LỤC
ĐỘ TẬP KINH
Sa
môn Khương Tăng Hội
nước
Khương Cư, đời Ngô Dịch
BẢN
DỊCH TIẾNG VIỆT
Chương
I
QUYỂN
MỘT
BỐ
THÍ VƯỢT BỜ
Nghe
như vầy.
Một
thời đức Phật ở nước Vương Xá, trong núi Diều. Bấy
giờ Ngài cùng ngồi với năm trăm La hán và một ngàn Bồ
tát. Trong đó có Bồ tát tên A Nê Sát, khi Phật nói pháp,
thường tĩnh tâm lắng nghe, yên lặng không vọng niệm, ý
để nơi kinh. Đức Phậtbiết vậy, nên giảng hạnh cao khó
bì về sáu độ vô bờ của Bồ tát. Thế nào là sáu?
Một
là bố thí, hai là trì giới, ba là nhẫn nhục, bốn là tinh
tấn, năm là thiền định, sáu là hạnh cao của trí sáng vượt
bờ.
Bố
thí vượt bờ ấy là sao? Là yêu nuôi người vật, thương
xót lũ tà, vui hiền, giúp người thành đạt, cứu giúp chúng
sinh, vượt cả đất trời, thấm khắp biển sông, bố thí
chúng sinh, người đói cho ăn, kẻ khát cho uống, lạnh cho
mặc, nóng cho mát, người bệnh cho thuốc, xe ngựa thuyền
bè, các vật trân báu, vợ con, đất nước... ai xin liền cho.
Như thái tử Tu Đại Noa, bố thí người nghèo thiếu, như
cha mẹ nuôi con, vua cha đuổi đi, vẫn thương không oán.
1
Xưa
có Bồ tát, lòng rõ lẽ chân, thấy đời vô thường, mạng
sang khó giữ, đem hết của cải bố thí. Trời Đế Thích
thấy Bồ tát thương nuôi quần sinh, bố thí cứu người,
công cao vòi vọi, đức cảm mười phương, sợ đoạt ngôi
mình, nên hóa địa ngục hiện ở trước mặt, nói rằng:
“Bố thí cứu người khi chết hồn linh đọa vào địa ngục
núi Thái, muôn độc nấu đốt. Bố thí chịu hại, Ngài còn
bố thí làm gì?” Bồ tát đáp: “Há có chuyện làm phước
mà vào địa ngục núi Thái sao?” Đế Thích đáp: “Nếu
Ngài không tin, có thể hỏi tội nhân xem”. Bồ tát hỏi:
“Ngươi vì cớ gì mà ở địa ngục?” Tội nhân đáp: “Tôi
xưa ở đời, đem hết cửa nhà, ra giúp người nghèo, cứu
vớt người nạn, nên nay tội nặng, ở ngục núi Thái”.
Bồ tát hỏi: “Nếu người nhân từ bố thí mà bị tai ương,
thì người nhận thí thế nào?”. Đế Thích đáp: “Người
nhận của thí, khi chết lên trời”. Bồ tát đáp: “Việc
ta cứu giúp, chỉ vì chúng sinh. Nếu đúng lời ngươi thì
đó chính là chí nguyện của ta. Vì thương giúp mà chịu tội,
ta cũng quyết làm, nguy thân cứu người, đó là chí nguyện
cao cả của Bồ tát.”
- Đế
Thích hỏi: “Ngài có chí nguyện gì mà chuộng cao hạnh này?”
- Bồ
tát đáp: “Ta muốn cầu Phật cứu giúp chúng sinh, khiến
được niết bàn, không còn sinh tử”.
Đế
Thích nghe nói mục đích thánh thiện, nhân thế cúi đầu nói:
“Thật không có việc người bố thí thương giúp chúng sinh
mà lìa phúc chịu họa, vào địa ngục núi Thái. Nhưng vì
đức Ngài động đến đất trời, sợ đoạt ngôi tôi nên
mới hiện địa ngục để mê hoặc ý chí Ngài. Kẻ ngu lừa
dối bậc thánh, xin Ngài tha tội nặng ấy”.
Khi
đã hối lỗi xong, cúi đầu lui ra.
Hạnh
thương cho vượt bờ của Bồ tát, bố thí như vậy.
2
Xưa
có Bồ tát là vua nước lớn, hiệu Tát Ba Đạt, bố thí chúng
sinh, xin gì đều cho, thương giúp người nạn, lòng thương
xót xa.
Trời
Đế Thích thấy vua thương cho, đức trùm mười phương. Trời,
rồng, quỷ, thần đều nói: "Ngôi cao Thiên đế xưa nay thường
không phải của một người. Ai giới đủ hạnh cao, thương
cho phúc lớn, khi chết hồn lên thì làm Thiên đế. Sợ đoạt
ngôi mình, Đế Thích muốn đến thử để rõ chân ngụy, bèn
sai Biên Vương rằng: “Nay vua người kia, lòng từ rộng lớn,
phúc đức vòi vọi, e có chí muốn đoạt đế vị của ta.
Vậy ngươi hãy hóa làm chim bồ câu, mau bay đến chỗ vua,
giả vờ sợ hãi, xin vua kia thương. Vua ấy nhân từ, ắt cho
ngươi ở. Ta sẽ đến sau, theo vua đòi ngươi. Vua hẳn không
trả, phải ra chợ mua thịt đền cho bằng chỗ ấy. Ta không
ngừng dối, còn lòng vua thì chân chất trong sạch, chứ chẳng
bao giờ sai, cuối cùng tự cắt thịt mình cho bằng với trọng
lượng chim kia. Nếu thịt cân cứ theo đó mà nặng dần, khi
thịt hết, thân đau, vua ắt hối tiếc. Lòng đã hối tiếc
thì chí nguyện không thành”.
Đế
Thích liền hóa diều hâu, còn Biên Vương hóa làm bồ câu.
Bồ câu bay vụt đến dưới chân vua, sợ hãi nói rằng: “Xin
đại vương thương tôi, mạng tôi cùng rồi”. Vua nói: “Chớ
sợ, chớ sợ, ta nay cứu ngươi”. Diều hâu theo sau tìm đến,
hướng về vua nói: “Bồ câu tôi vừa đến, bồ câu là món
ăn của tôi, xin vua trả lại”. Vua nói: “Bồ câu đem mạng
đến nương ta, ta đã nhận cho nó nương nhờ rồi, ta nói
ra phải giữ chữ tín, trước sau không sai. Nếu ngươi muốn
thịt thì ta tự nạp đủ nặng hơn trăm lần”.
Diều
hâu nói: “Tôi chỉ muốn thịt bồ câu thôi, chứ không dùng
các thịt khác, mong vua cho lại, chứ sao cướp món ăn của
tôi?”. Vua nói: “Ta đã nhận cho nó nương nhờ, chữ tín
nặng như đất trời, thì lòng nào làm trái được. Vậy ta
phải lấy món gì để ngươi vui vẻ cho bồ câu ở lại mà
ra đi?”. Diều hâu nói: “Nếu lòng vua thương cho, ắt là
người cứu chúng sinh, vậy hãy cắt thịt vua cho bằng thịt
chim bồ câu thì tôi vui lòng mà nhận”. Vua nói: “Tốt lắm”.
Liền tự cắt thịt bắp vế để cân cho bằng thịt chim câu.
Chim câu nặng dần, vua tự cắt mình như vậy, cho đến khi
thịt mình đã hết, mà cân vẫn chưa bằng. Vết thương trên
thân đau đớn vô cùng. Vua vì lòng thương mà chịu đựng,
mong cho bồ câu được sống, nên bảo cận thần: “Ngươi
mau giết ta, lấy tủy để cân cho nặng bằng thịt chim câu
đi. Ta vâng lời chư Phật, nhận trọng giới chân chính để
cứu nguy ách cho chúng sinh, tuy có bị lũ tà não loạn, nhưng
cũng như làn gió nhẹ, làm sao có thể lay được núi Thái?”
Diều
hâu thấy chí vua, giữ đạo không đổi, hạnh thương cho khó
sánh, nên hiện lại thân trước. Đế Thích và Biên Vương
đều cúi đầu xuống đất nói: “Đại vương mong muốn điều
gì, mà chịu khổ não như vậy?”. Vua người đáp: “Chí
ta không muốn ngôi trời Đế Thích hay Phi hành hoàng đế.
Ta thấy chúng sinh đắm chìm trong mờ tối, không thấy ba ngôi
báu, không nghe lời Phật dạy, buông lòng nơi việc làm hung
ác, quăng thân vào ngục Vô trạch, thấy họ ngu hoặc như
vậy mà lòng đau xót, nên ta thệ nguyện được quả Phật
để cứu vớt chúng sinh khỏi khốn ách, khiến chứng Niết
bàn”.
Trời
Đế Thích kinh sợ nói: “Kẻ ngu này vì cho Đại vương muốn
cướp ngôi mình nên mới quấy nhiễu Ngài. Vậy Ngài có điều
gì để dạy bảo tôi?” Vua nói: “Hãy khiến vết thương
thân ta bình phục như cũ, để lòng ta yêu chuộng các hạnh
bố thí cao hơn nay”. Trời Đế Thích liền sai thiên y thần
dược truyền thuốc vào người vua, vết thương liền lành,
sắc mặt và sức lực còn đẹp mạnh hơn trước. Những vết
thương đầy mình như vậy bỗng chốc lành lặn. Đế Thích
cúi đầu rồi đi quanh vua ba vòng, vui vẻ ra đi.
Từ
đó về sau, vua lại bố thí hơn xưa.
Hạnh
thương cho vượt bờ của Bồ tát, bố thí như vậy.
3
Xưa
có vị Bồ tát rất đỗi nghèo khổ, cùng các lái buôn đi
đến nước khác.
Họ
đều có chí tin Phật, bố thí kẻ nghèo thiếu, cứu giúp
chúng sinh. Mọi người đều nói: "Bọn ta đều thương cho,
còn ngươi định lấy gì để cho?". Bồ tát đáp: "Thân này
là thứ tạm mượn, không gì là không thể bỏ đi. Tôi thấy
cá biển, lớn bé ăn nhau, nên lòng đau xót. Vậy tôi sẽ đem
thân mình, thay cho bọn cá nhỏ, để chúng nó được toàn
mạng trong chốc lát". Bèn liền tự nhảy xuống biển, cá
lớn nhờ vậy được no, cá nhỏ được sống. Hồn linh Bồ
tát hóa làm vua cá chiên, thân dài mấy dặm.
Bên
bờ biển có một nước nọ, nước ấy bị hạn, dân chúng
đói khát, ăn thịt lẫn nhau. Cá thấy vậy rơi lệ nói rằng:
"Chúng sinh rối loạn, nỗi khổ đau thay! Thân ta có thịt mấy
dặm, có thể cung cấp cho dân thiếu thốn mươi tháng ". Bèn
tự phơi mình lên bãi biển nước ấy. Cả nước ăn thịt
cá, mà được toàn sinh mạng. Lấy thịt mấy tháng mà cá
vẫn sống. Thiên thần hiện xuống nói: "Ngươi có thể chịu
nổi đau không? Sao không chết đi, để giải thoát cái đau
đớn ấy". Cá nói: "Nếu tôi chết đi, hồn lìa thân nát;
sau này dân chúng đói khát, lại ăn thịt nhau, tôi không nỡ
nhìn, vì lòng thương họ". Thiên thần nói:"Bồ tát ôm lòng
từ khó sánh! ". Thiên thần vì vậy đau lòng nói: "Ngài ắt
thành Phật, độ cho chúng tôi".
Có
người đem búa chặt lấy đầu cá. Lúc cá chết rồi, hồn
linh liền hóa làm thái tử con vua. Vừa sinh ra đã có trí sáng
bậc thượng thánh, rộng thương bốn ân, thấm khắp đất
trời, thương dân nghèo khó, nghẹn ngào lời nói. Nước ấy
vẫn hạn. Thái tử sạch lòng chay lạt, bỏ ăn nhịn hiến,
cúi đầu hối lỗi nói: "Dân chúng không lành, lỗi ở nơi
ta. Xin bỏ thân này, cho dân được mưa móc". Ngày ngày than
khóc như con chí hiếu gặp tang cha lành. Do lòng chí thành cảm
đến nơi xa, nên có 500 vị Phật đến cõi nước ấy. Vua
nghe lòng vui vẻ, quên cả thân mình, cúi đầu nghênh đón,
mời về chính điện. Hoàng hậu, thái tử không ai không thành
khẩn. Vua đem món ngon, áo đẹp cúng đủ các vật thiết,
năm vóc gieo xuống đất, cúi đầu lễ bái, khóc lóc thưa
rằng: "Con lòng nhơ, hạnh xấu, không vâng lời dạy đối
với bốn ân tam bảo, làm khổ hại nhân dân, tội đáng chặt
thân đày nơi hèn kém. Khô hạn đã lâu, lê dân đói khát,
oán giận đau khổ thấy thương tình. Xin trừ tai ách cho dân,
hành tội các lỗi của con". Đức Phật bảo: "Ngươi là ông
vua nhân từ, có lòng thương xót nhân huệ, đức bằng trời
Đế Thích, chư Phật đều biết. Nay ban cho ngươi phúc này,
hãy yên lòng chớ lo âu, mau dạy dân đều trồng lúa".
Vua
liền y lệnh, trai gái có nghề, nhà nhà đều làm. Khi lúa
trổ bông, nông quan đem báo. Vua nói: "Hãy đợi lúa chín".
Lúa trổ bông khắp nước, đều chứa hạt lớn, có đến
mấy hộc, mùi vị ngọt ngon, thơm lừng cả nước. Toàn cõi
đều vui ca ngợi đức vua. Nước thù bốn phía đều đến
xưng thần. Dân chúng thêm đông, cõi bờ ngày một mở rộng,
khắp nước giữ giới, quy y tam bảo. Vua cùng thần dân sau
khi chết rồi, đều sinh lên trời.
Phật
dạy: "Người nghèo lúc ấy là thân ta. Vì nhiều đời nhân
từ bố thí cứu vớt chúng sinh, công đức không hoại diệt
nên nay đắc quả làm Phật hiệu là Thiên Trung Thiên làm bậc
Đại hùng trong ba cõi."
Hạnh
thương cho vượt bờ của Bồ tát, bố thí như vậy.
4
Xưa
có Bồ tát, khi làm tu sĩ, thường ở núi đầm, chuyên cần
giữ đạo, không phạm các ác, ăn trái rừng, uống nước
suối không giữ món gì, nghĩ thương chúng sinh ngu si tự khốn,
thấy ai nguy ách, liều mình cứu giúp.
Trên
đường đi tìm trái, gặp con cọp mẹ. Sau khi cho con bú, cọp
mẹ mệt đuối vì thiếu ăn, đói khát tâm cuồng, muốn quay
lại ăn con nó. Bồ tát thấy vậy, bỗng động lòng thương,
buồn nghĩ chúng sinh ở đời ưu khổ không lường, mẹ ăn
thịt con, nỗi đau khó nói, nghẹn ngào rơi lệ. Liền quay
mình nhìn bốn phía tìm xem có gì cho cọp mẹ ăn, để cứu
mạng cọp con, nhưng đều không thấy, trong lòng tự nghĩ:
"Cọp là loài ăn thịt". Lại nghĩ: "Ta lập chí học đạo
chỉ vì chúng sinh đắm chìm trong khổ đau nặng nề, lòng
muốn cứu vớt, khiến xa tai họa, thân mạng vĩnh viễn an
vui. Sau này ta rồi cũng già chết, thân này rốt cuộc cũng
bỏ đi, chi bằng đem lòng bố thí cứu chúng sinh để đạt
thành công đức". Bèn tự đưa đầu mình vào miệng cọp.
Đem đầu cho cọp là muốn mau chết để không cảm thấy đau.
Cọp mẹ cọp con đều được toàn mạng.
Chư
Phật ca ngợi công đức ấy bằng công đức bậc thượng
thánh, trời rồng thiện thần và người có đạo đức không
ai không tiếc thương. Ai tinh tấn cần hành hoặc đắc được
quả Nhập lưu, Thất lai, Bất lai, La hán, Duyên giác, có người
phát lòng vô thượng chánh giác, đem mãnh chí ấy, vượt trước
hơn các Bồ tát được chín kiếp, thể ở đời năm dơ làm
thầy trời người, độ kẻ nghịch ác, khiến tà theo chánh
đạo.
Hạnh
thương cho vượt bờ của Bồ tát, bố thí như vậy.
5
Xưa
có Bồ Tát làm đại quốc vương, nước tên Càn Di, vua hiệu
Thiên Duyệt, trong sáng ngoài nhân, nét mặt hiền hòa ngay thẳng
công bình, dân theo đức hóa, ngục không nhốt tù, lê dân
nghèo thiếu, mặc lòng cầu xin, vua thương cho khắp, ân sánh
Đế Thích, đạo sĩ nước khác phục vua nhân từ, bố thí
theo lòng chúng muốn. Lũ tà ghen ghét, lấy ngụy hủy chân,
bèn đến cửa cung nói: "Ta nghe vua sáng, cứu dân nghèo thiếu,
như ơn trời phủ khắp". Rồi hỏi vệ sĩ: "Ngươi có thể
tâu vua chăng?" Cận thần tâu lên, vua liền đi ra, đạo sĩ
xuất hiện nói: "Đức vua sáng suốt, lòng nhân thấm đến
bốn phương, các loại hữu thức, không ai không tha. Dám xin
chấp nhận nguyện vọng mà tôi muốn tâu lên". Vua nói: "Tốt
lắm!". Đạo sĩ nói: "Vua trời ưa bố thí, nếu xin chắc không
trái ý. Bây giờ tôi cần đầu người để làm một việc.
Nguyện xin đầu vua, để thỏa mong ước". Vua nói: "Đầu ta
đẹp gì, mà ngươi muốn xin? Ta có các báu, cho ngươi lợi
hơn". Đạo sĩ không nhận, vua lại sai thợ làm đầu bảy
báu, mỗi thứ mấy trăm để cho đạo sĩ. Đạo sĩ nói: "Tôi
chỉ muốn đầu vua thôi". Vua chưa từng trái ý, liền tự
bước xuống điện, lấy tóc cột vào cây nói: "Ta lấy đầu
cho ngươi đây". Đạo sĩ rút dao đi nhanh đến. Thần cây thấy
vậy, giận người vô đạo, giơ tay tát vào má nó, mình liền
vặn tréo, mặt bị méo xẹo, buông tay rơi dao. Vua được bình
an, thần dân chúc thọ, buồn vui lẫn lộn. Chư thiên ca ngợi
đức vua: "Đáng gọi là nội thí sao?". Bốn vua trời ủng
hộ, các độc tiêu hết, trong nước không bệnh, lúa đậu
trúng mùa, lao ngục phá tan, vua tôi vui vẻ.
Đức
Phật bảo các Sa môn: "Vua nước Càn Di bấy giờ là thân ta,
đạo sĩ là Điều Đạt vậy".
Hạnh
thương cho vượt bờ của Bồ tát, bố thí như vậy.
6
Xư
a có Bồ tát làm đại quốc vương, lấy lòng nhân trị dân
quên mình giúp người. Tháng tháng đi tuần để cứu giúp
kẻ nghèo thiếu. Người cô quả bệnh tật thì cho thuốc men
cơm cháo. Mỗi khi đi tuần thú, bảo hậu xa chở đủ các
vật báu, áo mền thuốc men... người chết cho chôn. Khi thấy
dân nghèo, vua tự trách lỗi mình: "Vua nghèo đức, dân mới
mghèo; Vua giàu đức thì nhà dân đủ. Nay dân nghèo tức ta
nghèo". Vua nhân từ như vậy nên tiếng đồn khắp mười phương.
Đế
Thích thứ hai ngồi lo nóng nảy. Lòng Đế Thích sợ nghĩ:
“Đức kia vòi vọi, ắt đoạt ngôi ta. Ta phá chí nó thì
hạnh ấy mới hết”. Bèn tự hóa làm một lão phạm chí,
theo vua xin một nghìn đồng bạc. Vua liền lấy cho. Lão nói:
"Tôi tuổi già xế bóng, sợ người trộm mất, vậy xin gởi
vua". Vua nói: "Nước ta không có trộm cắp." Lão lại nói:
"Xin gửi vua." Vua liền nhận giữ. Đế Thích lại hóa làm
phạm chí, đến cửa cung. Cận thần tâu vua, vua liền đi ra,
phạm chi ấy than rằng: "Công huân và tiếng tăm của Đại
vương, bủa khắp tám phương, đức hạnh hiếm có, vì vậy
nay tôi từ xa đến có điều muốn xin". Vua nói: "Tốt lắm!"
Phạm chí nói: "Tôi xưa bạc phước, sinh nhà hèn hạ, nhưng
thích sang quý, nên muốn xin nước này". Vua nói: "Rất tốt".
Bèn cùng vợ con lên chiếc xe nhỏ ra đi. Vua trời lại hóa
làm phạm chí, theo vua xin chiếc xe. Vua lấy xe ngựa cho rồi
cùng vợ con lên đường, tựa núi nghỉ đêm. Có vị đạo
sĩ chứng năm thần thông, là bạn của vua, bỗng nhớ đức
vua, ngước xem sao trời, biết vua mất nước, bèn tĩnh tâm
thiền định, thấy trời Đế Thích tham lam tật đố, chiếm
đoạt đất nước, khiến vua suy yếu mệt mõi. Đạo sĩ dùng
bước chân thần, bỗng đến chỗ vua, hỏi: "Ngài mong cầu
chi, mà chịu lao chi đến vầy?" Vua đáp: "Chí ta muốn gì,
Ngài đã biết rồi!". Đạo sĩ liền hóa ra cái xe có càng,
để đưa vua về, khi sao sớm đã mờ.
Trời
Đế Thích hóa làm vị phạm chí, lại theo xin xe, vua lại lấy
cho. Dần dần đi về nước ấy chưa tới vài mươi dặm, trời
lại hóa ra vị phạm chí đầu tiên đến đòi tiền bạc.
Vua nói: "Ta đã đem nước cho người, mà quên mất tiền của
ngươi". Phạm chí nói: "Hẹn vua ba ngày trả tiền lại cho
tôi". Vua liền đem vợ con đến cầm ở một nhà nọ được
một ngàn đồng bạc để trả cho phạm chí. Vợ vua hầu cô
con gái nhà ấy. Cô gái đi tắm, cởi vòng ngọc châu và các
món báu trong mình ra treo ở cái giá, trời lại hóa làm chim
ó, cắp lấy áo và châu báu bay đi. Cô gái đổ cho tỳ nữ
trộm lấy, liền bắt giam vào ngục. Đứa con vua nằm ngủ
chung với con chủ nhà, ban đêm trời đến giết đứa con chủ
nhà. Nhà có con chết ấy, bắt con vua giam vào ngục. Mẹ con
đều bị nhốt, đói khát tiều tụy, kêu than không ai cứu.
Cả ngày khóc than. Khi đã định tội, đem bỏ ngoài chợ.
Vua
làm thuê được một ngàn đồng bạc, đến chuộc vợ con
về. Đi ngang qua chợ thấy vợ con như vậy liền tưởng nhớ
mười phương chư Phật, tự hối lỗi rằng: "Kiếp trước
thân ta độc ác đến thế sao?" Rồi tĩnh tâm nhập định,
nhờ ánh sáng của thần thông thấy được việc của Đế
Thích làm.
Lúc
ấy giữa trời có tiếng nói rằng: "Sao không mau giết đi"
Vua nói: "Ta nghe Đế Thích cứu khắp chúng sinh, lòng son thương
xót, nuôi nấng hơn mẹ hiền, dẫu loài ngậm máu phun người
không ai không chịu ơn giúp đỡ. Ngươi cũng vì không có ác
duyên mà được ngôi vị Đế Thích đấy sao? Đế Thích vì
ôm lòng độc dữ, khi độc ác chín mùi thì thành tội, còn
sống mà đã đọa vào ngục núi Thái sơn". Trời người, rồng,
quỉ không ai không khen ngợi vua. Vua chúa đất liền giải
tội cho vợ con vua. Hai vua gặp nhau tìm hỏi căn nguyên, và
kể rõ đầu đuôi, lớn bé cả nước ai cũng rơi lệ. Vua
chúa đất liền chia nước ra cho vua cai trị. Thần dân nước
cũ, tìm đến chỗ vua, cả nước nghênh đón. Vua tôi hai nước,
bên vui, bên buồn.
Vua
khi ấy là thân ta, người vợ nay là Câu Di, đứa con nay là
La Vân, thiên đế nay là Điều Đạt, phạm chí trong núi là
Xá Lợi Phất, vua nước kia là Di Lặc vậy.
Hạnh
thương cho vượt bờ của Bồ tát, bố thí như vậy.
7
Xưa
có Bồ tát làm đại quốc vương, lấy điều ngay thẳng trị
dân, lòng không thiên lệch, nhưng không đi xem xét dân tình.
Vị tướng quốc tâu: "Xin vua đi xem một lần". Vua nói: "Tốt
lắm". Hôm sau liền đi. Dân chúng vui vẻ, đều được như
ý, vua thấy nhà giàu trong nước ở nhà đẹp đẽ, lợp ngói
vàng bạc, ăn mặc rực đường. Bèn nói: "Nước ta giàu thay!"
Lòng rất vui mừng, về cung nhớ lại nghĩ rằng: "Các nhà
giàu này có ích gì cho nước đâu?" Liền sai kiểm kê của
cải, lấy để nuôi quân.
Có
một nhà giàu, của riêng có ba nghìn vạn, viết sớ dâng vua.
Vua giận nói: "Sao dám dối mặt ta ư?". Người ấy trả lời:
"Tôi từ nhỏ làm ăn, đại khái có ít của riêng, còn châu
báu trong nhà đều là phần của năm nhà, chứ không phải
của riêng tôi". Vua nói:" Sao gọi là của riêng?". Người ấy
đáp: "Lòng nhớ sự nghiệp Phật. Miệng nói lời Phật dạy.
Thân làm việc Phật, bỏ phần của năm nhà ra dựng chùa Phật,
thờ kính bậc hiền thánh, cúng dường áo cơm, thương nuôi
các loài bò bay máy cựa. Việc gì lòng không ưa thì không
đem đến cho kẻ khác. Cái phúc đức này theo ta như bóng theo
hình, nên gọi là của riêng. Còn phần của năm nhà, một
là nước, hai là lửa, ba là giặc, bốn là quan, năm là mạng
chết. Thân đi, của quí trong nhà bỏ lại cho đời, một mình
ra đi, của họa phước chưa biết tới đâu. Thấy đời như
huyễn, nên không dám có. Nếu kể phần của năm nhà thì có
đến cả mười ức. Đây là sào huyệt của tai họa, thường
sợ nguy mình, há dám có của sao? Xin quân sĩ hãy chở đi,
để trừ mối lo cho tôi.".
Vua
nói: "Thành thật thay lời nói ấy!" Bèn cho phép người ấy
ra đi. Vua trở về thư phòng, lắng tâm tinh tấn suy nghĩa liền
tỉnh ngộ rằng: "Thân này còn không giữ được, huống gì
đất nước, vợ con, những thứ ấy có thể được lâu dài
sao?" Bèn soạn chép kinh Phật, đọc văn giải nghĩa, lòng dơ
theo đó gột sạch, tiến quan trung trinh, nhận lời can gián,
đại xá cả nước, trả của báu lại cho dân, đối xử tốt
với quần thần, bàn luận việc khoan chính. Vua gọi quần
thần bảo: “Phàm người không thấy nghĩa mầu và giới trọng
của kinh Phật thì kẻ ấy là đui điếc. Người nhà giàu
kia thì giàu, chỉ có ta là nghèo”. Bèn truyền phân chia của
báu cho người trong nước, cấp đỡ người nghèo, cho dân
những gì họ muốn, lập chùa miếu Phật, giăng lụa đốt
hương, dâng cơm cho các sa môn, tự thân giữ sáu ngày trai.
Cứ như vậy ba năm, bốn cõi yên tĩnh, giặc cướp đều hết,
ngũ cốc được mùa, dân hết đói lạnh. Sau khi chết vua sinh
lên cõi trời thứ hai.
Đức
Phật bảo các sa môn: “Ông vua bấy giờ là thân ta, người
nhà giàu là Thu Lộ Tử (Xá Lợi Phất), người khuyên vua đi
xem xét dân tình là A Nan”.
Hạnh
thương cho vượt bờ của Bồ tát, bố thí như vậy.
8
Xưa
Bồ tát là một nhà giàu lớn tên Tiên Thán, của giàu vô
số, thấy giáo pháp sáng suốt của Phật, biết đời vô thường,
mạng sống khó giữ, của cải chẳng phải mình có, chỉ có
công đức bố thí là không hư mất, liền báo cho dân rằng:
“Nếu ai nghèo thiếu thì cứ theo ý muốn mà đến lấy đi”.
Như vậy trải qua vài tháng.
Bấy
giờ chính sách khoan hồng nên dân chúng giàu có không ai thiếu
của. Tiên Thán nghĩ rằng: “Chỉ nên mua thuốc, giúp người
đau yếu”. Liền mua thuốc hay, cứu mạng chúng sinh, thương
nuôi đến khắp, ơn cho không đâu không tới.
Bố
thí nhiều năm, đức thơm tỏa xa, người bệnh bốn phương
kéo về, từ đầu đến cuối đều khen đức rộng thấm sánh
ngang với trời. Tiền của hết sạch, bèn tự mình đi tìm
châu báu. Cách nhà hơn trăm dặm, ở trên một bờ sông, gặp
vài xe chở những người bệnh nặng đến. Tiên Thán hỏi:
“Quí vị đi đâu vậy?” những người ấy đáp: “Đến
chỗ Tiên Thán, hầu được sống trọn mạng thừa”. Tiên
Thán liền quay về, mượn vua 500 lượng vàng, mua thuốc chữa
trị, những người bệnh đều được khỏi. Rồi tự mình
cùng những người buôn vào biển tìm của báu, kiếm được
rất nhiều. Khi trở về nước, bèn để trên thuyền rồi
đi bộ về. Trên đường đi thiếu nước Tiên Thán gặp một
cái giếng bèn kêu mọi người đến múc, rồi tự lấy nước
mà uống. Các người buôn thấy Tiên Thán kiếm được bạch
châu lóng lánh tuyệt vời, lòng tham càng dữ, muốn hủy bậc
thánh, hại người nhân, bèn cùng nhau xô Tiên Thán xuống cái
giếng ấy. Nhưng vì Bồ tát nhân đức nên cảm động đến
thần kỳ, thiên thần rước lấy, khiến không bị thương
tích. Con buôn về nước. Vua hỏi: “Tiên Thán đi đâu rồi?”.
Bọn ấy đáp: “Ra khỏi nước liền biệt dạng, không biết
đi nơi nào”. Vua hỏi: “Bọn bây đã giết rồi sao?”. Bọn
ấy đáp: “Dạ, không phải”.
Tiên
Thán ở dưới giếng, thấy bên giếng có cái lỗ trống liền
men theo đó mà ra khỏi cái giếng của nhà kia. Chỉ bảy ngày
là đi về đến nước mình. Vua hỏi: “Vì sao mà về tay không
vậy?”. Thán đáp: “Không kiếm được của”. Vua yên lặng
suy nghĩ rằng: “Đây ắt có nguyên do gì”. Liền vời các
con buôn lại hỏi: “Nếu các ngươi thành thật thú tội thì
được sống, còn nếu dối lừa ta thì phải chết”. Cả
bọn liền thú nhận, nên bị giao cho ngục quan định tội.
Tiên Thán khóc lóc, chạy đến cửa cung, dập đầu xin tội.
Vua nói: “Điều ấy trái với chính sách”. Tiên Thán lại
xin: “ Kẻ ngu thấy sai, chưa rõ trách nhiệm, xin tha cho sự
không hiểu biết của họ”. Vua khen lòng nhân bao trùm của
Tiên Thán, tha tội dữ cho bọn lái buôn rồi ra chiếu chỉ
khiến trả lại báu vật. Các lái buôn đều nói: “Nếu Tiên
Thán là người không thờ Phật, há có lòng nhân như vậy
sao?” Mỗi người đều chọn của báu để trả Tiên Thán.
Tiên Thán nhận mỗi người một nửa. Các con buôn đều cúi
đầu nói: “Nhờ ơn Ngài được toàn mạng, xin đem nạp hết”.
Khi nhận của ấy, Tiên Thán đem vàng trả lại cho vua, rồi
bố thí hơn nữa. Vua cùng thần dân đem nhau đi thọ giới.
Con hiếu, tôi trung, trời thần vệ hộ, nước giàu dân mạnh,
bốn cõi chịu đức, không ai không khen hay.
Đức
Phậtdạy: “Tiên Thán lúc ấy là thân ta”.
Hạnh
thương cho vượt bờ của Bồ tát, bố thí như vậy.
9
Xưa
có Bồ tát sinh vào nhà giàu, mới rơi xuống đất, liền nói:
“Chúng sinh muôn họa, ta phải cứu giúp, họ không thấy bóng
Phật, không nghe pháp sáng, ta phải mở tai mắt, để trừ
đui điếc cho họ, khiến họ thấy nghe đạo chính chân vô
thượng, làm vua các thánh, làm nguồn cho phép tắc rõ
ràng, dụ dẫn tinh tấn bố thí, không ai là không phục tùng”.
Họ
hàng sợ hãi nói: “Từ xưa đến giờ, chưa nghe trẻ con làm
vậy. Hay là hồn linh của trời rồng quỉ thần ư? Phải bói
xem sao?” Đức bé liền trả lời với cha mẹ rằng: “Tôi
từ chỗ thượng thánh hóa về, tự nhiên mang trí sáng biết
khắp, chứ không phải các loài yêu quỉ, hãy yên lòng, đừng
ngờ vực”. Nói xong liền im lặng. Cha mẹ nói: “Bé có chí
lớn rộng khắp đất trời, sẽ là bậc phi phàm ư?”. Bèn
đặt tên có là Phổ Thí. Tuổi mới lên mười mà các kinh
điển Phật giáo và học thuật thế gian không gì là không
thông suốt, liền từ giả cha mẹ đi giúp mọi người, bố
thí những kẻ nghèo thiếu. Cha mẹ, nói: “Nhà ta có tiếng
rất giàu, vậy con mặc lòng bố thí người nghèo”. Phổ
Thí đáp: “Không đủ đâu! Xin cho con làm sa môn, cho con y
bát cùng tích trượng, để đem cứu người thì đó làm ý
nguyện cuộc đời con”. Cha mẹ nhớ lại lời thề, lúc con
mới sinh, nên không từ chối cản trở. Liền theo ý nguyện,
cho con làm Sa môn, đi khắp nơi giáo hóa.
Qua
một nước lớn, nước ấy có một nhà giàu, cũng hiểu các
sách, thấy Phổ Thí cung cách đường hoàng, mặt mày đẹp
đẽ, tính tình đằm thắm, sạch như vàng trời, có nét của
bậc thượng thánh, sẽ làm bậc anh hùng ở đời. Bèn gọi
Phổ Thí hỏi: “Có muốn gì xin cứ bảo, ta sẽ làm vừa
lòng thánh nhân. Ta có người con gái hèn, xin đem cho Ngài sai
sử”. Phổ Thí đáp: “Rất tốt! Hãy đợi tôi về”.
Liền
lên đường đi đến bờ biển, xuống thuyền qua biển, khi
lên bờ, bèn đi vào núi, đến chỗ không người ở. Từ xa
trông thấy một thành bằng bạc, cung điện sáng đẹp. Bấy
giờ có con rắn độc quấn quanh thành bảy vòng, mình lớn
trăm khoanh, thấy Phổ Thí đến ngóc đầu lên. Phổ Thí nghĩ
rằng: “Đây loài ngậm độc, ắt có lòng hại, ta phải khởi
lòng từ không ngăn trở để diệt độc nó. Hung dữ là lửa,
nhân từ là nước, lấy nước diệt lửa, khi nào chẳng tắt”.
Liền ngồi thiền dấy lòng từ, nguyện cho chúng sinh sớm
lìa tám nạn, lòng bỏ niệm ác, gặp Phật nghe Pháp, gặp
sa môn được nghe đạo sáng vô thượng chính chân, lòng mở,
uế diệt, như sự thấy biết của ta. Dấy được định từ,
độc rắn liền diệt, nó cúi đầu nằm ngủ. Phổ Thí bước
lên đầu nó vào thành. Trong thành có thiên thần, thấy Phổ
Thí đến mừng rỡ nói: “Từ lâu cảm phục thánh đức,
nay Ngài ung dung đến đây, thật đúng với bản tâm của tôi.
Xin ở lại đây một thời gian chín mươi ngày”. Phổ Thí
nhận lời. Thiên vương liền đem việc triều chính giao phó
cho cận thần, tự mình dâng thức ăn uống, sáng tối tinh
cần vâng giữ hạnh cao của chư Phật về vô thường,
khổ, không, vô ngã, là pháp sáng cứu giúp chúng sanh.
Khi
ngày cúng dường đã mãn, Phổ Thí lên đường, thiên vương
đem một viên chân châu minh nguyệt tặng rồi tiễn chân nói:
“Đem viên châu này theo mình thì sáng đến 40 dặm, lòng vừa
ước gì, thì các báu đầy đủ. Nếu sau được làm Phật,
tôi xin làm đệ tử, hầu hạ một bên bậc Thánh”. Phổ
Thí nói: “Được”. Rồi lại đi về phía trước, thấy
thành bằng vàng, trang hoàng đẹp hơn thành bạc. Lại có rắn
độc bao thành 14 vòng, thân lớn gấp bội con trước, ngóc
đầu mấy trượng. Phổ Thí lại khởi định từ, độc rắn
liền tiêu, nó cúi đầu nằm ngủ, Phổ Thí bước lên đầu
nó, đi vào. Trong thành có thiên nhân, thấy Phổ Thí đến
vui mừng nói: “Từ lâu mến phục thánh linh, nay Ngài đến
đây thật là tốt lành. Xin ở lại đây hai thời 180 ngày,
tôi xin hết lòng cúng dường, chỉ xin lưu lại uy thần”.
Phổ Thí liền nhận lời, lưu lại thuyết pháp về hạnh sáng
vô thượng. Khi đã hết hạn, từ giã lui chân. Thiên nhân
lại lấy một hạt châu thần ra tiễn, ánh sáng nó chiếu
xa 80 dặm, lòng vừa ước gì, các báu liền đầy cả dặm.
Thiên nhân nói: “Nếu Ngài đắc đạo, tôi xin làm đệ tử
có thần túc vô thượng”. Nhận thần châu rồi, Phổ Thí
lại lên đường đi, thấy thành lưu ly, rực rỡ hơn thành
trước, lại có rắn độc, thân to rất lớn, vòng quanh thành
21 khoanh, ngóc đầu trợn mắt giữ cửa thành ấy. Phổ Thí
lại ngồi, nghĩ sâu về định phổ từ, thề cứu chúng sinh,
rắn tự tiêu độc, cúi đầu. Phổ Thí bước lên mà vào.
Trong thành có thiên nhân vui vẻ, nói lời như trước, thỉnh
ở lại ba thời, nguyện cúng dường những gì Phổ Thí muốn.
Hết hạn, từ giã lên đường. Thiên lại lấy một hạt thần
châu tiễn biệt, ánh sáng nó chiếu xa đến 160 dặm, châu
đến chỗ nào thì các báu vật tìm theo đầy trong khoảng
ánh sáng ấy, tùy ý mình muốn, không có gì cầu mà chẳng
được. Thiên nhân nói: “Nếu Ngài đắc đạo vô thượng
chính chân, tôi nguyện làm đệ tử, có trí tuệ rất sáng
suốt”. Phổ Thí nói: “Chắc được như ý ngươi muốn”.
Phổ Thí được châu rồi nói: “Của này đủ cứu giúp chúng
sinh thiếu thốn”.
Thế
rồi trở về chỗ cũ của mình, các thần rồng biển đều
bàn với nhau rằng: “Biển lớn chúng ta chỉ cần ba viên
thần châu ấy sẽ làm chúng ta vinh hoa, nay vị đạo sĩ này
được cả thì làm sao chúng ta sang giàu được? Thà mất các
báu khác, chứ không chịu mất những hạt châu ấy”. Thần
biển hóa làm người phàm hiện ra trước mặt Phổ Thí nói:
“Tôi nghe nhân giả có được của báu nhất thế gian, có
thể cho tôi xem được không?” Phổ Thí lấy đưa ra, thần
biển liền đập đầu Phổ Thí để lấy hạt châu. Phổ Thí
nghĩ: “Ta trải bao hiểm trở, vượt qua biển lớn mới được
báu vật ấy, muốn đem cứu giúp chúng sinh nghèo thiếu, ngờ
đâu bị thần biển này xem thấy mà đoạt mất ư?” Liền
nói: “Ngươi trả châu lại cho ta! Nếu không, ta làm khô biển
ngươi hết bây giờ”. Thần biển đáp: “Lời ngươi sao
láo thế? Biển lớn này sâu rộng khó lường ai có thể làm
khô hết được? Mặt trời có thể rơi, gió to có thể ngưng
lại, chứ biển này không thể khô cạn được, cũng như hư
không, khó có thể hủy diệt được”. Phổ Thí nói: “Xưa
ta trước Phật Định Quang, nguyện được đạo lực, lập
úp các biển, tay nâng Tu Di, lay động đất trời, lại dời
các cõi. Đức Phật theo ý muốn mà cho ta được như nguyện.
Ta nay đã được phép ấy, còn ngươi có cái sức tà chỉ
bằng tơ tóc của loài quỷ yêu, làm sao có thể lấn át cái
thế mạnh chân chính của ta được”. Liền nói kinh rằng:
“Ta
từ vô số kiếp nay, uống dòng sữa mẹ, nước mắt khóc
than, máu chảy thân chết, biển chẳng có nhận, ái ân khó
dứt, sinh tử khôn dừng. Ta vẫn muốn dứt gốc ái ân, dừng
hồn sống chết, đời này gỡ ra không hết, thì đời đời
xin gỡ ra”.
Liền
đứng hai chân bằng lại, tháo bầu nước biển quăng ra ngoài
núi Thiết Vi. Lúc ấy có vị trời tên Biến Tịnh, ở xa nghe
thấy, tự mình suy nghĩ: “Xưa ta trước Phật Định Quang,
nghe người này có được chí nguyện như vậy, ắt sẽ làm
Thế Tôn độ chúng sinh ta”. Vị trời ấy xuống giúp tháo
bầu nước, mười phần hết tám. Thần biển hối hận sợ
hãi nói: “Người này là ai mà linh thiêng vô bờ như thế?
Nước biển hết rồi, chỗ ta sẽ hư”. Liền đem các báu,
trống hết các kho, ra đưa cho Phổ Thí. Phổ Thí không nhận
nói: “Ta chỉ muốn hạt châu thôi”, các thần trả lại
hạt châu, còn Phổ Thí cũng trả lại nước, rồi đi khắp
đất mình, tìm đường bố thí. Nước nào Phổ Thí đi qua,
nước ấy dân không còn nghèo.
Các
nước không ai là không thay đổi tính nết, lấy năm giới
và mười lành, làm chính sách quốc gia, mở ngục đại xá,
ơn thấm khắp chúng sinh. Bèn đạt đến quả Phật.
Đức
Phật bảo các sa môn: “Phổ Thí là thân ta, người cha là
Bạch Tịnh, mẹ nay là Xá Diệu mẹ ta, nữ đạo sĩ nay là
Câu Di, vị thiên thần trong thành bạc khi ấy nay là A Nan,
vị thiên thần trong thành vàng nay là Mục Liên, vị thiên
thần trong thành Lưu ly là Xá Lợi Phất. Bồ Tát nhiều kiếp
siêng năng thực hành bốn ân, thệ nguyện cầu Phật cứu
vớt chúng sinh”.
Hạnh
thương cho vượt bờ của Bồ Tát, bố thí như vậy.
10
Xưa
Bồ Tát làm đại quốc vương tên là Trường Thọ, thái tử
tên Trường Sinh, vua ấy nhân từ, thường mang lòng từ thương
xót chúng sanh, thệ nguyện cứu giúp siêng năng không mệt
mỏi, không dùng dao gậy, dân chúng không oán, mưa gió đúng
thời, lúa quí đầy tràn.
Tiểu
vương nước bên tính nết bạo ngược, luật pháp tham tàn
nên dân nghèo, nước trống. Bèn bảo quần thần: "Ta nghe Trường
Thọ, nước nó rất giàu, cách đây không xa, nó giữ lòng
từ không giết quân, không phòng bị, ta muốn chiếm nước
nó, có thể được chăng?" Quần thần trả lời: "Được".
Bèn liền khởi binh đến biên giới nước ấy. Quan giữ cửa
ải, đem biểu về tâu tình trạng, xin tìm cách phòng bị.
Trường Thọ liền họp quần thần lại bàn: "Vua kia đến
đây chỉ tham nước ta đông dân, nhiều báu. Nếu đánh với
nó chắc tổn mạng dân, Lợi mình, hại dân, tham lam bất nhân,
việc ấy ta không làm". Quần thần đều nói: "Chúng thần
từ lâu, luyện tập binh sĩ, bày mưu binh pháp, xin được tự
đánh diệt bọn ấy, không nhọc Thánh quân lo nghĩ". Vua nói:
"Ta thắng thì nó chết, ta yếu thì ta chết, binh nó và dân
ta đều do trời sinh dưỡng, việc trọng thân tiếc mạng ai
chẳng như thế. Nhưng để toàn thân mình mà hại dân chúng
thì bậc hiền không làm". Quần thần đều đứng ra nói: "Vua
này nhân từ như trời, không thể mất được, phải tự mình
kiểm đốc đem binh chống giặc". Trường Thọ biết được,
gọi Thái tử bảo: "Vua kia tham nước ta, đem lòng độc dữ
đến đây, quần thần vì một thân ta mà muốn hại mạng
dân chúng. Nay ta giao nước để dân trời được toàn mạng,
nghĩa ấy có được không?" Thái tử nói: "Dạ được".
Thế
rồi cha con vượt thành, bèn đổi họ tên, trốn nơi núi đồng.
Do vậy vua tham mới vào được nước ấy. Quần thần, dân
chúng mất vua cũ mình như con hiếu mất cha mẹ, khóc lóc vật
vã, không nhà nào là không như thế. Vua tham tìm bắt, treo
giải một nghìn cân vàng và nghìn vạn quan tiền.
Trường
Thọ ra đi ngồi dười gốc cây bên vệ đường Thiền Định,
thương xót chúng sinh sống chết cần khổ, không thấy khổ,
không, vô thường, vô ngã, vì bị dục mê hoặc, khổ thật
vô số. Có người phạm chí nước xa, nghe vua ưa chuộng bố
thí, cứu mạng chúng sinh, từ xa đến cũng dừng lại dưới
gốc cây, hỏi han lẫn nhau. Mỗi người kể rõ đầu đuôi
việc của mình. Phạm chí kinh hãi hỏi: "Thiên Vương vì sao
đến nỗi này?". Rồi rơi lệ tự kể lể: "Năm tàn của tôi
không còn mấy chốc, nên đến xin chút gì hầu mạng thừa,
nay Đại vương mất nước thì mạng tôi cũng cùng rồi". Nói
liền than khóc. Vua nói: "Ông nghèo khổ, từ xa đến, gặp
lúc ta mất nước, không biết lấy gì để giúp ông, không
đau xót sao?" Vua gạt nước mắt nói: "Ta nghe vua mới treo giải
nhiều lắm, vậy ông hãy lấy đầu ta, có thể được trọng
thưởng". Phạm chí đáp: "Không phải vậy, tôi từ xa cảm
phục đức nhân của Vua cứu giúp chúng sinh nhuần thấm như
đất trời. Thế nên bỏ đất nước đến đây mong được
cứu mạng, nay Vua bảo tôi chém đầu Ngài, tôi chẳng dám
vâng lời ấy được". Vua nói: "Thân này là đồ mục nát,
há dám giữ đươ
c ư?
Phàm sống ắt có chết, ai có thể còn hoài? Nếu ông không
lấy, rốt cuộc nó cũng là tro bụi mà thôi!" Phạm chí nói:
"Thiên vương vung vải ơn huệ, nhân đức như trời, ắt muốn
giết mình để cứu kẻ thấp hèn, xin Ngài buông tay cho tôi
dắt đi". Vua liền đưa tay đi theo. Đến cửa thành cũ, Vua
ra lệnh trói mình lại đem tâu. Người trong nước thấy vua,
khóc than vang cả nước. Phạm chí được thưởng. Vua tham
sai đem vua đến ngã tư đường thiêu sống rồi giết đi.
Quần thần đều tâu: "Vua cũ chúng thần cuối cùng phải chết.
Vậy xin cho làm bữa tiệc nhỏ để tiễn đưa linh hồn người".
Vua tham nói: "Được". Trăm quan lê dân kêu khóc nghẹt đường.
Vật vã lăn lóc, không ai là không kêu trời. Thái tử Trường
Sinh cũng giả làm người bán củi, đứng trước mặt cha.
Vua thấy con, ngửa mặt lên trời nói: "Nếu trái lời trăn
trối của cha, ngậm hung ôm dữ, chất chứa oán giận chập
chồng, để tai vạ đến muôn đời. Đấy không phải là người
con hiếu. Chư Phật lòng từ bốn bậc rộng thấm, đức trùm
trời đất, ta theo đạo ấy, giết mình để cứu chúng, còn
sợ không một chút của hạnh hiếu đạo, huống làm chuyện
ngỗ ngược báo thù sao? Nếu không trái bỏ lời ta mới có
thể gọi là hiếu". Người con không nỡ nhìn cha mình chết,
bèn trở vào núi sâu.
Vua
chết rồi, thái tử kêu khóc, máu chảy cả miệng, nói: "Vua
ta tuy lúc lâm chung, có lời răn hết sức nhân từ, nhưng ta
ắt trái lời, phải giết kẻ độc ác kia". Bèn ra làm thuê
trồng rau cho một ông quan.
Một
hôm, quan tình cờ dạo vườn, thấy rau xanh tốt, bèn hỏi
nguyên do. Người giữ vườn đáp: "Tôi có mướn một người
làm thuê rất giỏi việc trồng vườn". Người ấy kêu đến
hỏi: " Ngươi còn có khả năng gì?" Người ấy đáp: "Trăm
nghề tuyệt hảo, tôi đều đứng đầu". Quan xin lệnh vua
cho vào nấu ăn cho vua. Người ấy còn giỏi hơn cả thái quan
(quan nấu ăn cho vua). Vua hỏi: "Món này do ai làm vậy? "Quan
đem sự thực ra đáp. Vua liền lấy người ấy làm quan coi
bếp, mỗi việc đều vừa lòng. Vua cất nhắc lên làm cận
thần, bảo rằng: "Con của Trường Thọ là trọng thù của
ta, nay ta dùng ngươi làm cận vệ" Người ấy liền đáp: "Thưa
vâng". Vua hỏi: "Người thích đi săn không?" Đáp: "Thần rất
thích". Vua liền ra ngoài đi săn, rong ngựa đuổi mồi bị
thất lạc với mọi người, chỉ với Trường Sinh cùng ở
trong núi ba ngày, đến lúc đói khốn vua bèn tháo kiếm trao
cho Trường Sinh, rồi gối đầu đùi Trường Sinh mà ngủ.
Trường Sinh nghĩ: "Nay ta đã được ngươi rồi ư?" Bèn rút
kiếm muốn chém đầu, bỗng nhớ lại lời cha dặn: "Trái
lời cha dạy là bất hiếu đấy!" Lại tra kiếm dừng lại.
Vua tỉnh giấc nói: "Ta mộng thấy Trường Sinh muốn chém đầu
ta. Việc gì như thế"? Trường Sinh đáp: "Núi có quỷ dữ,
thích việc nung nấu. Thần tự chầu hầu, còn gì mà sợ?"
Vua lại ngủ nữa. Cứ vậy ba lần, Trường Sinh bèn quăng
kiếm nói: "Ta vì cha ta nhân từ mà tha mạng cho ngươi đó!"
Vua tỉnh dậy nói: "Ta mộng thấy Trường Sinh tha mạng cho
ta rồi". Thái tử nói: "Trường Sinh chính là tôi đây! Cũng
vì thương nhớ cha mà theo đuổi kẻ thù đến nay. Cha tôi
khi chết, miệng còn để lại lời răn nhân từ, bảo tôi
tuân theo đạo nhẫn nhục, ác đến lành đi của chư Phật.
Nhưng tôi giữ tính cực ngu, muốn đem hai cái hung dữ luyện
vào nhau. Nhưng ba lần nhớ lại lời cha dạy, ba lần buông
kiếm. Vậy xin Đại vương mau giết tôi để trừ hoạn dữ.
Khi thân chết hồn lìa, thì ý ác không còn sinh nữa".
Vua
hối lỗi nói: "Ta làm chuyện bạo ngược, không biết phải
trái. Tiên Vương của ngươi hạnh cao thuần đủ, mất nước
chứ không mất hạnh. Có thể gọi là bậc thượng thánh.
Ngươi giữ tròn hạnh cha, có thể gọi là hiếu. Còn ta là
giống sài lang, giết hại sanh linh để được no ấm. Nay mạng
sống trong tay ngươi mà ngươi tha không giết, thì sau này ta
há làm trái được sao. Giờ ta muốn về nước mình, vậy
phải đi đường nào?" Trường Sinh đáp: "Đây là đường
mê do tôi làm ra. Tôi sẽ đem vua ra khỏi rừng này".
Khi
gặp quần thần, vua hỏi: "Quí vị có ai biết Trường Sinh
không?" Mọi người đều nói: "Không biết". Vua nói: "Người
này là Trường Sinh đó, nay trở lại nước. Còn ta sẽ về
nơi cũ của mình. Từ đây trở đi kết làm anh em, họa phước
cùng nhau".
Ngày
lập Thái tử làm vua, cả nước buồn vui lẫn lộn. Mọi người
không ai là không chúc thọ. Vua tham trở về nước mình, lại
đến triều cống, trở nên giàu mạnh thái bình.
Đức
Phật bảo các sa môn: "Vua Trường Thọ bấy giờ là thân ta.
Thái tử là A Nan. Vua tham là Điều Đạt. Điều Đạt đời
đời có ý ác đối với ta, ta vẫn cứu cho. A Nan và Điều
Đạt vốn không có oán thù nhau, nên không hại lẫn nhau. Ta
đời đời nhẫn những điều không thể nhẫn, giữ ý lập
hạnh, cho nên nay được thành Phật, đấng Thế Tôn trong ba
cõi".
Hạnh
thương vượt bờ của Bồ Tát, bố thí như vậy!