chẳng
đi ư?" Liền cùng nhau đến chỗ Phật, thuật rõ đầu đuôi.
Đức Thế Tôn yên lặng.
Hôm
sau, Cô Độc tự thân đến Tịnh xá, cúi đầu lạy xong, ngồi
sang một bên. Đức Phậtnhớ lại việc của các sa môn thưa
hôm trước, bèn hỏi Cô Độc: "Hằng ngày ông đem lòng từ
bố thí cúng dường các tỳ kheo phải không?" Cô Độc đáp:
"Thưa vâng! Cả nhà con hằng ngày cúng dường. Chỉ hận nhà
nghèo, cháo rau giường cỏ, uổng nhọc thánh hiền". Đức
Thế Tôn nói: "Hạnh bố thí, cốt ở bốn ý: lòng từ đối
người, lòng bi thương xót, vui người thành đạt, cứu giúp
chúng sinh, thì tuy cho vật mọn nhưng sau thường sinh lên hai
đường Trời và Người, được theo ý nguyện, mắt thấy
sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, miệng nếm vị, thân
mặc áo quần tốt đẹp nhất, tâm thường vui vẻ không sự
thiếu thốn. Còn như bố thí ít oi, mà tâm lại không vui,
sau đó được phước, phước ấy cũng mỏng, ngôi quan bảy
báu, có được cũng không đủ sang. Ở trong phước mỏng ấy,
lòng lại xan tham, không dám ăn mặc, lo lo sợ sợ, chưa từng
vui vẻ, bụng đói thân lạnh, như kẻ ăn mày, luống sống
luống chết, không có chút lành để tự giúp mình. Nếu bố
thí mà lòng tốt không thành khẩn, kiêu ngạo tự thị, thân
chẳng cung kính, nhằm cầu tiếng tăm, muốn xa khoe mình, sau
cũng có chút của mà người đời khen suông, cho là ức triệu,
lòng sợ cướp đoạt, mặc thường thô mỏng, ăn chưa từng
nếm món ngon, cũng là sống uổng chết không. Tỳ kheo chưa
từng bước đến nhà, người ấy xa lìa ngôi báu, thường
gần đạo ác. Nếu ai đem vật tốt cho mà dùng tứ đẳng
tâm kính dâng, tự tay san sớt, lòng nhớ tam bảo, cầu cho
chúng sinh gặp Phật, sinh Thiên, độc khổ tiêu hết, đời
sau sinh ra không cầu gì mà không được, gặp Phật sinh Thiên,
tất cả đều như chí nguyện.
(Chương
này bản khác ở sau kinh Tát Hòa Đàn).
17
Xưa
có phạm chí tên Duy Lam, sang quí ngôi cao, làm Phi hành hoàng
đế, của cải khôn kể, tánh hay bố thí, đem cả gái
đẹp nổi tiếng, phục sức rực rỡ để thí cho người,
bát vàng đầy lúa bạc, bát bạc đầy lúa vàng, chậu giặt
thau rửa làm bằng bốn báu lẫn lộn, vạc ăn bằng vàng bạc,
trong đó có cả trăm món, trâu nổi tiếng sông Tần, đều
lấy vàng ròng bọc lấy, sừng mỗi con một ngày chảy ra bốn
thăng sữa, nghé con theo sau. Áo báu dệt thành đính thêm minh
châu, giường ghế mùng màn, chuỗi báu chóa mắt, voi giỏi
ngựa hay với yên cương bằng vàng bằng bạc treo các thứ
báu. Các xe có tàng hoa che, có da cọp phủ ghế ngồi, chạm
trổ vẽ vời, không có món nào mà không có. Từ cô gái đẹp
nổi tiếng xuống đến xe báu, mỗi thứ đều có một ngàn
không trăm tám mươi bốn cái, đem bố thí cho người.
Duy
Lam thương cho tám phương trên dưới, trời rồng thiện thần
không ai là không vui giúp. Như Duy Lam bố thí để cứu dân
nghèo, cho đến khi chết, không một ngày lười mỏi, cũng
không bằng một ngày dâng cơm cho một người nữ đủ giới
thanh tín. Phúc này hơn phúc kia không thể tính kể. Lại bố
thí cho một trăm người nữ thanh tín trước, không bằng dâng
một bữa cơm cho một người nam đủ giới thanh tín giữ giới.
Bố thí cho một trăm người nam đủ giới, không bằng dâng
một bữa cơm cho một vị tỳ kheo ni đủ giới. Bố thí cho
một trăm vị tỳ kheo ni đủ giới, không bằng dâng một bữa
cho vị sa di cao hạnh. Bố thí cho một trăm vị sa di cao hạnh,
không bằng bố thí cho một vị sa môn đủ giới hạnh, tâm
không uế trược, trong ngoài trong sạch. Người phàm như gạch
đá, còn người đủ hạnh giới cao như châu minh nguyệt. Ngói
đá đầy bốn châu thiên hạ, chẳng bằng một viên trân châu.
Lại như Duy Lam, bố thí rất nhiều cho các vị đủ giới,
chẳng bằng một vị Nhất lai, một trăm vị Nhất lai không
bằng một vị Bất lai, một trăm vị Bất lai không bằng dâng
cơm cho một vị La Hán.
Lại
như Duy Lam, trước bố thí và dâng cơm cho các hiền thánh,
không bằng hiếu thờ mẹ cha. Con hiếu hết lòng mình không
gì riêng ngoài. Trăm đời hiếu thuận với cha mẹ, không bằng
dâng cơm cho một vị Bích Chi Phật. Dâng cơm một trăm vị
Bích Chi Phật không bằng dâng một bữa cơm cho Đức Phật.
Dâng cơm một trăm vị Phật không bằng lập một ngôi chùa,
giữ tam quy là quy Phật, quy Pháp, quy Tỳ kheo tăng. Hết lòng
nhân không giết, giữ trong sạch không trộm, giữ trinh tiết
không dâm với vợ người, vâng tin không dối, hiếu thuận
không sai, giữ năm giới, tháng sáu ngày trai thì phúc ấy vòi
vọi, còn hơn Duy Lam bố thí muôn thứ vật quí và cúng cơm
cho các vị hiền thánh, rất khó tính kể. Giữ giới không
bằng dùng lòng tứ đẳng, thương nuôi chúng sanh, phúc ấy
vô tận. Duy chỉ cháo rau giường cỏ mà giữ tam quy, mang lòng
tứ đẳng, giữ đủ năm giới, thì núi sông còn có thể cân
lường, chứ phúc ấy khó tính kể. Phật bảo Cô Độc: "Nên
biết Duy Lam đó là thân ta".
Cô
Độc nghe kinh xong lòng rất vui vẻ, làm lễ mà lui ra.
18
Xưa
Bồ tát làm thân nai chúa, mình mẩy cao lớn, lông có năm màu,
móng sừng đẹp lạ, các nai mấy nghìn, đi theo thành đàn.
Khi
vua đi săn, đàn nai phân tán, sa hầm rớt hố, cây cản gai
đâm, rách da gẫy xương, tử thương và bị giết không ít.
Nai chúa thấy thế nghẹn ngào nói rằng: "Ta là trưởng đàn,
lẽ ra phải sáng suốt, chọn chỗ mà đi. Cũng vì cỏ ngon
mà đến chỗ này, làm điêu tàn lũ nhỏ, tội ở nơi ta".
Rồi theo đường tắt vào thành. Quốc nhân thấy vậy đều
nói: "vua ta có đức chí nhân, nai thần đến ở", đó là điềm
lành của nước, không ai dám động đến. Nai bèn đi đến
trước điện quỳ xuống tâu: "Thú nhỏ tham sống nương mình
quý quốc. Khi gặp thợ săn, loài thú chạy trốn, hoặc sống
thì lạc nhau, hoặc chết thì bừa bãi. Lòng trời thương vật,
thật là đáng buồn mong được tự chọn mỗi ngày đem nạp
thái quan. Xin cho biết số, tôi chẳng dám dối". Vua rất lấy
làm lạ: "Thái quan dùng một ngày không quá một con, ta không
biết các ngươi tử thương rất nhiều. Nếu thật như thế,
ta thề không đi săn nữa".
Nai
chúa trở về, ra lệnh bầy nai, nói hết ý ấy, chỉ cho họa
phúc, bầy nai cúi nghe, tự xếp thứ tự, con nào phải đi
trước. Mỗi khi con nào sắp đi chịu chết, đều đến từ
biệt nai chúa. Nai chúa thấy vậy rơi lệ dặn dò: "Thấy đời
ai rồi cũng chết, ai thoát được đâu! Tìm đường niệm
Phật, nhân hiếu từ tâm, đối với vua kia, cẩn thận chớ
có oán hận".
Ngày
ngày như vậy, trong đó có con phải đi, nhưng mình mang thai
nặng, nói: "Chết không dám tránh, xin đợi sinh xong". Bèn đem
con kế, muốn lấy thế vào. Con kế cúi đầu khóc lóc thưa:
"Tôi tất phải đi chết, nhưng còn sống một ngày một đêm,
mạng sống chờ này, giờ đến mới không ân hận". Nai chúa
không nỡ để uổng những sinh mạng ấy. Sáng mai, trốn bầy,
tự mình đi đến thái quan. Người bếp biết được liền
tâu vua. Vua hỏi nguyên do, nai đáp như trên. Vua buồn bã rơi
lệ nói: "Há có loài thú mà ôm lòng nhân từ như trời đất,
giết thân mình để cứu cả đàn, đi theo hạnh từ bi rộng
lớn của người xưa?! Còn ta làm vua mọi người, hằng ngày
giết mạng chúng sinh để béo tốt thân mình, ta ưa hung ngược,
chuộng nết sài lang sao? Loài thú làm điều nhân này là có
lòng vâng theo đức Trời". Vua bảo nai về chỗ cũ, rồi ra
lệnh cả nước rằng: "Nếu người nào phạm giết nai, thì
phạt tội như giết người".
Từ
đó về sau, Vua và quần thần cải hóa, dân chúng theo lòng
nhân không giết, thấm đến cỏ cây, nước bèn thái bình.
Bồ tát đời đời nguy thân cứu vật, công thành đức lớn,
bèn thành bậc đại hùng đáng kính.
Phật
bảo các tỳ kheo: "Nai chúa bấy giờ là thân ta, quốc vương
là Xá Lợi Phất".
Hạnh
thương cho vô bờ của Bồ tát, bố thí như vậy.
19
Xưa
Bồ tát thân làm thiên nga, sinh được ba con. Bấy giờ trong
nước đại hạn không có gì để cho con ăn, bèn rỉa thịt
dưới nách để cứu mạng con. Ba con nghĩ: "Thịt này mùi vị
nó giống với mùi người mẹ ta không khác. Phải chăng mẹ
ta đã lấy thịt mình để nuôi chúng ta?" Ba đứa con rầu
rĩ có tình cảm buồn thương, lại nói: "Thà chết mạng ta,
chứ không hại thân mẹ". Thế rồi ngậm miệng không ăn.
Mẹ thấy không ăn, lại rỉa lấy thêm.
Thiên
thần than rằng: "Mẹ hiền thương cho, khó ai vượt nổi, còn
con hiếu hạnh thật là hiếm có". Chư Thiên giúp cho, muốn
gì được nấy.
Phật
bảo các tỳ kheo: "Thiên nga mẹ là thân ta, ba đứa con là
Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên và A Nan vậy".
Hạnh
thương cho vô bờ của Bồ tát, bố thí như vậy.
(Chương
này bản khác ở sau chương Duy Lam)
20
Xưa
Bồ tát làm vua công, vợ theo năm trăm, nhưng bỏ vợ cũ mà
ham cô vợ công xanh. Công xanh chỉ uống nước ngọt, ăn trái
ngon. Công vì yêu vợ, ngày ngày đi kiếm.
Vợ
vua nước ấy bị bệnh, nằm mộng thấy công nói: "Thịt nó
có thể làm thuốc". Tỉnh dậy đem tâu. Vua sai thợ săn mau
đi tìm công. Vợ vua nói: "Ai bắt được nó, ta đem gái út
gả cho và biếu một trăm cân vàng. Thợ săn cả nước chia
nhau đi tìm. Thấy vua công theo công xanh ở chỗ thường ăn.
Họ liền lấy mật trộn cơm khô, bôi lên cây ở mọi nơi.
Công bèn lấy về cho vợ.
Một
thợ săn lấy cốm thoa vào mình rồi ngồi đợi. Công đến
lấy cốm, người ấy bắt được. Công nói: "Ông chịu khổ
thân, ắt là vì lợi. Tôi chỉ cho ông núi vàng, có thể là
của báu vô tận. Ông hãy tha mạng cho tôi". Người ấy đáp:
"Đại vương cho ta một trăm cân vàng, lại gả gái út, há
tin được lời ngươi ư?" liền đem dâng vua. Công nói: "Đại
vương giữ lòng nhân thấm khắp mọi nơi, xin nghe lời mọn,
cho tôi chút nước, tôi đem lòng từ chú nguyện, uống vào
bệnh liền khỏi. Nếu không công hiệu, chịu tội không muộn".
Vua thuận theo ý, phu nhân uống vào, các bệnh đều lành, mặt
đẹp rực rỡ. Cung nhân cũng thế. Cả nước khen vua lòng
từ rộng lớn, xin tha mạng công, để cả nước đươ
c thêm
tuổi thọ. Công nói: "Xin được ném thân vào hồ lớn kia,
để chú nguyện nước đó, cho dân khắp nước, các bệnh
đều lành. Nếu có nghi ngờ, xin lấy gậy đập vào chân tôi".
Vua nói: "Được"!
Công
liền chú nguyện, dân chúng uống nước, người điếc được
nghe, kẻ mù được thấy, người câm nói tiếng, kẻ gù thẳng
lưng, các bệnh cũng thế. Phu nhân khỏi bệnh, cả nước cũng
được hết bệnh, không ai có lòng hại công. Công biết rõ
điều đó, đến vua trình bày: "Chịu ơn vua cứu mạng, tôi
báo đáp lại bằng cách cứu mạng cả nước, báo đáp xong,
xin cho trở về". Vua nói: "Được" công liền bay lượn, rồi
đậu lên cây, lại nói: "Thiên hạ có ba người ngu. Vua hỏi:
"Sao gọi là ba?" Công nói: "Một là tôi ngu, hai là thợ săn
ngu, ba là đại vương ngu." Vua nói: "Xin giải thích cho", công
nói: "Giới trọng chư Phật coi sắc đẹp là lửa dữ, là
nguồn đốt thân nguy mạng. Ta bỏ năm trăm người vợ hầu
hạ, đi ham công xanh, tìm thức ăn nuôi nó như kẻ đầy tớ,
để bị lưới săn bắt, suýt nguy thân mạng. Đó là ta ngu.
Còn thợ săn ngu là ta đã nói lời chí thành, mà nó bỏ cả
một núi vàng, vứt đi của báu vô tận, đi tin lời dối tà
ngụy của phu nhân, mong được gái út làm vợ. Thấy đời
cuồng ngu đều như loại này cả. Bỏ lời răn chí thành của
Phật mà tin lời gạt của quỉ mị, rượu nhạc dâm loạn
đến nỗi hoặc mắc họa mất nhà, hoặc chết đọa vào ngục
núi Thái, khổ ấy vô số. Nghĩ lại làm người như chim không
cánh, muốn bay lên trời, há chẳng khó sao? Dâm phụ yêu tinh
dụ dỗ mê hoặc mất nước hại thân không gì là không do
nó, mà kẻ ngu si lại quí trọng nó. Muôn lời nói không một
câu thành thật mà thợ săn lại tin. Đây gọi là cái ngu của
thợ săn. Còn vua được thuốc trời, chữa lành bệnh cho cả
nước, các độc đều diệt, mặt như hoa tươi, lớn nhỏ
vui nhờ, mà vua lại thả đi. Đây gọi là cái ngu của vua".
Phật
bảo Xá Lợi Phất: "Vua công từ ấy về sau, đi khắp tám
phương, đem thuốc thần với lòng từ bố thí, chữa bệnh
chúng sinh. Vua công đó chính là thân ta, quốc vương ấy là
Xá Lợi Phất, người thợ săn là Điều Đạt, phu nhân nay
là vợ Điều Đạt.
Hạnh
thương cho vô bờ của Bồ tát, bố thí như vậy.
21
Xưa
có phạm chí tuổi đã một trăm hai mươi, giữ trinh không
vợ, dứt tuyệt dâm dục, lặng ở núi đầm, không thích đời
sang. Lấy tranh làm nhà, dùng lác làm chiếu, nước suối quả
rừng, lấy để nuôi mạng, chí rộng hạnh cao, thiên hạ khen
ngợi đức độ. Vua mời làm tể tướng, chí vẫn học đạo
không ra làm quan.
Ở
núi đầm hơn mấy mươi năm, nhân từ với cả chúng sinh,
cầm thú cũng đến nương nhờ. Bấy giờ có bốn con thú là
cáo, rái, khỉ, thỏ. Bốn con thú này ngày ngày cúng dường
đạo sĩ, lắng lòng nghe kinh. Trải qua nhiều năm, quả rừng
đã hết. Đạo sĩ muốn dời để tìm chỗ nhiều quả. Bốn
thú lo âu nói: "Tuy có kẻ sĩ vinh hoa đầy nước cũng như
nước dơ đầy biển, không bằng một đấu cam lồ. Đạo
sĩ đi rồi, không nghe thánh điển, chúng ta sẽ suy. Vậy mỗi
con tùy sức, tìm thức uống ăn, cúng dường đạo sĩ, thỉnh
ở núi này, hầu nghe Đại pháp". Cả bọn đều nói: "Được!"
Khỉ
đi tìm quả, cáo hóa làm người, được 1 túi cốm, rái bắt
cá to. Mỗi con đều nói: "Lương này có thể cúng được một
tháng." Thỏ tự suy nghĩ: "Ta biết lấy gì để cúng đạo
sĩ?" Nó nghĩ: "Hễ sống phải có chết. Thân này là đồ thối
nát, phải nên bỏ đi, cho muôn kẻ phàm ăn, không bằng cúng
đạo sĩ một bữa", liền đi lấy củi nhóm lửa thành than,
hướng về đạo sĩ nói: "Thân tôi tuy nhỏ, đủ ăn thức
ăn một ngày" nói rồi liền nhảy vào lửa. Lửa ấy không
cháy. Đạo sĩ thấy thế, cảm khiến như vậy. Chư Phật đều
khen. thiên thần thương nuôi. Đạo sĩ ở lại, ngày giảng
kinh mầu. Bốn thú vâng lời dạy.
Phật
bảo các sa môn: "Phạm chí ấy là đức PhậtĐịnh Quang, thỏ
là thân ta, khỉ nay là Thu Lộ Tử, cáo là A Nan và rái là
Mục Kiền Liên.
Hạnh
thương cho vô bờ của Bồ tát, bố thí như vậy.
22
(Số
4 Bổn sanh Cullakasetthi (Jat. 114) B 21
Xưa
có Bồ tát là một nhà giàu, chứa của báu bằng cả nước,
thường ưa cứu nghèo, cho khắp chúng sinh, nhận mọi người
đến nương như biển nhận sông.
Bấy
giờ có con người bạn, vì tính ăn chơi, của nhà tiêu sạch.
Người nhà giàu thương xót, dạy nó: "Hãy theo đường làm
ăn thì phúc lợi vô tận. Ta lấy một ngàn lượng vàng cho
con làm vốn". Nó đáp: "Xin vâng! Con chẳng dám trái lời dạy
sáng suốt." Rồi đem tiền đi buôn, nhưng nết tà hạnh vạy,
ưa chuộng yêu quỉ, dâm đãng, rượu nhạc, của hết lại
nghèo. Năm nết như vậy nên tiền của hết sạch, lại lâm
cảnh nghèo.
Bấy
giờ ngoài cổng nhà giàu, có con chuột chết quăng trên đống
phân người. Nhà giàu chỉ chuột nói: "Kẻ sĩ thông minh, có
thể lấy con chuột chết kia làm ăn, lập nên nhà cửa, còn
con có cả một ngàn lượng vàng mà nghèo khốn sao? Nay ta lại
lấy một ngàn lượng vàng cấp cho con".
Lúc
ấy có đứa ăn mày, đứng xa nghe lời dạy ấy tự nhiên
hiểu được, đi đến giống như xin ăn, lại lượm con chuột
rồi ra đi. Theo lời dạy hay ấy, nó xin đủ món gia vị, ướp
vào đem nướng, bán được hai tiền, chuyển qua mua rau. Đến
lúc có hơn trăm tiền, từ nhỏ thành to, bèn thành người
giàu. Lúc rảnh nhớ lại: "Ta vốn ăn mày, sao nên giàu vậy?
Bèn hiểu ra: Do người nhà giàu hiền dạy đứa con nghịch
kia, ta mới được của báu này. Chịu ơn không đáp gọi là
trái với điều sáng." Bèn làm một cái án bạc, lại làm
một con chuột vàng, lấy các của báu nổi tiếng bỏ đầy
vào bụng, lấy lụa phủ lên án. Lại lấy các báu anh lạc
treo bốn bên, đem đủ món ngon đến lễ nhà giàu kia, thuật
rõ nguyên do, nay xin đền ơn trời biển. Người nhà giàu nói:
"Hiền thay bậc trượng phu, đã làm theo lời giáo huấn ấy",
liền đem con gái gả cho làm vợ, nhà cửa của cải đều
đem giao hết, nói: "Con là con cháu của ta, phải thờ ba ngôi
báu, đem lòng tứ đẳng, cứu giúp chúng sinh". Nó đáp: "Con
quyết tu theo lời Phật dạy". Sau nối dõi nhà giàu ấy, cả
nước khen là có hiếu.
Phật
bảo các sa môn: "Người nhà giàu là thân ta, kẻ đãng tử
kia là Điều Đạt, người nhờ chuột mà giàu là tỳ kheo
Đàn Đặc. Điều Đạt nhớ sáu ức phẩm kinh của ta, nói
thuận làm nghịch, khi chết đọa vào địa ngục núi Thái.
Tỳ kheo Đàn Đặc nhớ 1 câu của ta cho đến độ đời. Có
nói không làm, như dầu vì thắp mà hết. Đó là trí của
tiểu nhân. Nói làm hợp nhau thì sáng như trời trăng, thương
hết chúng sinh, giúp thành muôn vật. Đấy là trí sáng của
bậc đại nhân. Người làm là đất, muôn vật do đó sinh
ra.
Hạnh
thương cho vô bờ của Bồ tát, bố thí như vậy.
23
Xưa
có mẹ góa, làm thuê cho một nhà giàu, trông coi vườn ruộng.
Người chủ có việc, cho ăn quá giờ. Đến lúc định ăn,
sa môn tới xin. Lòng nghĩ: "Người này dứt dục bỏ tà, nết
hạnh thanh chân. Cứu người đói bốn biển không bằng cúng
một chút cho bậc chân hiền giới hạnh thanh tịnh". Bèn đem
phần ăn để hết vào và một cành hoa sen để lên bát mà
dâng. Đạo nhân hiện thần thông, phóng ra ánh sáng. Người
mẹ vui vẻ khen: "Đây đúng là bậc thần thánh sao? Nguyện
tôi sau này sinh được một trăm người con như vậy".
Mẹ
goá chết, hồn đi, muốn làm con nối dõi người phạm chí,
nên hồn tụ lại chỗ tiểu tiện của phạm chí. Con nai liếm
tiểu tiện, liền cảm thụ thai. Mãn ngày, sinh một bé gái.
Phạm chí nuôi nấng, lúc hơn mười tuổi, mặt mày sáng rỡ,
dáng vẻ yêu kiều, ở nhà giữ lửa. Cô chơi với nai, không
ngờ lửa tắt. Cha về giận dữ, sai đi xin lửa. Cô đến
xóm người, mỗi bước mọc một hoa sen. Người chủ có lửa
nói: "Cô đi ba vòng nhà ta, ta sẽ lấy lửa cho cô. Cô đi theo
lời, hoa mọc trên đất quanh nhà ba vòng. Hành giả nghỉ chân,
không ai không lấy làm lạ. Phút chốc tiếng đồn đến tai
quốc vương. Vua sai thầy tướng xem tướng sang hèn. Thầy
nói: "Ắt có con nối giòng thánh truyền ngôi vô cùng. Vua sai
hiền thần đủ lễ rước về. Mặt hoa đẹp đẽ, cung nhân
không ai bằng.
Mang
thai đủ ngày, sinh ra một trăm cái trứng, hoàng hậu cung phi
cho đến tì thiếp không ai là không ghét. Bèn chặt cây chuối
khắc hình tượng quỉ, đợi khi sinh, lấy tóc phủ lên mặt,
bôi nước bùn dơ lên cây chuối rồi đem trình vua. Bọn yêu
che sáng, vua lầm tin theo.
Lũ
tà lấy hũ đựng trứng, bịt kín miệng lại, quăng xuống
giòng sông. Trời Đế Thích xuống lấy ấn đóng miệng lại,
chư thiên theo giữ, xuôi dòng dừng lại như trụ cắm đất.
Vua nước hạ lưu đang ở trên đài, xa thấy giữa dòng có
hũ trôi xuống, ánh sáng rực rỡ, như có oai trời. Bèn vớt
lên xem, thấy dấu ấn Đế Thích, mở có trăm trứng, ra lệnh
trăm người đàn bà ấp nuôi ấm nóng. Đủ ngày thành hình,
nở ra trăm người con trai, sinh ra đã có trí thượng thánh,
không dạy mà vẫn tự biết, nhan sắc hơn đời, tướng tốt
hiếm có, tài cán thế lực hơn người trăm lần, tiếng nói
vang như sư tử rống.
Vua
liền sắm đủ một trăm voi trắng, yên cương bảy báu, để
cho con thánh nối dòng, khiến đi chinh phạt lân quốc. Bốn
phương hàng phục, đều đến xưng thần. Lại đi đánh nước
mình sinh ra. Cả nước lớn bé không ai là không run sợ. Vua
hỏi: "Ai có khả năng chống lại lũ địch này?". Phu nhân
nói: "Đại vương đừng sợ, hãy xem quân địch từ đâu,
công thành hướng nào thì đến đó dựng đài quan sát. Tôi
sẽ vì vua mà hàng phục chúng. Vua liền ra xem quân địch từ
đâu, rồi cho dựng đài. Người mẹ lên đài, cất tiếng
nói: "Tội lớn phản nghịch có ba. Không xa bọn tà, đời
sau chịu tội, đó là một. Sống không biết cha mẹ, làm ngược
hiếu hạnh, đó là hai. Ỷ thế giết cha mẹ, độc ác với
ba ngôi báu, đó là ba. Ôm giữ ba nghịch, ác ấy không gì
che nổi, các ngươi há miệng, chứng cớ hiện ngay". Người
mẹ nắm vú mình, trời khiến sữa bắn, khắp miệng trăm
con. Cảm sự tinh thành, uống sữa lòng buồn. Tất cả đều
nói: "Đây chắc mẹ ta". Nước mắt ràn rụa, chắp tay bước
lên, cúi đầu hối lỗi. Mẹ con mới gặp, không ai là không
khóc lóc. Hai nước hòa thuận, tình hơn anh em, tám phương
vui mừng, không ai là không khen hay.
Các
con thấy đời vô thường như huyễn, giã từ cha mẹ học
đạo, xa đời dơ bẩn. Chín mươi chín người con đều chứng
Duyên giác. Một người trị nước. Vua cha băng hà, bèn lên
làm vua, đại xá các tội, phá bỏ lao ngục, san bằng hào
ải, miễn tha tôi tớ, an ủi người hiếu đễ, nuôi dưỡng
kẻ cô độc, mở kho tàng bố thí lớn, tùy ý dân muốn mà
cho, lấy mười điều thiện làm phép nước, mọi người đều
vâng đọc, nhà có con hiếu, dựng chùa lập tháp, cúng dường
sa môn, đọc kinh luận đạo, miệng không bốn ác, độc dữ
tiêu hết, thọ mệnh càng dài. Thiên đế nuôi giúp như cha
mẹ nuôi con.
Phật
bảo các sa môn: "Người ở lại làm vua là thân ta. Vua cha
nay là Bạch Tịnh, mẹ là Xá Diệu".
Hạnh
thương cho vô bờ của Bồ tát, bố thí như vậy.
24
Xưa
Bồ tát lúc làm phạm chí, hiểu rõ kinh luật, người trong
nước tôn làm thầy. Năm trăm học trò đều có đức Nho,
mình ưa bố thí như tự hộ thân. Bấy giờ ở đời có Đức
Phật hiệu là Tiệp Như Lai Vô Sở Trước Chính Chân Tối
Chính Giác, chỉ đường ba cõi, thân về vốn không. Bồ tát
thấy Phật, vui vẻ qui y, thỉnh Phật và Tăng ở lại nhà
mình bảy ngày cúng dường trọn lễ. Học trò phạm chí tranh
nhau đảm trách. Một người tuổi trẻ, thầy bảo nó về,
nó lại xin làm việc. Thầy bảo: "Có việc nào không có người
làm, người làm đi". Đồng tử đáp: "Chỉ có đèn là không
có thắp". Thầy bảo: "Lành thay đệ tử, hãy lấy bình đựng
đầy dầu mè, tự tắm rửa sạch, dùng khăn trắng quấn đầu
rồi tự tay thắp lên". Trời, người, rồng, quỷ thấy sức
mạnh của người ấy, không ai là không vỗ tay kinh ngạc mà
khen: "Đời chưa từng có, đó chắc là Phật". Đức Phậtkhen
người ấy, khiến đèn sáng suốt đêm mà đầu không hề
gì. Lòng để nơi Kinh, hoát nhiên vô tưởng. Bảy ngày như
thế, đều không lười mỏi. Đức Phậtthọ ký: "Trải vô
số kiếp, con sẽ thành Phật hiệu là Định Quang, đỉnh đầu,
trên vai đều có ánh sáng, dạy dỗ, cứu vớt chúng sinh, giúp
độ số ấy vô lượng". Trời, người, rồng, quỷ nghe sẽ
thành Phật, không ai là không vui vẻ, cúi đầu vái chúc. Phạm
chí nghĩ: "Người kia thành Phật, ta chắc cũng thành". Bèn
đợi Phật thọ ký, nhưng Phật lại đi. Bèn đến trước
Phật, cúi đầu bạch: "Nay thiết lễ mọn cúng dường, thật
con hết lòng xin Phật thọ ký". Phật bảo phạm chí: "Khi đồng
tử này thành Phật, sẽ thọ ký cho ông". Phạm chí nghe sẽ
thành Phật, vui quên cả thân mình. Từ đấy về sau, bèn bố
thí lớn, kẻ đói cho ăn, người lạnh cho mặc, người bệnh
cấp thuốc, các loài bò bay máy cựa, tùy chúng ăn gì, giúp
cho đúng lúc, tám phương các nước đều khen là cha lành.
Phật
bảo Xá Lợi Phất: "Đồng Tử là Đức PhậtĐịnh Quang, còn
phạm chí là thân ta".
Hạnh
thương cho vô bờ của Bồ tát, bố thí như vậy.
25
Xưa
có Bồ tát là người nhà giàu, chứa của muôn ức, thường
thờ tam bảo, thương tới chúng sinh.
Ra
chợ xem thấy bán ba ba, đem lòng thương xót, hỏi giá đắt
rẻ? Chủ biết Bồ tát có đức thương khắp, ưa cứu chúng
sinh, của giàu không xiết, đắt rẻ không thành vấn đề
nên đáp: "Giá một trăm vạn, có mua thì tốt, không mua thì
tôi sẽ đem làm thịt". Bồ tát đáp: "Hay lắm". Liền trả
đúng giá, đem ba ba về nhà, rửa ráy, chăm sóc vết thương.
rồi đem ra sông thả. Trông nó bơi đi Bồ tát vừa buồn vừa
vui, thề rằng: "Mong loài chúng sinh, quỷ đói núi Thái, và
lao ngục vua đời sớm được thoát nạn, thân an mạng toàn,
như ngươi hiện nay". Rồi cúi đầu lạy mười phương, chắp
tay nguyện tiếp: "Chúng sanh bồn chồn, thật khổ vô lượng.
Ta xin làm trời, làm đất, vì hạn làm mưa, vì trôi làm bè,
kẻ đói cho ăn, khát cho uống, lạnh cho áo, nóng cho mát, vì
bệnh cho thuốc, vì tối cho sáng... Nếu có đời ô trọc,
điên đảo, ta sẽ ở trong ấy thành Phật, độ chúng sinh
kia". Mười phương chư Phật khen lời thề, ca ngợi: "Lành
thay! Ngươi tất được như chí nguyện".
Đêm
sau ba ba đến cắn vào cửa nhà Bồ tát. Lạ lùng vì ngoài
cửa có tiếng, người tớ ra thấy ba ba, trở vào nói lại
sự việc. Bồ tát ra xem, ba ba nói tiếng người rằng: "Tôi
nhận ân lớn, thân được vẹn toàn, không biết lấy gì báo
đáp ân sâu. Tôi là loài thủy trùng, biết nước lên xuống,
lụt lớn sắp đến, chắc là hại lớn, xin mau đóng thuyền,
đến lúc đó sẽ đón nhau". Bồ tát đáp: "Rất tốt!"
Sáng
sớm hôm sau, bèn đến cửa cung như việc tâu vua. Vua cho Bồ
tát từng có tiếng tốt, nên tin dùng lời ấy, bèn dời chỗ
thấp lên cao. Giờ lụt sắp đến, ba ba tới nói: "Nạn lụt
đã đến, khá mau xuống thuyền, theo tôi mà đi thì có thể
không bị nạn". Thuyền theo sau ba ba, có rắn đến thuyền,
Bồ tát nói: "Vớt nó lên", ba ba nói: "Rất tốt!" lại thấy
con cáo bị trôi, Bồ tát bảo vớt lên, ba ba cũng nói "tốt"
lại thấy có người đang trôi, vỗ mặt kêu trời: "Thương
cứu mạng tôi". Bồ tát nói: "vớt lên", ba ba nói: "Cẩn thận,
đừng vớt, vì lòng người dối trá, ít có thủy chung, quên
ân mà chạy theo thế lực, ưa làm điều hung ngược". Bồ
tát nói: "Loài vật, ngươi cứu, còn loài người, ta khinh rẻ,
há là nhân sao? Ta không nỡ vậy". Thế rồi Bồ tát vớt lên,
ba ba nói: "Sẽ hối hận đấy".
Khi
đến đất lành, ba ba giã từ: "Đền ơn xong xin về". Bồ
tát nói: "Khi ta được thành Như Lai Vô Sở Trước Chí Chân
Chính Giác tất sẽ độ ngươi". Ba ba nói: "Rất tốt!" Ba ba
lui về. Rắn, Cáo mỗi con ra đi.
Cáo
đào hang ở, được một trăm cân vàng tử ma nổi tiếng của
người xưa giấu cất. Vui mừng nghĩ: "Ta sẽ đem đền ơn
kia". Cáo đem lại nói: "Thú mọn nhân ơn, được cứu mạng
hèn. Thú là vật ở hang, nên tìm hang để ở, thì được
một trăm cân vàng. Hang ấy không phải của mả, chẳng phải
của nhà, chẳng phải cướp, chẳng phải trộm. Vì tôi tinh
thành nên được. Nay xin đem dâng bậc hiền". Bồ tát nghĩ
sâu: "Không lấy thì luống mất, không ích gì cho dân nghèo,
lấy để bố thí, chúng sinh được cứu, như vậy không tốt
sao?" Bèn theo nó đến lấy. Người bị trôi thấy vậy nói:
Chia cho tôi một nửa. Bồ tát liền lấy mười cân cho
nó. Người bị trôi nói: Ông đào mả cướp tiền vàng, tội
ấy phải thế nào? Nếu không chia phân nửa, tôi tất báo
quan. Bồ tát đáp: "Dân nghèo thiếu thốn, ta muốn cho đều,
ngươi muốn chiếm riêng, không là bất công sao?, người bị
trôi bèn đi báo quan. Bồ tát bị bắt, không có chỗ kêu xin,
chỉ biết qui mệnh tam bảo, hối lỗi tự trách thương nguyện
chúng sinh sớm thoát tám nạn, đừng có kết oán như ta hiện
nay.
Cáo,
rắn gặp nhau bàn: "Việc này làm sao đây?" Rắn nói: "Tôi
sẽ cứu cho" bèn ngậm thuốc hay, mở khóa vào ngục, thấy
tình trạng Bồ tát nhan sắc suy tổn, lòng thương bùi ngùi,
gọi Bồ tát nói: "Ngài đem thuốc này theo mình, tôi sẽ cắn
thái tử, nọc đọc rất ghê, không ai có thể cứu được,
hiền giả hãy đem thuốc ấy tâu vua, rịt vào sẽ khỏi".
Bồ tát yên lặng, còn rắn làm y theo lời. Thái tử gần chết,
vua ra lệnh: "Ai có khả năng cứu được, sẽ phong làm tướng
quốc, cùng ta tham dự việc nước". Bồ tát tâu lên, thuốc
rịt vào liền khỏi. Vua vui mừng hỏi nguyên do, người tù
tâu rõ đầu đuôi, vua buồn bã tự trách: "Ta thật ám muội
quá chừng", liền giết kẻ bị trôi, đại xá cả nước,
phong Bồ tát làm tướng quốc, nắm tay dẫn vào cung cùng ngồi
mà nói: "Hiền giả đọc sách nào, theo đạo gì mà làm việc
nhân như đất trời, bố thí đến chúng sinh như thế?" Bồ
tát đáp: "Tôi đọc kinh Phật, theo đạo Phật". Vua hỏi: "Phật
có yếu quyết gì?" Bồ tát đáp: "Có chứ, Phật dạy bốn
vô thường, ai giữ đươ
c thì
dứt các họa, phước lớn thịnh". Vua nói: "Lành thay! Xin được
điều báu ấy", Bồ tát nói: "Khi trời đất kết cuộc, bảy
mặt trời cùng thiêu, biển lớn khô cạn, trời đất cháy
rực, núi Tu di lở sụp, trời, người, rồng, quỉ, thân mạng
chúng sinh, bỗng cháy tiêu hết. Trước thịnh nay suy, đó gọi
là Vô thường. Kẻ sĩ sáng suốt giữ niệm vô thường nói
rằng trời đất còn như thế, huống chi quan tước đất nước
nào có trường tồn. Người đươ
c niệm
đó mới có chí thương rộng lớn". Vua nói: "Trời đất còn
vậy, huống gì đất nước, Phật dạy vô thường, lòng ta
tin rồi". Bồ tát lại nói: "Cái khổ càng khổ, vua nên biết
điều ấy". Vua đáp: "Xin nghe lời dạy sáng suốt". Bồ tát
nói: "Linh thức chúng sinh, vi diệu khó biết, thấy không hình,
nghe không tiếng, rộng khắp thiên hạ, cao không gì che, mênh
mông không bờ, xoay vần không mé, nhưng đói khát trong sáu
dục, như biển không, đủ nơi các sông, vì thế thay đổi
nhiều lần. Các thứ độc khổ, thiêu đốt ở ngục núi Thái
hoặc làm súc sinh, bị mổ cắt róc xé, chết lại bị bằm
đau đớn khôn lượng, hoặc được làm người, ở thai mười
tháng, đến sinh hẹp, như dây xiết thân, vừa lọt xuống
đất, đau như từ trên cao rơi xuống, bị gió thổi như lửa
đốt thân, tắm rửa nước ấm, quá hơn nước đồng, tự
rót vào thân, tay thô rờ người như dao tự róc. Các điều
đau đớn như vậy rất khổ khó nói. Sau khi tuổi lớn, các
căn chín muồi, đầu bạc răng rụng, trong ngoài hư hao, chỉ
còn lòng sầu chuyển thành bệnh nặng, bốn đại muốn lìa,
đốt đốt đều đau, nằm ngồi đợi người, thuốc đến
thêm buồn. Khi mạng sắp hết, các gió đều nổi, cắt gân
giã xương, các lỗ đều nghẹt, hết thở lìa hồn, theo nghiệp
mà đi. Nếu sinh lên trời, trời cũng có giàu nghèo sang hèn,
tuổi thọ dài ngắn. Khi phước hết tội đến, đọa xuống
núi Thái, ngạ quỉ, súc sinh, đây gọi là khổ". Vua nói: "Lành
thay! Phật dạy yếu quyết sự khổ, lòng ta tin rồi". Nhà
giàu lại nói: "Phàm cái gì có ắt phải không, cũng như hai
cây cọ nhau sinh lửa, lửa lại đốt cây, rốt cuộc lửa
cây đều mất, hai vật đều không. Xưa các tiên vương, cung
điện, thần dân, nay đã tiêu diệt, không thấy đâu hết,
đó cũng là không". Vua nói: "Lành thay! Phật dạy yếu lý của
không, lòng ta tin rồi". Nhà giàu lại nói: "Phàm thân là đất,
nước, gió, lửa. Cứng là đất, mềm là nước, nóng là lửa,
hơi là gió. Khi mạng hết hồn đi, bốn đại đều lìa, không
thể bảo toàn nên gọi vô ngã". Vua nói: "Lành thay! Phật dạy
về vô ngã, lòng ta đã tin rồi. Thân này còn không thể giữ
được huống gì là đất nước. Đau đớn thay cho tiên vương
ta, không nghe được lời dạy về vô thường, khổ, không,
vô ngã của bậc Vô Thượng Chính Chân Tối Chính Giác". Nhà
giàu nói: "Trời đất còn vô thường, thì ai có thể giữ
được đất nước này. Tại sao không đem hết của kho ra
bố thí cho người nghèo đói đi. Vua nói: "Lành thay! Lời dạy
của minh sư rất thích thú". Liền lấy hết của kho mà bố
thí cho người nghèo thiếu. Kẻ góa vợ người góa chồng,
trẻ mồ côi đều khiến họ làm cha mẹ làm con cái. Dân chúng
áo quần rực rỡ, giàu nghèo giống nhau, cả nước hớn hở,
vừa cười vừa đi, ngửa mặt lên trời khen: "Bồ tát thân
hóa đến như thế ư?" Bốn phương khen ngợi đức, nước
bèn thái bình.
Phật
bảo các sa môn: "Người nhà giàu đó là thân ta. Quốc vương
ấy là Di Lặc, ba ba ấy là A Nan, cáo là Thu Lộ Tử, rắn
là Mục Kiền Liên, người bị trôi là Điều Đạt!".
Hạnh
thương cho vô bờ của Bồ tát, bố thí như vậy.
26
Xưa
có Bồ tát làm hạnh sa môn, thường ở núi rừng, lòng từ
thương xót nghĩ: "Chúng sinh chịu khổ lâu dài, xoay vần ba
cõi, lấy gì cứu họ?" Đang tỉnh tâm suy nghĩ, tìm nguồn
đạo rộng, đáng để cứu họ, thì áo có rận làm thân ngứa
ngáy, lòng bực bội, chí đạo không định. Bèn lấy tay mò
tìm, bắt được con rận, trong lòng thấy thương, muốn tìm
cái gì để nó được yên, thấy có xương thú liền nhẹ
nhàng để vào. Con rận ăn được bảy ngày, hết rồi bỏ
đi, lần lữa sống chết, còn Bồ tát thành Phật, xuôi ngược
giáo hóa.
Bấy
giờ trời tuyết nhiều, đường ngập, không người đi lại.
Nước có nhà giàu, thỉnh Phật cùng vài nghìn tỳ kheo, cúng
dường bảy ngày, hết lòng nghiêm cẩn, giòng họ đều thế.
Tuyết vẫn chưa tan, Phật bảo A Nan, khiến các sa môn đều
về tinh xá. A Nan nói: "Chủ nhân kính cẩn, lòng vẫn chưa
sờn, mà tuyết nhiều chưa dứt, không có chỗ nào đi khất
thực được". Thế Tôn nói: "Ý chủ đã xong, không muốn cúng
nữa", Đức Phậtdẫn đi, sa môn đi theo trở về tinh xá. Sáng
ngày Thế Tôn bảo A Nan: "Ông hãy đến chủ nhà khất thực".
A Nan vâng lời, đến cửa nhà chủ. Người nhà giữ cửa thấy
không hỏi nguyên do. Một chốc A Nan trở về quì xuống cúi
đầu như việc thưa lên, lại hỏi lý do vì sao ý chủ bất
thường, thay đổi mau vậy?" Đức Phậtliền nói rõ như trên,
rồi nói: "A Nan! Ta vì lòng từ, cứu mạng rận hèn, cho ăn
xương hư bảy ngày, nên nay được cúng các món ngon nhất
đời. Kiếp trước thi ân, ơn bằng bảy ngày, nên lòng người
ấy dừng lại không còn như trước. Huống có lòng từ với
Phật và chúng sa môn trì giới thanh tịnh hạnh cao vô dục,
trong ngay tâm mình, ngoài dùng từ hóa, cung kính cúng dường
cho một vị tỳ kheo hạnh cao, hơn là nhiều kiếp hết lòng
bố thí kẻ phàm. Sở dĩ như thế, nên các tỳ kheo phải nhớ
giữ. Kinh Phật, có giới, có định, có tuệ, có giải thoát
và giải thoát tri kiến. Đem năm đức này thương dẫn chúng
sinh, khiến họ xa lìa cái họa vạn khổ trong ba cõi".
A Nan
nói: "Hay thay người nhà giàu kia! Được tận mặt thương
nuôi đức Như Lai Vô Sở Trước Chính Chân Đạo Tối Chính
Giác Đạo Pháp Ngự Thiên Nhân Sư cùng các sa môn, hoặc có
bậc đắc Câu hạng, Tần lai, Bất hoàn, Ứng chân (Tu đà
hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán), hoặc có vị là khai sĩ,
mở lòng từ rộng lớn, dẫn đường chúng sinh, phúc ấy khó
lường, như biển, khó sánh như đất. Đức Phật bảo: "Lành
thay! A Nan! Thật đúng như ngươi nói! Thời Phật khó gặp,
kinh pháp khó nghe, tỳ kheo tăng khó được cúng dường, như
hoa ưu đàm chỉ một lần nở".
Đức
Phật nói như vậy, tỳ kheo vui vẻ cúi đầu vâng làm.
Hạnh
thương cho vô bờ của Bồ tát, bố thí như vậy.