7.
LỤC ĐỘ TẬP KINH VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Khi
viết lịch sử văn học Việt Nam, có một bộ phận văn học
bao gồm truyện thần thoại, cổ tích, ca dao, tục ngữ thường
được xếp vào loại văn học dân gian hay truyền khẩu và
được trình bày mô tả theo lối xếp loại ấy. Do thế, đã
không có một nỗ lực tìm hiểu nghiêm túc thời điểm xuất
hiện hay lưu hành một số các truyện hay câu của bộ phận
ấy để có thể nghiên cứu một cách có căn cứ lịch sử
phát triển của văn học Việt Nam. Thiếu sót này bây giờ
Lục độ tập kinh có thể giúp chúng ta điều chỉnh lại
một phần nào.
Trong
số 91 truyện của nó, có một truyện liên hệ với truyền
thuyết trăm trứng của dân tộc ta mà chúng tôi đã cho nghiên
cứu thành một chuyên luận, đó là Lục độ tập kinh và
lịch sử khởi nguyên dân tộc ta[131][131]. Còn lại như vậy
là 56 truyện, tức các truyện 25, 37, 41, 45, 49. Các truyện
này thống nhất hoàn toàn hoặc một phần với một số “truyện
cổ tích” do Nguyễn Đổng Chi tổng hợp lại trong Kho tàng
truyện cổ tích Việt Nam [132][132], đó là các truyện 9, 13,
48, 144, 162, 166.
Truyện
25 kể một nhà giàu đi chợ, thấy bán ba ba bèn mua thả. Ba
ba đền ơn, báo cho biết sắp có lụt lớn nên chuẩn bị
thuyền bè. Quả có lụt, bèn lên thuyền. Gặp rắn chồn bị
trôi, ông vớt lên. Sau gặp người ông cũng vớt. Chồng đem
vàng trả ơn. Ông đem bố thí. Người được bố thí đến
đòi chia một nửa, ông không chịu, nó đi thưa quan. Ông bị
bắt. Rắn đến cứu bằng cách đi cắn thái tử và cho ông
thuốc thể chữa. Ông được tha và làm tướng quốc.
Truyện
cổ tích 48 kể chuyện một anh nhà nghèo có lòng thương người,
đi câu kiếm ăn, ba lần câu được một con rắn nước, muốn
giết. Rắn xin tha. Rắn đền ơn báo cho anh biết sắp có lụt
lớn. Quả có lụt. Anh lên bè, gặp tổ kiến, rắn lục và
anh đã vớt, rồi chuột, trăn. Nhưng đến khi gặp người,
rắn cản bảo đừng vớt, nhưng anh vẫn vớt và đưa về
sống với anh. Xong rắn mời anh xuống thủy phủ chơi và được
cho cây đàn thất huyền chống giặc. Người kia ăn cắp đàn
và được phong làm đại tướng khi hắn sắp cưới công chúa
thì bỗng dưng công chúa bị câm. Anh gặp nó, nó liền bắt
giam. Kiến đến thăm anh, đi gọi chuột, chuột tìm trăn. Trăn
cho anh viên ngọc chữa lành bệnh câm của công chúa. Anh được
làm quan và lấy công chúa.
Tuy
có cải biên đôi chút với việc thêm thắt một số tình
tiết và nhân vật, truyện 48 về cơ bản thống nhất với
truyện 25 của Lục độ tập kinh. Thời điểm lưu hành, nếu
không phải là xuất hiện của nó phải rơi vào thế kỷ thứ
II sdl, chứ không thể chậm hơn.
Truyện
37 kể có người đi buôn đến một đảo quốc, lấy vợ quỉ.
Sau có người báo, bèn nhờ ngựa thần vượt về quê. Vợ
quỉ đuổi theo, kiện vua. Vua thấy đẹp, lấy làm vợ. Quỉ
đi ăn thịt người, sau chết, sinh làm con gái đẹp một phạm
chí. Có tỳ kheo đòi lấy cô ta, đức Phật la, bảo nó từng
ăn thịt dân.
Truyện
cổ tích 166 kể một phú hộ có bốn cô con gái đòi lấy
hoàng tử. Họ ra đi, bị yêu tinh bắt, nhưng thoát được
và đến kinh thành làm vợ hoàng tử. Yêu tinh bèn biến con
gái mình thành một giai nhân tuyệt thế, Hoàng tử thấy mê
bèn đuổi bốn cô kia đi. Trên đường đi về nhà, họ bị
nó theo móc mắt, Bụt hiện ra cứu, sau con cô út lớn lên
diệt được yêu tinh.
Hai
truyện 37 và 166, dù cơ bản không thống nhất với nhau, như
truyện 25 và 48 ở trên, nhưng cốt lõi vẫn tương đồng,
đó là yêu tinh vì mất mồi, đã biến thành gái đẹp mê
hoặc vua hay hoàng tử. Truyện 166, do thế, hẳn là một cải
biên của truyện 37. Đặc biệt, khi ta biết rằng truyện 37
này có liên hệ với truyện 9 và 39 của Lục độ tập kinh
và các truyện Catudvàrajàtaka và Mittavindajàtaka của văn học
bản sinh Phạn văn và Pàli là những truyện có kể tới bốn
thành bạc, vàng thủy tinh, lưu ly và bốn, tám, mười sáu
và ba mươi hai cô gái đẹp. Điều này giải thích tại sao
truyện 166 có bốn cô gái.
Truyện
41 của Lục độ tập kinh và truyện cổ tích 13 cũng chỉ
có nét tương đồng, như hai truyện vừa bàn. Truyện 41 kể
có ông vua tên A Quần ăn thịt người bị đuổi đi, bèn vào
rừng ở và đi bắt người. Một hôm, vua Phổ Minh đi kinh
lý bị A Quần bắt, xin trở về nghe kinh, rồi đến nộp mạng.
A Quần đồng ý. Phổ Minh đến nộp mạng. Quần ngạc nhiên,
hỏi bài kinh. Nghe xong, Quần giác ngộ...
Truyện
13 “Sự tích cá he” kể một vị sư đi Tây Trúc tìm Phật.
Trên đường, gặp mẹ con Ác Lai chuyên ăn thịt người, sư
thuyết pháp. Ác Lai giác ngộ, móc tim mình gởi sư dâng Phật.
Sư không làm tròn, nên bị đày làm cá he.
Giống
như truyện sự tích cá he với truyện 41, truyện 9 “Sự tích
chim đa đa” và truyện 144 “Sự tích con dế” có dáng dấp
xuất hiện từ truyện 45 của Lục độ tập kinh. Truyện 45
kể có một người nhà giàu không con để nối dõi. Đi đường
nhặt được một đứa bé, đem về mấy tháng thì vợ ông
có thai. Ông bèn đem bỏ ngoài đường xe đi. Người đánh
xe lượm được, một bà lão xin, ông lại đến chuộc. Được
mấy năm, sợ nó hơn con mình đẻ, bèn đem vào rừng để
trong bụi tre. Người tiều phu mang về nuôi. Ông lại đến
chuộc. Về cho ăn học, nó quá giỏi. Ông muốn giết, bèn
viết một lá thư bảo người thợ rèn giết và sai nó cầm
đi. Giữa đường gặp em nó, em nó tranh đi, thế là em nó
chết. Ông lại nhờ một người giữ kho giết. Trên đường
đi, nó ghé vào thăm nhà một người bạn cha mình. Con gái
người bạn này lấy thư tráo đi, bảo người giữ kho chuẩn
bị hôn lễ cưới cô gái ấy. Thế là nó được vợ trở
về. Ông nhà giàu tức uất mà chết.
Truyện
9 “Sự tích chim đa đa” cải biên tình tiết bỏ con vào
trong rừng, đưa thêm nhân vật bố ghẻ. Lần thứ nhất, nhờ
mấy đứa đào khoai mài, nó về nhà được. Lần sau, nó chết,
biến thành chim đa đa. Còn truyện 144 “Sự tích con dế”
đưa vào nhân vật dì ghẻ sai con mình giết con chồng. Em không
giết anh, lại cho anh tiền và nói âm mưu của mẹ mình. Người
anh đi lang thang thì mẹ anh hiện về, giúp đèn sách. Sau gặp
nàng Ngọc Châu, thành vợ chồng, anh thi đổ, vinh qúi. Người
dì ghẻ sợ vỡ mật chết hóa thành con dế. Truyện 144 rõ
ràng tương đương với đoạn sau về việc người thợ rèn
và người giữ kho giết và lấy được vợ của truyện 45.
Truyện
49 kể một nhà tu cứu con quạ, rắn và người thợ săn rớt
hang. Sau quạ đền ơn bằng ngọc minh nguyệt lấy của hoàng
hậu. Nhà tu đem cho thợ săn, thợ săn đi tố, nhà tu bị bắt.
Rắn đến cứu, cho nhà tu thuốc chữa, rồi đi cắn thái tử.
Nhà tu cứu sống thái tử, được chia nửa nước, vẫn không
nhận, trở về rừng.
Truyện
cổ tích 162 kể một anh quân tử tha tội chết cho chuột,
chồn và ruồi. Sau vua kén phò mã, chồn chỉ cho anh vàng để
làm lễ sánh hỏi, ruồi chỉ cho anh mâm để ngồi và chuột
chỉ cho anh buồng để vào gặp công chúa. Anh lấy được
công chúa và sau lên làm vua.
Rõ
ràng có cải biên, nhưng cốt lõi hai truyện 49 và 162 vẫn
cơ bản thống nhất với nhau. Có thể truyện 162 có tham khảo
truyện 25 của Lục độ tập kinh nên đã đưa tình tiết chồn
cho vàng. Lối tham khảo nhiều truyện khác nhau, thậm chí từ
nhiều nguồn khác nhau, để tạo nên những truyện mới, không
phải là không xảy ra. Chẳng hạn, truyện 167 “Sự tích thần
sông Kỳ cùng” hẳn đã tiếp theo truyền thuyết hai trứng
nở ra con người của A tỳ đạt ma đại tỳ ba sa luận 120
ĐTK 1545 tờ 626c24-27 cùng với các truyện sự tích ấy là
một thí dụ điển hình. Công tác truy tìm những dạng truyện
này đòi hỏi nhiều thời gian và phương tiện, nên xin hẹn
một dịp khác.
Đến
đây, qua phân tích năm truyện tương đương trên, chúng ta
có thể rút ra một số kết luận. Thứ nhất, có những truyền
thuyết ta tưởng chúng không bao giờ truy ra nguồn gốc và
thời điểm xuất hiện hay lưu hành, bây giờ có thể tìm
lại được, mà quan trọng nhất là truyền thuyết trăm trứng
của lịch sử khởi nguyên dân tộc ta, thông qua Lục độ
tập kinh. Thứ hai, nền văn học dân tộc ta không phải bắt
đầu với Trần Nhân Tông và Nguyễn Trãi, hay Khuông Việt
và Từ Đạo Hạnh, hay ngay cả Đại Thừa Đăng, hay Lý Miễu,
Đạo Cao, Pháp Minh. Nền văn học thành văn của dân tộc ta
phải bắt đầu với bài Việt ca, cụm truyện thần thoại
và truyện cổ tích đầu tiên hiện tìm thấy trong Lục độ
tập kinh và Cựu tạp thí dụ kinh, mà năm truyện phân tích
trên là những thí dụ.
Thứ
ba, cụm truyện này, có truyện có những tình tiết có nguồn
gốc Việt Nam, cho dù toàn bộ truyện không xuất phát từ
Việt Nam. Chẳng hạn, truyện 25, khi chồn đem vàng đến đền
ơn người “hiền” cứu mạng, nó phải xác nhận vàng đó
lấy từ “hang” của nó, chứ không phải từ mồ mả, không
phải là của dân, không phải của ăn cướp, không phải của
ăn trộm. Sau đó, người hiền bị tố là “quật mộ cướp
vàng” và bị bắt. Việc chôn người chết có bỏ theo vàng
ngọc là một tục lệ đặc biệt Trung Quốc, chứ không là
Ấn Độ và việc quật mộ trộm vàng là một tội bị chém
đem bỏ chợ. Như Sứu thần ký của Can Bảo đã ghi và Lưu
Chiêu dẫn trong Hậu Hán thư 27 tờ 5b11-13, nhân vụ Thái Trọng
quật mộ Lý Nga để “trộm vàng báu” vào năm 199. Tục
lệ chôn cất và luật lệ bảo vệ mồ mả ấy chắc chắn
cũng phổ biến ở nước ta vào thời Lục độ tập kinh ra
đời, nên ta mới thấy có một xác nhận khá minh bạch về
nguồn gốc số vàng trên.
Thứ
tư, thời điểm xuất hiện và lưu hành của cụm truyện ấy,
nếu không sớm thì cũng không thể muộn hơn thế kỷ thứ
II sdl. Từ đó, nghiên cứu chúng, chúng ta có thể biết được
ít nhiều về nền văn hiến điển chương của dân tộc ta,
trong đó có cả pháp luật và điển huấn, chứ không chỉ
văn học và lịch sử. Cụ thể là các điều khoản của bộ
Việt luật về vấn đề chôn cất mồ mả và hôn nhân.
Thứ
năm, nhờ Lục độ tập kinh, quá trình hình thành và phát
triển kho tàng truyện thần thoại và cổ tích Việt Nam đang
một phần nào được nghiên cứu một cách có căn cứ về
mặt thời gian lịch sử cũng như về mặt cơ cấu nội dung.
Nó sẽ giúp khôi phục lại diện mạo văn học dân tộc ta
cách đây hai nghìn năm. Và chúng ta không còn bàn cãi một
cách tùy tiện không cơ sở về một nền văn học “dân gian”
chung chung phi thời gian, phi lịch sử. Những đóng góp của
Lục độ tập kinh do thế, tuy ít ỏi, nhưng thật quí giá
và đáng trân trọng.
8.
TỔNG KẾT
Từ
những phân tích trên, ta có thể rút ra mấy kết luận sơ
bộ sau:
1.
Lục độ tập kinh hiện nay là một dịch phẩm của Khương
Tăng Hội từ một nguyên bản Lục độ tập kinh tiếng Việt.
Sự kiện này giải thích cho thấy tại sao có hiện tượng
“văn từ điển nhã”, mà Thang Dụng Đồng đã nhận ra,
và bác bỏ kết luận mà Thang Dung Đồng đã đi tới, đó
là Lục độ tập kinh có thể là một tác phẩm do Khương
Tăng Hội viết.
2.
Vì xuất phát từ một nguyên bản tiếng Việt, nên Lục độ
tập kinh mới chứa đựng một lượng lớn những cấu trúc
câu văn không theo ngữ pháp tiếng Trung Quốc, mà theo ngữ
pháp tiếng Việt. Số lượng những câu văn này cung cấp cho
ta một lượng lớn thông tin để phác thảo lại diện mạo
tiếng Việt cách đây gần 2.000 năm mà cho đến nay, ngoài
bài Việt ca, ta không có một tín hiệu nào cả. Đây phải
nói là những đóng góp vô giá, mà Lục độ tập kinh mang
lại cho dân tộc ta nói chung, và các ngành văn học và ngữ
học nói riêng.
3.
Cũng vì xuất phát từ một nguyên bản tiếng Việt, nên Lục
độ tập kinh ngày nay đã cho ta thấy những luồng tư tưởng
nào đã chi phối dân tộc ta, những vấn đề gì đã làm cho
họ suy tư trăn trở vào thời điểm Lục độ tập kinh ra
đời. Từ đó, ta nhận ra một loạt những chủ đề, mà qua
suốt lịch sử dân tộc đã trở thành cốt lõi của truyền
thống văn hóa tư tưởng và chính trị Việt Nam. Về mặt
này, Lục độ tập kinh có những cống hiến thật khởi sắc
và đáng suy gẫm.
4.
Hệ tư tưởng Phật giáo truyền dạy thông qua Lục độ tập
kinh là bao gồm những gì tinh túy nhất, cốt lõi nhất và
tích cực nhất của toàn bộ hệ thống giáo lý Phật giáo
nguyên thủy, nêu mẫu người lý tưởng gồm hai phẩm chất
chính yếu là tình thương và trí tuệ làm điển hình cho cuộc
sống nội tâm và xã hội của người Phật tử, kiến tạo
một quan hệ gắn bó chặt chẽ keo sơn giữa Phật giáo và
dân tộc, từ đó thiết định vai trò và nhiệm vụ của Phật
giáo trong quan hệ ấy.
5.
Thêm vào đó, Lục độ tập kinh chứa đựng một lượng lớn
thông tin về nhiều mặt của đời sống vật chất cũng như
tinh thần của xã hội người Việt Nam vào giai đoạn nó xuất
hiện. Từ những kiến thức hết sức chính xác của các khoa
học thực nghiệm như khẳng định thai nhi ở trong bụng mẹ
266 ngày cho đến các phong tục tập quán kiểu liệm người
chết bỏ vàng bạc ngũ cốc vào miệng hay ngứa nách, máy
mắt v.v... từ việc lấy cây chuối làm hình nộm cho đến
chuyện đem chuột nướng bán làm thịt, nó cung cấp cho ta
nhiều dữ kiện để nghiên cứu lịch sử khoa học kỹ thuật
Việt Nam cùng truyền thống văn hóa dân tộc.
Lục
độ tập kinh đã được dịch ra tiếng Nhật, tiếng Pháp
từ lâu. Và những mẫu chuyện do nó cung cấp đã lưu hành
rộng rãi trong sinh hoạt văn học và tôn giáo nước ta. Nhưng
cho đến nay, với những đóng góp to lớn vừa nêu, Lục độ
tập kinh vẫn chưa có một bản tiếng Việt hoàn chỉnh và
đầy đủ. Đây là một thiếu sót lớn. Việc công bố bản
dịch cùng với bản nghiên cứu trên là để điều chỉnh
lại sự thiếu sót ấy. Cũng mong từ bản dịch này cùng những
gợi ý của bản nghiên cứu vừa nêu sẽ xuất hiện một
cao trào tìm hiểu về dân tộc và truyền thống tư tưởng
văn hóa dân tộc, đặc biệt trong giai đoạn lịch sử có
những cuộc đọ sức đầy cam go khốc liệt, nhưng rất hào
hùng và hoành tráng, như giai đoạn mà Lục độ tập kinh ra
đời. Có tìm hiểu mới thấy đất nước ta đã trãi qua những
thử thách ghê gớm như thế nào, và tổ tiên ta đã vượt
lên và chiến thắng những thử thách ấy với bản lĩnh và
sức mạnh gì. Có thấy được những điều ấy, ta mới nhận
ra trên cơ sở nào dân tộc ta đã chiến thắng, và từ bệ
phóng nào dân tộc ta đã vút lên để xây dựng thành công
một nước Việt Nam như ta có hôm nay. Từ đó thấy rõ hơn
vị thế và trách nhiệm của bản thân mỗi chúng ta trước
những thách đố hiện nay của thời đại, thời đại của
cuộc cách mạng dân chủ mới, của khoa học kỹ thuật hậu
công nghiệp, của sự nghiệp thực hiện thắng lợi lý tưởng
“nước giàu dân mạnh” của Lục độ tập kinh. Việc tìm
hiểu quá khứ thực tế và để nhận rõ khả năng nội lực
của mình, nhằm lượng định tình hình khách quan hiện tại
mà tiến tới, biến hoài bảo ước mơ của từng cá nhân
và dân tộc thành hiện thực, thành những lực lượng vật
chất cụ thể, đáp ứng yêu cầu kiến tạo một đất nước
phồn vinh, một xã hội an lạc. Ước mơ và nguyện vọng của
Lục độ tập kinh đến nay sao vẫn gần gũi, thân thiết với
chúng ta, những người sống sau gần 2.000 năm.