5.
PHÂN TÍCH XUẤT XỨ LỤC ĐỘ TẬP KINH
Lục
độ tập kinh hiện được ghi có 91 truyện, nhưng kiểm tra
lại thì chỉ có 85 truyện mà thôi, như đã nói. Trong số
85 truyện này, thì có 16 truyện được cải biên lại nhiều
ít để thành 7 truyện mới, đó là truyện 9 với truyện 33
và 39, truyện 12 với truyện 31, truyện 25 với truyện 49, truyện
28 với truyện 58, truyện 29 với truyện 63, và truyện 37 với
truyện 59. Như thế thực số chỉ có 78 truyện mà thôi. Trong
78 truyện này, nếu lấy truyện của các dòng văn học bản
duyên lưu hành đồng thời với niên đại của Khương Tăng
Hội hay trước nữa, để so sánh, ta sẽ thấy thế nầy:
Trước
hết, lấy truyện bổn sanh của dòng văn học bản duyên Pali,
cụ thể là tập Jataka [109][109] của Tiểu bộ kinh thì trong
78 truyện có 36 truyện tương đương:
1.
Truyện 9, 33 và 39 » Losaka (Jat. 234) BS 141.
2.
Truyện 10 » Dìghitikosala (Jat. 371)
3.
Truyện 12 và 31 » Cullapaduma (Jat. 2.115) BS 193
4.
Truyện 14 » Vessantara (Jat. 547)
5.
Truyện 18 » Nigrodha (Jat. 145) BS 12
6.
Truyện 21 » Sasa (Jat, 316)
7.
Truyện 22 » Cullakasetthi (Jat. 114) BS 4
8.
Truyện 25 và 49 » Saccankira (Jat. 322) BS 73
9.
Truyện 28 và 58 » Sìlavanàga (Jat. 72)
và
Chaddanta (Jat. 514)
10.
Truyện 29 và 63 » Vattaka (Jat. 432) BS 118
11.
Truyện 30 » Mahapaduma (Jat. 472)
12.
Truyện 35 » Serivànyà (Jat. 110) BS 3
13.
Truyện 36 » Sumsumara (Jat 2.158) BS 208
Thêm
khảo luận Vànarinda (Jat. 278) BS 57.
14.
Truyện 37 và 59 » Valàhassa (Jat. 2.127)
BS
196 + Telapatta (Jat.293) BS 96
15.
Truyện 38 » Mùgapakkha (Jat. 538)
16.
Truyện 39 » Catudvàra (Jat. 439) Losaka
(Jat.
42) và Mittavinda (Jat. 82, 104 và 369)
17.
Truyện 41 » Mahàsutasoma (Jat. 537)
Jayaddisa
(Jat. 513)
18.
Truyện 43 » Sàma (Jat. 540)
19.
Truyện 44 » Khantivàda (Jat. 313)
20.
Truyện 47 » Mahàkapi (Jat. 516)
21.
Truyện 50 » Bhùridatta (Jat. 543);
Campayya
(Jat, 506)
22.
Truyện 54 » Bhadda - Sàla (Jat. 465)
23.
Truyện 56 » Mahàkapi (Jat. 407)
24.
Truyện 58 » Ruru (Jat. 482)
25.
Truyện 69 » Dhamma (Jat. 531)
26.
Truyện 83 » Khandahàla (Jat. 542)
27.
Truyện 84 » Kusa (Jat. 531)
28.
Truyện 85 » Bandhanagara (Jat. 2.139)
BS
201
29.
Truyện 87 » Makhadeva (Jat. 137)
BS
9 Sadhìna (Jat. 44) và Nimi (Jat. 541)
Phân
tích những truyện tương đương nầy cho thấy nguyên bản
tiếng Việt của Lục độ tập kinh và Khương Tăng Hội
đã cải biên tới mức nào, vì mục đích gì và thể hiện
ý đồ ra sao? Ở đây, chúng tôi nói cả nguyên bản tiếng
Việt và Khương Tăng Hội, bởi vì ta hiện chỉ biết có sự
tồn tại của một nguyên bản như thế, chứ không thể biết
nội dung cụ thể của nó, và nội dung cụ thể này ta chỉ
biết qua bản dịch Lục độ tập kinh hiện có của Khương
Tăng Hội.
1.
Truyện 9, 33 và 39 » Losaka (Jat. 234) BS 141.
Truyện
9 kể tiền thân đức Phật sinh ra trong một nhà giàu, rồi
đi xuất gia. Khi đi giáo hóa, bèn vượt biển đến một nơi
có thành bạc có một con rắn độc vây quanh. Và ở đó 90
ngày rồi ra đi thì gặp thành vàng cũng có một con rắn độc
vây quanh. Và ở 180 ngày rồi ra đi thì gặp thành lưu ly cũng
có một con rắn độc vây quanh. Và ở 270 ngày rồi ra đi.
Khi từ biệt, các vị vua ba thành này, mỗi vua tặng cho một
viên thần châu ước gì được nấy. Khi vượt biển trở
về, bèn gặp rồng biển chặn lại lấy thần châu. Bèn phản
đối, dùng sức hút hết 8/10 nước biển. Rồng sợ trả lại
viên châu. Từ đó, bèn bố thí, "đi qua nước nào thì nước
đó không còn người nghèo".
Truyện
33 kể tiền thân đức Phật nghèo khốn, đi làm thuê cho các
lái buôn. Thuyền vào biển, không chạy. Thần biển vờ cho
chủ thuyền nằm mộng là phải quăng người làm thuê xuống
biển. Họ làm bè quăng xuống, thì thuyền bị cá lớn lật
úp, chết hết. Người làm thuê nhờ bè, lên bờ về nhà.
Nội dung truyện 33 như vậy là một viết lại của phần đầu
truyện 39 dưới đây.
Truyện
39 kể tiền thân của đức Phật là một thuyền trưởng tên
Di Lan cùng 500 người lái buôn ra biển đi buôn. Gặp cá lớn
lật thuyền, 500 người cùng chết cả, chỉ một mình Di Lan
nhờ đeo vào một tấm ván mà được thoát lên bờ. Đi một
khoảng thì có một thành bạc có 4 người con gái ra tiếp,
ở với Di Lan "hơn ngàn năm". Rồi sau đó vì không hiểu tại
sao mình được ở với những người này, nên trốn đi thì
gặp một thành vàng, có 8 ngọc nữ ra đón và ở với họ
"vài ngàn vạn năm". Khi chán lại trốn đi, thì gặp một thành
lưu ly có 32 người con gái đón tiếp và ở với họ với
số năm như trước. Rồi lại bỏ đi thì gặp một thành sắt
không có ai đón tiếp cả, bèn vào trong, gặp một con quỉ
có vành sắt lửa trên đầu. Quỷ lấy vành sắt ấy choàng
lên đầu Di Lan và nói Di Lan sẽ đội vành sắt ấy ngang với
thời gian mà Di lan đã ở trong 3 thành kia. Hình phạt này là
hậu quả của việc "đạp lên đầu mẹ", cho nên, "hễ làm
người mà bất hiếu với cha mẹ, không vâng giữ lời
thầy, thì sau đó sẽ gặp trọng tội".
Trong
tiền thân Losaka kể chuyện vì sao Losakatissa từ một đứa
trẻ ăn xin thiếu đói, cho tới khi xuất gia thành trưởng
lão vẫn thiếu đói đến nỗi trưởng lão Xá Lợi Phất phải
tự thân xin và cầm bát đút cho Losakatissa ăn. Nguyên do là
vào một kiếp trước, khi còn là một tỳ kheo trụ trì một
tịnh xá tại một làng quê, ganh ghét một vị tỳ kheo khác
tới ở trọ, đã đổ phần cơm của vị tỳ kheo này trong
đám lửa. Kết quả là chết đọa vào địa ngục làm quỉ
đói, rồi sinh kiếp làm chó cũng thiếu thốn, đến khi làm
người thì trở thành trẻ bụi đời đi ăn xin. Phiêu bạt
đó đây, đến Ba La Nại, gặp lúc “dân đem tiền cho người
nghèo khó và cho họ học nghề” nên nó vào học nghề với
một ông thầy. Nhưng “tính nó độc ác, khó dạy, hay đánh
bậy, không nghe lời khuyên”. Thế là trốn đi để cuối
cùng làm thuê trên một chiếc thuyền buôn. Thuyền mắc nạn,
chủ thuyền vứt kẻ làm thuê xuống biển trên một chiếc
bè. Do quả giữ giới trong thời Phật Ca Diếp, nó gặp một
lâu đài pha lê với 4 tiên nữ và ở với chúng được 7 ngày
thì chúng bỏ đi. Nó lại lên bè đi và gặp một lâu đài
bằng ngọc với 8 tiên nữ. Sau đó đi tiếp, gặp 16 lâu đài
bằng vàng với 32 tiên nữ. Bèn cùng ăn ở một thời gian,
rồi bỏ đi thì gặp một quỉ dạ xoa cái dưới dạng một
con dê. Nó tính tóm lấy chân dê để ăn thì bị con quỉ đó
nhấc bổng, quăng tới một nơi mà người ta đang rình bắt
kẻ ăn trộm dê của vua, thế là bị tóm. Và gặp lại ông
thầy dạy nghề cũ, ông nói bài kệ:
Đối
người muốn mình tốt,
Đối
người thương tưởng mình,
Cứng
đầu không vâng lời,
Sẽ
gặp điều sầu đau
Rõ
ràng, qua tóm tắt ba cốt truyện trên, thì mô hình chủ yếu
là một, tức một nhân vật, 3 ngôi thành hay lâu đài với
các tiên nữ, và cuối cùng một con quỉ hay rồng. Với mô
hình này, các truyện đã tiến hành cải biên. Truyện 9 thêm
việc vua các thành ấy cho "thần châu" ước gì được nấy
để minh họa giáo lý bố thí.
Truyện
39 thêm yếu tố con quỉ đầu có vành lửa, để nhấn mạnh
việc "bất hiếu với cha mẹ" và trong truyện tuy không nói
gì tới sự có mặt của ông thầy, nhưng ở kết luận đã
đề cập đến tội "không tuân vâng thầy". Đây hẳn là một
tàn dư truyền thống văn học bản duyên Pali và Phạn văn,
mà bài kệ cuối cùng của truyện Losaka là một bằng cớ.
Việc cải biên như thế phục vụ ý đồ và mục đích minh
họa và thuyết minh giáo lý, một là giáo lý bố thí và một
là giáo lý giữ giới, nên đã tước bỏ đi những bộ phận
không cần thiết và thêm vào những yếu tố giải thích mới.
Cũng
với ý đồ và mục đích vừa nêu, mà truyện 12 và 31, tuy
cùng một cốt truyện, được cải biên thành 2 truyện để
thuyết minh giáo lý bố thí và giữ giới.
2.
Truyện 10 » Dìghitikosala (Jat. 371)
Truyện
10 kể hai cha con vua Trường Thọ bị một “tiểu vương bạo
ngược và tham tàn” cướp mất nước, bèn bỏ thành trốn
đi. Sau vua Trường Thọ bị bắt, trước khi lâm hình, đã
dặn con không được trả thù. Người con cuối cùng có cơ
hội để giết tiểu vương, nhớ lại lời cha đã không giết.
Truyện Dìghitikosala chỉ ghi lại phần cuối của truyện 10,
tức đoạn Trường Sinh có cơ hội giết, mà vì nhớ lời
cha đã không làm. Trong phần mở đầu truyện Dìghitikosala
có nói là để có đủ chi tiết hơn thì xem truyện Sanghabhadata.
Nhưng truyện này hiện đã thất lạc, không thấy có trong
bản in của J. Fausboll và bản dịch của Cowell.
Truyện
12 và 31» Cullapaduma (Jat. 2115) BS 193
Truyện
12 kể chuyện 2 anh em con vua nhường ngôi cho nhau, cuối cùng
người anh đem vợ mình trốn vào rừng. Ở đây người chồng
vớt được một tội phạm bị chặt tay, chân, xẻo tai mũi
thả trôi sông, rồi đem về cùng chung sống... Người vợ
tư tình, lập mưu giết chồng y... Chồng không chết, cuối
cùng lại về làm vua, tổ chức bố thí. Người vợ yên chí
chồng đã chết, cõng anh nhân tình què đến xin ăn, bị nhận
dạng và bị hình phạt đóng đinh anh nhân tình lên lưng cho
cõng suốt đời.
Truyện
31 cải biên thành chuyện 3 anh em gặp lúc đói kém. Hai người
anh đều lần lượt giết vợ mình để nuôi nhau. Người em
không chịu, cuối cùng đem vợ mình vào rừng ở. Tại đây
có một anh què, người vợ tư tình, lập mưu giết chồng.
Chồng không chết, lại trở về, được tôn lên làm vua. Vợ
cõng nhân tình đi xin ăn, bị phát hiện và bị đuổi đi.
Đem
hai truyện 12 và 31 so với truyện bổn sanh Cullapaduma thì truyện
12 chủ yếu thống nhất với truyện Cullapaduma, trừ hai chi
tiết. Thứ nhất, là không phải hai anh em nhường ngôi cho
nhau, mà là vua cha đuổi bảy người con mình cùng vợ chúng
ra khỏi nước kẻo sợ chúng cướp ngôi. Thứ hai, là khi đến
vùng hoang vu, vì đói khát, chúng lần lượt giết vợ để
nuôi lẫn nhau. Người em út đã không chịu giết vợ, đem
vợ trốn. Chi tiết thứ hai này đã làm nòng cốt cho việc
cải biên truyện 12 thành truyện 31.
4.
Truyện 14 » Vessantara (Jat. 547).
Hai
truyện 14 và Vessantara đại thể nhất trí với nhau, đặc
biệt là các tình tiết về tên nhân vật chính, chứng tỏ
chúng xuất xứ từ một nguồn chung, tuy cũng có một vài xuất
nhập nhỏ. Thứ nhất là tên Tu Đại Noa, truyện Vessantara
gọi là Vessantara. Thứ hai tên núi Đàn Đặc, truyện Vessantara
gọi là Vanika hay Gandhamàdana, trong khi tên Dandaka như một ngôi
rừng hay ngọn đồi không phải không xuất hiện trong truyền
thống Pali, như truyện Mora (159) và truyện Jayaddisa (513) chứng
tỏ. Thứ ba nhân vật A Châu Đà (Accata) của Lục độ tập
kinh là thầy dạy của Tu Đại Noa, còn Accata của truyện Vessantara
là người chỉ đường cho lão phạm chí Jujuka đi xin hai trẻ
Jàli và Kanhàjìnà. Thứ tư là giá phải trả cho Jàli và Kanhàjinà
tự do là do Vessantara, trong khi truyện 10 lại ghi nó do Jàli
đề xuất với câu châm chọc tại sao con gái đắt hơn con
trai. Thứ năm, Lục độ tập kinh cho sứ đi mời Tu Đại
Noa về, còn truyện Vessantara thì để vua cha Sànjaya đi đón
con về. Cuối cùng, trước khi cho hai con, truyện Vessantara kể
chuyện Madda nằm mộng "một người da đen mặc áo vàng, hai
tai có hoa đỏ" đến nắm tóc nàng quăng xuống đất, móc
lấy mắt, chặt hai tay, mổ ngực lấy tim nàng mang đi mất,
trong khi truyện 10 chỉ kể Mạn Để "máy mắt phải, ngứa
nách trái, hai vú chảy sữa".
Xuất
nhập cuối cùng này khá lôi cuốn, và nó biểu thị quá trình
cải biên do ảnh hưởng của truyền thống tập tục văn hóa
địa phương. Cho đến nay, máy mắt báo điềm vẫn còn tồn
tại.
5.
Truyện 18 » Nigrodha (Jat.145) BS 12
Hai
truyệnn hoàn toàn nhất trí với nhau, trừ việc lược bỏ
vai trò của nai chúa Sakha.
6.
Truyện 21 » Sasa (Jat. 316)
Hai
truyện 21 và Sasajataka hầu như hoàn toàn đồng nhất kể chuyện
một đạo sỹ và bốn con vật là cáo, rái, khỉ và thỏ đem
thức ăn đến cúng dường. Có hai chi tiết đáng lưu ý. Thứ
nhất, truyện 21 cho cáo hóa thành người đi kiếm thức ăn,
mà Sasa không có. Điều này chứng tỏ truyền thuyết về hồ
ly tinh vào thời Lục độ tập kinh lưu hành khá rộng
rãi ở nước ta, trong khi đó truyền thuyết về thỏ ở mặt
trăng đang còn xa lạ, nên chi tiết về "nguyệt thố" của
Sasajataka đã thất lạc ra khỏi truyện 21.
Về
truyền thống Phạn bản của truyện này, Jatakamàlà 6 là tương
đương.
7.
Truyện 22 » Cullakasetthi (Jat. 114) BS 4
Cốt
lõi của hai truyện hầu như thống nhất với nhau. Chỉ trừ
việc truyện 22 lược bỏ những chi tiết làm rườm rà từ
chuyện bán chuột cho mèo ăn đến chuyện mua xe chở hàng để
thành triệu phú, mà chỉ đơn giản nói tới việc lượm chuột
xin gia vị, nướng lên, đem bán, rồi mua rau bán lại, lần
lần thành giàu to. Việc cải biên bán chuột cho mèo ăn của
truyền thống Pali thành nướng thịt chuột đem bán của truyện
22 là khá lôi cuốn, vì nó chứng tỏ cách đây gần 2000 năm
người Việt đã ăn thịt chuột. Ngoài ra, truyện 22 còn thêm
chi tiết người nhà giàu cho con bạn mình một nghìn lượng
vàng làm vốn, và dạy nó cách làm giàu, nhưng vì nó trác
táng nên đã tiêu sạch.
8.
Truyện 25 và 49 » Saccankira (Jat. 322) BS 73.
Hai
truyện 25 và 49 cũng thế. Có khả năng cùng xuất phát từ
bổn sanh Saccankira hay một nguyên bản Phạn văn tương tự,
chúng được cải biên thành hai truyện để minh họa hai giáo
lý bố thí và nhẫn nhục. Truyện Saccankira kể chuyện bốn
sinh vật bị nước cuốn trôi trên sông, một hoàng tử ác
độc, một con chuột, một con rắn và một con vẹt. Đức
Phật bấy giờ là một đạo sỹ sống ở gần sông. Nửa
đêm nghe tiếng kêu cứu, bèn ra vớt chúng lên. Rắn, chuột
và vẹt đều trả ơn. Chỉ chàng hoàng tử độc ác, khi đã
lên ngôi vua, đưa nhà đạo sỹ ra pháp trường. Ở pháp trường,
dân chúng, lúc nghe hết nỗi niềm của đạo sỹ, đã "phẫn
nộ", xông đến giết nhà vua đang ở trên lưng voi, rồi tôn
đạo sỹ lên làm vua.
Căn
cứ vào truyện này, truyện 25 gắn thêm một phần đầu và
một phần cuối thuyết minh về giáo lý vô thường, khổ,
không và vô ngã. Phần đầu kể chuyện một nhà giàu đi chợ,
thấy bán ba ba, bèn mua đem về thả. Sau ba ba đến trả ơn,
đến báo cho biết rằng có trận "hồng thủy" và khuyên nên
đóng thuyền bè trước. Trận hồng thủy quả có xảy ra.
Người nhà giàu thấy rắn và cáo bị nước cuốn trôi, bèn
vớt lên. Cuối cùng, gặp một người bị nước cuốn, bèn
cũng vớt, tuy rắn và cáo phản đối. Sau cáo đào hang, gặp
một trăm cân vàng ròng, đem đến biếu. Người bị nước
cuốn thấy, đòi chia một nửa. Vị nhà giàu không chịu, bèn
đi tố quan là người nhà giàu "đào mã cướp vàng", nên bị
bắt. Rắn và cáo hội ý cứu. Rắn bò vào cung cắn thái tử.
Người nhà giàu được rắn cho thuốc, chữa thái tử sống,
được phong làm tướng quốc, rồi giảng bốn yếu quyết
Phật giáo là vô thường, khổ, không và vô ngã.
Truyện
49 kể một vị vua đi tu ở rừng, thấy một chiếc hang có
thợ săn, rắn và quạ bị rớt vào, không lên được, bèn
cứu lên. Quạ cắp viên minh nguyệt châu của hoàng hậu đem
cho đạo sỹ để trả ơn. Thợ săn biết, đi tố quan. Đạo
sỹ bị bắt, đem hành hình. Rắn đến cứu, đưa thuốc cho
đạo sỹ, rồi vào cung cắn thái tử. Thái tử chết, đưa
hỏa táng. Khi đi ngang nơi hành hình, đạo sỹ xin cứu, thái
tử sống, bèn được tha, chia nửa nước vẫn không nhận.
Trong
số 91 truyện của Lục độ tập kinh hiện còn, thì riêng
truyện 49 này có một nét hết sức đặc biệt, đấy là nó
thẳng thừng nêu đích danh Nho giáo ra phê phán, chứ không
phê phán một cách vòng vo gián tiếp như ở các truyện 72
và 86. Nó chỉ rõ tính ưu việt của giáo lý Phật giáo: “Tôi
ở đời đã lâu năm, tuy thấy Nho sỹ tích đức làm lành,
há có ai bằng được đệ tử Phật quên mình cứu người,
ẩn tên mà không dương danh sao”. Việc phê phán Nho giáo này,
Mâu Tử Lý hoặc luận cũng đã tiến hành, khi so sánh Nho giáo
như sông ngòi, đèn đóm, Phật giáo như biển cả trời trăng.
Ta thấy đây là một mặt trận bảo vệ văn hóa dân tộc
nhất quán của giới Phật tử Việt Nam lúc bấy giờ, trước
làn sóng tấn công của nền văn hóa nô dịch Trung Quốc.
9.
Truyện 28 và 58 » Sìlavanàga (Jat. 72) và Chaddanta (Jat. 514)
Đến
truyện 28 và 58 thì rõ ràng chúng được cải biên từ cốt
truyện Silavannàga. Truyện Silavanaga kể chuyện một con voi
trắng sáu ngà cứu một người lạc đường trong rừng rậm,
sau bị người này phản bội đến cưa hết các ngà của voi
đem đi bán. Truyện này về cấu trúc hoàn toàn nhất trí với
truyện 58, nhưng ở đây thay vì voi, lại là con nai chúa có
"lông chín màu, sừng hơn cả sừng tê giác", và thay vì người
lạc đường, lại là một tên chết đuối. Tên chết đuối,
sau khi được cứu sống, đã phản bội, chỉ chỗ để lấy
bộ lông và sừng của nai. Còn ở truyện 28 thì nhân vật
chính là voi chúa. Voi này có hai vợ. Vì yêu vợ cả, voi đem
cho một cành sen. Vợ bé giận uất chết, đầu thai làm vợ
vua. Bèn vờ mộng thấy voi sáu ngà, đòi vua lấy cho được
ngà. Có tên thợ săn săn được, đem đến.
Như
thế, vì mục đích minh họa giáo lý giữ giới và tinh tấn,
truyện Sìlavanàga đã được cải biên thành hai truyện. Truyện
28 thì giữ nguyên nhân vật chính của truyện Sìlavanàga nhưng
đã hư cấu thêm bộ phận vợ cả vợ bé để giải thích
sự lấy ngà của thợ săn. Truyện 58, ngược lại, giữ nguyên
cấu trúc và tình tiết của truyện Silavanàga, nhưng lại thay
nhân vật chính là voi chúa bằng nai chúa và người lạc đường
bằng tên chết đuối.
Hai
truyện 28 và Chaddanta tương đối thống nhất với nhau, tuy
có một vài tình tiết được thêm bớt, và những tình tiết
truyện 28 lược bớt thì thứ nhất là việc vô ý làm rơi
hoa trên nón vợ lớn của voi chúa, và thứ hai là việc vợ
nhỏ của voi cúng trái cây cho Bích Chi Phật. Còn tình tiết
được thêm, thì truyện 28 kể hoàng hậu chỉ dẫn thợ săn
đi về phương Nam. Nếu so sánh thì truyện 9 của Tạp
thí dụ kinh thống nhất với truyện Chaddanta hơn là truyện
28 của Lục độ tập kinh.
10.
Truyện 29 và 63 » Vattaka Jat. 432 BS 118.
Truyện
29 và 63 kể chuyện chim chúa Oanh Vũ (truyện 29) hay chim chúa
bồ câu (63), khi bị bắt, do nhịn ăn, mình ốm, bay thoát ra
khỏi lồng. Truyện 29 tả cả đàn oanh vũ làm theo, nên cả
đàn được thoát, trong khi truyện 63 nói vì đàn bồ câu phản
đối không nghe, nên một mình chim chúa thoát. Truyện Vattaka
cũng kể đồng nhất, chỉ có yếu tố bắt chim cho vua ăn,
mà hai truyện 29 và 63 đều nói tới, thì nó không có. Thay
vào đó, nó đề cập đến một tay săn chim chuyên nghiệp,
sống nhờ vào nghề bắt và bán chim. Việc cải biên thành
hai truyện 29 và 63 như thế cũng để phục vụ cho việc minh
họa giáo lý giữ giới và tinh tấn.
11.
Truyện 30 » Mahàpaduma (Jat. 472)
Hai
truyện 30 và Mahàpaduma có nhiều tình tiết khác nhau, nhưng
khởi đầu và chung cuộc của chúng có những điểm giống.
Khởi đầu là sủng thiếp của vua cha muốn có những quan
hệ bất chính với thái tử. Thái tử từ chối, nên bị trả
thù: Tình tiết về việc trả thù này làm cho hai truyện khác
nhau. Theo truyện 30 thì thái tử bị đày, sau đó bị móc mắt,
trở thành người đánh đàn, ăn xin. Còn truyện Mahàpaduma
thì kể thái tử bị xô xuống vực thẳm, nhờ sơn thần đỡ,
không chết, rồi lên Hi Mã Lạp Sơn tu. Sau vua cha rõ sự việc
thì chung cuộc là sủng thiếp bị chôn sống theo truyện 30
hay bị xô xuống vực thẳm theo Mahàpaduma.
So
với truyện Mahàpaduma, truyện 30 cải biên tương đối rộng
rãi, và sự cải biên này hẳn đã xảy ra dưới ảnh hưởng
của truyện thái tử Câu Na La trong A Dục vương kinh.
12.
Truyện 35 » Serivànyà (Jat. 110) BS 3.
Cốt
truyện thống nhất với nhau, trừ các nhân vật của truyện
được cải biên lại. Thay vì hai kẻ đi bán ghè trong một
làng quê không thân thuộc với nhau, truyện 35 biến thành hai
cậu cháu. Còn hai bà cháu thì thành hai mẹ con. Lời lẽ vấn
đáp của các nhân vật truyện 35 cũng gãy gọn, hợp
lý và hấp dẫn hơn truyện trong truyền thống Pali.
13.
Truyện 36 » Sumsumara (Jat2. 158) BS 208 và Vànarinda (Jat.278) BS.
57
Truyện
36 chia làm hai phần. Phần sau thì hoàn toàn nhất trí với
truyện Sumsumara, chỉ có một sai khác là truyện Sumsumara nói
vợ cá sấu ở sông Hằng muốn ăn tim của khỉ, trong khi truyện
36 kể vợ ba ba muốn ăn gan. Truyện Vànarinda cũng kể như
thế, nhưng kết cục không hoàn toàn giống. Còn lại phần
đầu mô tả lý do vì sao vợ ba ba thèm ăn gan khỉ đột. Kiếp
trước có hai anh em đi buôn. Đến một nước khác, người
em đem hạt châu dâng vua nước đó và được hứa gả con
gái cho. Tới lượt người anh cũng làm thế và cũng được
hứa gả. Người anh nghĩ: "Anh chồng là cha, em dâu là con.
Đã có tình thâm cha con như vậy, sao có chuyện lấy nhau?".
Bèn bỏ đi. Cô gái trông theo, thề sẽ ăn gan người anh, nên
sau đó đã tái sinh làm vợ ba ba. Thế là chuyện vợ ba ba
đòi ăn gan khỉ bắt đầu. Phần đầu này, cả hai truyện
trong văn học bổn sinh của truyền thống Pali đều không có,
nó có thể do hư cấu của Lục độ tập kinh hay từ
một nguồn Phạn văn nào, mà ta hiện chưa tìm thấy. Truyện
đòi ăn gan hay tim khỉ này khá phổ biến trong văn học truyện
cổ dân gian Việt Nam. Và nếu căn cứ vào Lục độ tập kinh
thì nó là một trong những truyện cổ xưa nhất của văn học
ta, nghĩa là nó đã xuất hiện vào thế kỷ thứ ba sdl, nếu
không sớm hơn.
14.
Truyện 37 và 59 » Valàhassa (Jat. 2.127) BS 196 và Telapatta (Jat.
293) BS 96
Đối
với hai truyện 37 và 59, thì truyện 59 là một bộ phận của
truyện 37 được tách rời ra để minh họa cũng cho giáo lý
tinh tấn. Còn bản thân truyện 37 là một cải biên của truyện
Valàhassa và truyện Telapatta của truyền thống bản duyên Pali.
Phần đầu của truyện 37 kể chuyện những người lái buôn
vào thành quỉ ở với chúng như vợ chồng rồi sau được
"vua ngựa" cứu là hoàn toàn thống nhất với truyện Valàhassa.
Chi tiết vua ngựa cứu sau đó đã được tách ra để viết
thành truyện 59. Phần hai kể chuyện cô vợ "quỉ hóa hồ"
chạy khóc lóc theo chồng thì gặp một ông vua. Vua thấy cô
gái đẹp, bèn đuổi chồng đi và nạp cô ta vào cung "hoang
dâm", rồi cô ta tung hoành ăn thịt dân. Phần này phản ảnh
cốt lõi của truyện Tellapatta. Vị vua ở đây được xác
nhận là vua thành Takkasila. Phần cuối kể qua bao luân chuyển,
cô vợ quỉ sinh ra trong một gia đình phạm chí, nhan sắc mỹ
miều. Cha mẹ gặp Phật, muốn dâng cho nhưng Phật từ chối.
Có một tỳ kheo xin Phật cô gái phạm chí ấy. Phật bảo:
“Ông trước là vua, cô gái ấy là quỉ ăn thịt dân ông
hết sạch, mà ông vẫn không chán”. Vị tỳ kheo hổ thẹn,
rút lui. Chi tiết này phải kể là lôi cuốn, vì thái độ
phóng khoáng của đức Phậtđối với vấn đề hôn nhân,
đến nỗi một tỳ kheo với tư cách tỳ kheo mà còn vòi vĩnh
vợ con với đức Phật. Phần cuối này hiện chưa tìm thấy
xuất xứ.
15.
Truyện 38 » Mùgapakkha (Jat. 538)
Hai
truyện chủ yếu thống nhất với nhau. Chỉ có tình tiết
giải thích tại sao Mộ Phách không nói, thì truyện 38 có,
mà Mùgapakkha-jataka không nói tới. Xuất xứ các tình tiết
này hiện chưa rõ. Có thể là một cải biên của Lục độ
tập kinh.
16.
Truyện 39 » Catudvàra (Jat. 439) Losaka (Jat. 42) và Mittavinda (Jat.
82, 104 và 369)
Truyện
39 hầu như đồng nhất với truyện Catudvàrajataka, trừ mấy
tình tiết sau: Đoạn mở đầu giới thiệu thân thế và hành
trạng của Di Lan (Mottavindaka) không có trong truyện 39, tuy cuối
truyện 39 có đoạn giải thích vì sao Di Lan được đón vào
các thành vàng, bạc, thủy tinh, và lưu ly và cuối cùng đến
thành sắt để chịu hình phạt vành lửa chụp lên đầu,
ấy là vì "thường vào ngày 8 tháng tư tu Bát quan trai" nên
vào được bốn thành, còn "đạp đầu mẹ" nên bị vành lửa
của thành sắt. Đoạn giải thích này giả thiết truyện 39
biết lý lịch của Mittavindaka, nhưng đã lược bỏ.
Các
truyện Mittavindajataka 82 và 104 thì mỗi truyện chỉ ghi lại
một câu kệ khi Mittavindaka bị vành lửa chụp lên đầu. Còn
truyện Mittavindajataka 369 ghi lại nhiều hơn, đến năm bài
kệ khi Mittavindaka đã vào thiết thành chịu vành lửa. Thiết
thành thực tế là địa ngục Ussala, mà theo truyện này do
lòng tham, nên mới tưởng là thành.
Còn
truyện Losakajataka thực ra là truyện kể vì sao trưởng lão
Losaka đói rách nghèo khổ suốt đời, đến nỗi trưởng lão
Xá Lợi Phất phải xin cho mới có ăn. Trong đoạn kể truyện
tiền thân của Losaka có nói tới một giai đoạn Mittavindaka
đi làm thuê trên tàu, bị quăng xuống biển, nhờ thế bèn
đến bốn thành thủy tinh, bạc, lưu ly và vàng với 4 mỹ
nữ trong thành thủy tinh cho đến 32 trong thành vàng, cuối
cùng do tham ăn, bị vua bắt về tội trộm dê. Kết luận là
bài kệ về hậu quả không nghe lời thầy bạn.
Chuyện
Losakajataka như vậy chỉ có một phần tương đương với truyện
39, nhưng bài kệ kết thúc chứng tỏ truyện 39 là một tổng
hợp của truyện Catudvàrajataka về tội bất hiếu với mẹ
và truyện Losakajataka về tội không chịu nghe lời thầy. Thực
tế, kết thúc truyện 39 có câu: "Hễ nết con người bất
hiếu với cha mẹ, không tuân vâng thầy, ta thấy về sau tự
rước lấy tội này". Đây rõ ràng phản ảnh không chỉ nội
dung của Catudvàrajataka mà còn của Losakajataka.
Sự
tổng hợp này chắc hẳn do Lục độ tập kinh thực hiện,
vì nguyên bản Phạn văn Avàdanajataka hiện cũng có hai
truyện tương đương như vậy, tức là truyện 6 và 50. Bản
dịch chữ Hán của Avàdanajataka là Soạn tập bách duyên kinh
của Chi Khiêm, hiện không tìm thấy hai truyện này.
17.
Truyện 41 » Mahàsutasoma (Jat. 537) Jayaddisa (Jat. 513)
Truyện
41 có thể chia làm hai phần. Phần kể A Quần làm vua, ăn thịt
người thấy ngon nên bị trục xuất, vào núi đến thần cây
yêu cầu giúp đỡ thì sẽ bắt một trăm vua tế. Bắt được
99 vua rồi, gặp vua Phổ Minh bèn bắt. Phổ Minh xin về nghe
kệ của phạm chí, rồi sẽ trở lại. Đúng hứa, Phổ Minh
trở lại, đọc kệ cho A Quần nghe. A Quần giác ngộ, thả
hết cả trăm vua. Phần hai kể A Quần luân chuyển nhiều kiếp
đến thời Đức PhậtThích Ca thì làm học trò một lão phạm
chí, bèn bị phạm chí dạy cho cách tu tiên bằng phương pháp
giết một trăm người lấy đốt lóng tay. Giết được 99
người thì gặp Phật, được Phật giáo hóa, bèn giác ngộ,
rồi được vua mời và giúp người đàn bà khó sinh, đẻ
an toàn.
Phần
1 của truyện 41 hoàn toàn nhất trí với truyện Mahàsutasoma
Jàtaka, trừ một dị biệt quan trọng, đó là bốn bài kệ
phạm chí dạy vua Phổ Minh. Trong Mahàsutasoma Jàtaka, nội dung
bốn bài kệ ấy nói về việc gần gũi với các bậc Thánh
tốt hơn là gần gũi với kẻ ác. Bốn bài kệ của truyện
41 ngược lại là một tóm tắt giáo lý căn bản của Phật
giáo, đặc biệt là kết nối giáo lý với khái niệm đất
và nước, một đặc trưng của tư tưởng Lục độ tập kinh
mà chúng tôi sẽ bàn ở dưới.
Phần
hai của truyện 41, truyện Mahàsutasoma không có, song trong phần
dẫn nhập về hiện kiếp (Paccappanna - vatthu) có nói tới kinnh
Angulimàla trong Trung Bộ Kinh (Majjhima - Nikàya 86, 11. 97)
và việc Angulimàla giúp người đàn bà khó sinh, như vậy chứng
tỏ truyện Mahàsutasoma cũng có phần 2 của truyện 41, nhưng
đã lược bỏ.
Điểm
đặc sắc khi so sánh hai truyện 41 và Mahàsutasoma, là bài kệ
4 câu của phạm chí, thể hiện ý đồ và mục đích cải
biên của Lục độ tập kinh khá rõ ràng mà chúng tôi sẽ
bàn kỹ ở dưới.
Phạn
bản Jàtakamàlà 31 cũng có truyện này.
18.
Truyện 43 » Sama (Jat. 540)
Hai
truyện hầu như thống nhất với nhau, trừ chi tiết giới
thiệu nguồn gốc gia đình của cha mẹ Thiệm cũng như lý
do tại sao cha mẹ Thiệm bị mù. Việc lược bỏ các tình
tiết vừa nói hẳn vì lý do nghệ thuật, để cho truyện kể
được tập trung.
19.
Truyện 44 » Khantivàda (Jat. 313)
Truyện
44 kể chuyện vua Ca Lệ (Kalàbu) đi săn, đuổi theo mồi, gặp
phạm chí Sàn Đề Hòa hỏi có thấy mồi mình chạy ngang không.
Phạm chí nghĩ không thể nói thật, vì nói thật thì mồi
chết, mà cũng không thể nói láo vì phạm giới, nên im lặng.
Vua giận chặt tay chân, xẻo mũi tai. Bốn vua trời thấy vậy,
muốn tru diệt nhà vua và gia đình, nhưng phạm chí xin. Dân
cũng xin phạm chí báo Thượng đế, ông đồng ý. Có người
em tu cách núi thấy anh mình bị thế, sợ anh có "lòng tổn
đức", bèn đến thăm. Lòng nhẫn nhục của anh chứng tỏ
sự kiện tay chân được nối liền lại. Còn vua Ca Lệ thì
bị dân oán.
Truyện
Khàntivàda cốt lõi vẫn nhất trí với truyện 41, nhưng có
4 sai khác sau: Thứ nhất, nó giới thiệu nguồn gốc của Sàn
Đề Hòa là một bà la môn có tên Kundaka Kumàra đi tu trong
Hy Mã Lạp Sơn. Sau xuống đồng bằng, vào thành phố xin ăn,
cuối cùng đến ở trong vườn thượng uyển của vua Kalàbu.
Thứ hai, không phải vua Kalàbu đi săn, mà là đi chơi trong
vườn thượng uyển. Một số cung phi đến chỗ Sàn Đề Hòa
nghe thuyết pháp. Vua giận hỏi giảng đạo gì? Trả lời là
đạo nhẫn nhục. Vua cho đao phủ tới chặt tay chân, xẻo
mũi tai, và trước khi rời, đã đạp vào ngực của đạo
sỹ. Thứ ba, khi vua rời đi thì đất nứt làm hai, một ngọn
lửa phụt lên, nhận chìm vua vào địa ngục A tỳ. Thứ tư,
tình tiết người em đến thăm, không có trong truyền thống
văn học Pali, nên để cho nhà tu hành chết, trong khi truyện
41 lại cho sống.
Truyện
"nhẫn nhục tiên nhân" này rất phổ biến trong các truyền
thống văn học Phật giáo, nên tuy cốt lõi thống nhất với
nhau, nhưng các tình tiết thường được cải biên thêm bớt
tùy theo ý đồ vì hoàn cảnh văn hóa. Có thể xem truyện này
trong Jatakamàla 26 và kinh Kim cang.
20.
Truyện 47 » Mahàkapi (Jat. 516)
Hai
truyện hầu như hoàn toàn nhất trí với nhau, trừ phần đầu
giới thiệu nguồn gốc người bị rớt hầm, và phần cuối
kể chuyện người rớt hầm bị hủi, gặp ma, rồi chết vào
địa ngục, mà chỉ truyện Mahàkapi có và truyện 47 thì không.
Truyện 47 lược bỏ hai tình tiết vừa nêu, tỏ ra có nghệ
thuật hơn, vì thứ nhất tránh rườm rà không cần thiết
và thứ hai không cần nói rõ hậu quả của việc làm ác với
lý do tránh ý niệm trả thù.
21.
Truyện 50 » Bhùridatta (Jat. 543) Campayya (Jat. 506)
Hai
truyện 50 và Bhùridatta về cốt lõi hầu như nhất trí với
nhau, còn về tình tiết, truyện Bhùridatta với tư cách một
trong những truyện dài của bộ Jataka có nhiều tình tiết
hơn.Thứ nhất, đoạn mở đầu giới thiệu làm sao Bhùridatta
Kumàra đã ở với vợ góa của Long vương và sinh được hai
người con, một trai một gái. Thứ hai, sau khi qua môi giới
của rùa, con gái của Bhùridatta Kumàra đã lấy vua rồng Dhatarattha
và sinh bốn người con trai, chứ không phải một trai một
gái như truyện 50. Một trong bốn người ấy là Bhùridatta
(Bàn Đạt của truyện 50). Thứ ba, Bhùridatta đi tu, và trước
khi bị Phả Đồ của truyện 50 hay Àlambàna của truyện Bhùridatta
bắt, đã gặp hai cha con Sa môn Somadatta, mà truyện 50 đã lược
bỏ. Thứ tư, sau khi bị Àlambàna bắt đi diễn trò, Bhùridatta
đã được mẹ và anh em tìm lại được, găp lại cậu mình
và sau đó đi tìm gặp ông ngoại, còn tên thuật sỹ Àlambàna
thì bị hủi. Truyện 50 thì cho tên thuật sỹ này chết dưới
tay bọn cướp, sau khi được Bàn Đạt cứu sống và tặng
cho vàng bạc.
Truyện
Campayya chỉ kể đoạn một người con nhà nghèo sinh làm con
vua rồng Campayya. Nhưng chán cảnh rồng, bèn đi tu trên thế
và bị một bà la môn bắt đi làm trò, cuối cùng có người
yêu Sumanà nên được thả. Đây rõ ràng là một trích đoạn
có cải biên của truyện Bhùridatta.
Tình
tiết rồng lấy người này, phải chăng là nguồn gốc của
truyện Lạc Long Quân lấy Âu Cơ của truyền thuyết khởi
nguyên dân tộc ta?
22.
Truyện 54 » Bhaddasala (Jat. 465)
Đúng
với nhan đề truyện 54 là "Thích gia tất tội", nội dung mô
tả những hiềm khích tranh chấp cuối cùng dẫn tới sự diệt
vong của dòng họ Thích cộng hòa Ca Tỳ La Vệ do cộng hòa
Kosala gây ra. Mọi chuyện bắt đầu khi vua Kosala gởi thư tới
dòng họ Thích xin cưới một cô gái về làm vợ. Họ Thích
bàn tán, rốt cuộc Mahànàma giải quyết bằng cách gả con
gái hỗn chủng của mình là Vàsabakhattiya về làm vợ. Về
Xá Vệ, Vàsabakhattiya được phong làm hoàng hậu, sinh được
con trai tên Vidudabha. Lớn lên, về bên ngoại chơi, Vidudabha
mới biết mẹ mình là con của một người đàn bà nô lệ,
bèn giận thề sẽ trả thù. Với sự giúp đỡ của tướng
Kàrayana, Vidudabha cướp ngôi cha lên làm vua. Khi đã ổn định,
bèn dẫn quân đánh Ca Tỳ La Vệ. Ba lần đức Phậtđến ngồi
dưới gốc cây trơ trụi trên đường tiến quân của Vidudabha,
ba lần Vidudabha lui quân. Lần thứ tư đức Phật thấy nghiệp
quả của dòng họ Thích không thể cứu được nữa, bèn thôi
không ra ngồi nơi cây ấy nữa. Thế là Vidudabha tiến quân
giết sạch dòng họ Thích để rửa nhục.
Đấy
là tóm tắt những nét chính hầu như thống nhất và bổ sung
cho nhau của hai truyện 54 và Bhaddasàla. Về những sai khác,
thứ nhất, truyện Bhaddasàla có một đoạn dài nói về gia
đình tướng Bandhula với người vợ Mallika và 16 người con
cùng cái chết thảm khốc của họ, mà truyện 54 không có.
Thứ hai, truyện 54 hoàn toàn im lặng về nguồn gốc nô lệ
của mẹ Viduddabha và cảnh Viduddabha bị làm nhục, trong khi
đó lại kể chuyện Viduddabha lên thử ngồi trên pháp tòa,
mà dòng họ Thích đang xây dựng để cho Phật, và bị dòng
họ Thích làm nhục. Thứ ba, truyện 54 không nói tên người
bạn của Viduddabha, và những việc làm của ông ta trong việc
lên ngôi cũng như việc tiến đánh dòng họ Thích, mà truyện
Bhaddasàla nói khá rõ. Thứ tư, truyện 54 tả trận đánh thành
Ca Tỳ La Vệ và sự hy sinh của đại tướng quân Mahanàma
mà truyện Bhaddasàta không có. Thứ năm, truyện 54 kể tiếp
việc Viduddabha bị chết, rơi vào địa ngục và truyện tiền
thân giải thích tại sao dòng họ Thích chết thê thảm như
thế. Truyện Bhaddasàla không có những chi tiết này.
Sự
kiện dẫn tới sự diệt vong của cộng hòa Ca Tỳ La Vệ và
dòng họ Thích ngay trong thời Đức Phậtcòn tại thế tương
đối phổ biến trong các truyền thống văn học Phật giáo.
Lục độ tập kinh chép lại sự kiện này để minh họa cho
giáo lý nhẫn nhục với một vài cải biên thêm bớt, nhưng
cơ bản không thay đổi, như đã thấy trong tóm tắt trên.
23.
Truyện 56 » Mahàkapi (Jat. 407)
Hai
truyện chủ yếu thống nhất với nhau về việc một khỉ
chúa hy sinh thân mình làm cầu cho đàn thoát nạn, tuy cũng
có một vài cải biên. Thứ nhất, truyện 56 nói đàn khỉ
vì trời khô hạn, đã vào thượng uyển của vua để ăn,
nên bị vây. Truyện Mahàkapi ngược lại kể đàn khỉ ăn
trái trên một cây xoài trên bờ sông Hằng, và vì xoài quá
ngọt, bọn chúng đã canh kỹ không cho trái rụng xuống sông
sợ người hạ lưu biết đến quấy rầy. Thế nhưng vẫn
có trái rụng, và vua Ba La Nại, trong khi tắm sông đã bắt
được. Bèn tìm đến cây xoài, và đàn khỉ bị bủa vây.
Thứ hai, khi đã cứu đàn khỉ, khỉ chúa theo truyện Mahàkapi
thì chết và được tống táng linh đình, còn truyện 56 thì
cho khỉ chúa sống.
Truyện
khỉ chúa này là một trong những truyện lưu hành rộng rãi
và xưa nhất của lịch sử truyền thống văn học bổn sinh
Phật giáo. Nội dung được khắc trên tháp Bharhut[110][110]và
kể trong tuyển tập Bổn sinh Phạn văn Jatakamàla 27.
24.
Truyện 58 » Ruru (Jat. 482)
Hai
truyện cốt lõi thống nhất với nhau, kể truyện con nai cứu
người chết đuối, sau bị phản, chỉ đường cho vua bắt
nai; nhưng về tình tiết thì có một số xuất nhập. Thứ
nhất, truyện Ruru kể lai lịch anh chết đuối là một tay
ăn chơi trác táng, nợ nần chồng chất, cuối cùng phải nhảy
xuống sông Hằng. Tình tiết này truyện 58 không có. Thứ hai,
hoàng hậu Hòa Trí (Khemà) nằm mơ thấy nai, muốn bắt để
lấy da làm áo, sừng làm đồ bông tai, theo truyện 58, còn
truyện Ruru thì Khemà muốn nghe nai thuyết pháp.
Truyện
này cũng xuất hiện trong Jatakamàla 36.
25.
Truyện 69 » Dhamma (Jat. 457)
Hai
truyện hầu như hoàn toàn thống nhất với nhau, kể lại chuyện
đức Phậtvà Đề Bà Đạt Đa thuở xa xưa là thiên vương
và ma vương, đi gặp nhau, trao đổi về quan điểm dạy đời.
Một bên là thiện, một bên ác, rồi tranh nhau đường đời
giết nhau. Truyện 69 không cải biên, chỉ lược bớt những
bài kệ của Dhammajàtaka.
26.
Truyện 83 » Khandahàta (Jat. 542)
Cả
hai truyện đều nói đến chuyện một ông vua muốn lên trời.
Truyện 83 kể nhiều phương cách từ việc cúng tế bằng vàng
bạc, đồng nam, đồng nữ cho đến thần nữ Hương Sơn. Cháu
vua, để cứu thần nữ, đã xin thần nữ làm vợ, và giảng
cho vua ông biết cách thức lên trời là qui y tam bảo, giữ
năm giới, làm sáu vượt bậc. Sau thần nữ bỏ về quê, vua
cháu đi tìm gặp.
Truyện
Khandahàta chỉ kể một phương cách là đem vợ con tế sống
để lên trời. Nhờ can thiệp của Đế Thích, người chủ
tế Khandahàta bị giết, người con sắp lên đàn tế là Canda
lên ngôi vua, còn cha thì bị truất phế.
Rõ
ràng, truyện 84 cải biên hầu như hoàn toàn, khi so với truyện
Khandahàta, tuy cùng có một nguyên do là ý muốn lên trời.
27.
Truyện 84 » Kusa (Jat. 531)
Hai
cốt truyện hoàn toàn nhất trí tuy có một số cải biên về
phía Lục độ tập kinh. Thứ nhất, vua Kusinara (Già la) vô
tự, việc hoàng hậu có thai đều do Đế Thích. Truyện 84
kể Đế Thích cho hoàng hậu ăn một trái cây, trong khi truyện
Kusajàtaka lại dong dài tả việc Đế Thích hóa bà la môn,
rồi lên trời, rồi về lại cung vua. Thứ hai, việc Nguyệt
Quang đòi xem mặt chồng mình, truyện Kusajataka kể bốn trường
hợp là gặp người giữ ngựa, người giữ voi, vua đi dạo
thành và gặp dưới hồ sen. Chính tại hồ sen khi Kusa nắm
tay Pabbàvati (Nguyệt Quang), Nguyệt Quang mới bỏ về nước
Madda của mình. Truyện 84 cải biên bốn trường hợp thành
hai sự kiện. Đầu tiên, Kusa đòi thấy mặt vợ mình bằng
cách làm người giữ ngựa và voi. Rồi sau Nguyệt Quang đòi
thì mới tổ chức dạo thành và đi chơi vườn thượng uyển.
Lý do Nguyệt Quang bỏ đi là đến đêm đợi Kusa ngủ, bèn
thắp đèn xem mặt, thấy quá xấu, bèn bỏ đi.
Thứ
ba, khi Nguyệt Quang bỏ đi, Kusa đến Madda, làm việc với anh
giữ voi và thổi sáo, rồi với người làm gốm, người đan
rổ, người làm vườn, và cuối cùng với người nấu ăn
cho vua. Nhờ nấu và đem đồ ăn, Kusa đã gặp được Nguyệt
Quang nhưng Nguyệt Quang vẫn từ chối. Đây là theo truyện
KusaJataka. Truyện 84 đã lược bỏ tình tiết làm việc với
anh giữ voi và thổi sáo. Chi tiết thổi sáo này có thể là
hạt nhân cho truyện Trương Chi và Mỵ Nương trong nền văn
học dân gian Việt Nam, Còn tình tiết đan rổ, truyện 84 cải
biên thành tình tiết nhuộm vải.
Thứ
tư, truyện 84 cải biên tình tiết Nguyệt Quang hôn chân Kusa
trong vũng bùn của truyện Kusajataka thành việc Nguyệt Quang
phải dìu Kusa lên đài quan sát, và nói chuyện với bảy vua
đến đòi cưới Nguyệt Quang, và chiến thắng họ, biến họ
thành bảy người em rể.
Cuối
cùng, truyện 84 kể lý do vì sao Kusa xấu trai vì kiếp trước
hai người là vợ chồng làm ruộng. Chồng bảo vợ đi lấy
cơm, giữa đường gặp Phật Bích Chi, bèn cúng phần cơm của
mình. Chồng nghi vợ, tức giận muốn đánh, thấy Phật Bích
Chi ăn xong quăng bát lên trời, bèn hối hận, lấy phần cơm
mình chia cho vợ cùng ăn. Nên sau được giàu nhưng mặt mày
xấu xí. Truyện Kusajataka cũng có truyện này, nhưng nói người
vợ là vợ của anh ăn một bánh với chồng, ăn xong, còn thừa
lại một bánh cho em trai. Nhưng gặp Phật Bích Chi đến, bèn
đem chiếc bánh ấy cúng Phật. Người em về tức giận, lấy
bánh lui. Người chị dâu chạy đến nhà mẹ mình, nấu thức
ăn đem cúng thế. Người em thấy vậy lại đem chiếc bánh
của mình bỏ vào bát của Phật cúng dường.
Ngoài
ra, trước khi lấy Nguyệt Quang, truyện Kusajataka cho Kusa làm
một tượng người con gái đẹp bằng vàng, và tuyên bố nếu
có người con gái nào đẹp như tượng ấy thì sẽ cưới
làm vợ. Tình tiết này truyện 84 lược bỏ, nhưng lại xuất
hiện trong truyện 16 của Cựu tạp thí dụ kinh.
Trên
đây là những xuất nhập giữa hai truyện 84 và Kusajataka.
Việc loại bỏ một số tình tiết có thể đã xuất phát
từ nguyên bản Phạn văn, mà cũng có thể do tác giả Lục
độ tập kinh thực hiện. Điều đáng ngạc nhiên là
tình tiết thổi sáo của Kusa đã bị lược bỏ, trong khi truyện
Trương Chi và Mỵ Nương của văn học dân gian ta lại rất
phổ biến. Phải chăng vì tính phổ biến này, nên Lục độ
tập kinh lược bỏ, hay truyền bản truyện 84 tự cũng đánh
mất tình tiết này, nên khi đưa vào Lục độ tập kinh đã
không có. Để rồi những truyền bản sau mới có và từ đó
xuất hiện truyện Trương Chi và Mỵ Nương. Tất nhiên, không
loại bỏ hoàn toàn khả năng có những trường hợp ngẫu
nhiên và độc lập, vì cốt truyện Kusajataka, như H.T. Francis
đã vạch ra[111][111], lưu hành khá rộng rãi trong các nền
văn học Châu Âu.
28.Truyện
85 » Bandhanàgara (Jat. 2.139) BS 201.
Về
cốt lõi thì hai truyện tương đối thống nhất với nhau,
nhưng đã có những cải biên mạnh mẽ. Truyện Bandhanàgara
chỉ đơn giản kể bồ tát sinh trong một gia đình nghèo. Lớn
lên, cha chết, người mẹ cưới cho một cô gái về làm vợ,
dù bồ tát không muốn và đòi xuất gia. Cô vợ nói mình đã
có thai, xin đợi sinh con, rồi xuất gia nhưng khi sinh con biết
nói thì người vợ lại có thai. Bồ tát quyết định trốn
đi xuất gia vào núi tuyết "vui sống với cảnh thiền".
Truyện
85 đưa thêm nhiều tình tiết để cải biên. Thứ nhất, khi
lớn lên, cha mẹ đòi cưới vợ, bồ tát cương quyết không
chịu, trốn đến một nước khác. Thứ hai, ở nước này,
bồ tát vào làm thuê cho một điền ông. Được năm năm, điền
ông thấy làm được, bèn gã đứ a con gái nuôi duy nhất cho
làm vợ. Sau một thời gian, nhận ra "sắc đẹp là lửa dữ,
mình như con thiêu thân ham lửa sắc thì sẽ bị đốt cháy",
nên bèn trốn đi. Thứ ba, trốn đi, dọc đường vào nghỉ
trong một ngôi đình. Người coi đình mời vào, lại gặp một
người con gái giống như vợ cũa mình, lại lấy cô ta và
ở tiếp năm năm, rồi giác ngộ "dâm là sâu độc giết thân
nguy mạng", nên lại trốn đi. Thứ tư, gặp một cô gái nữa,
lại lấy cô ta, ở tiếp mười năm, rồi trốn đi. Thứ năm,
trong khi trốn, bồ tát gặp một tòa nhà lớn, sợ đi tránh,
thì có tiếng người đàn bà nói: "Anh từ vô số kiếp đã
thề làm chồng em, thì chạy tránh đâu được". Bồ tát dùng
định vô thường, khổ, không, vô ngã, bứt được cô vợ
quỉ, thọ giới làm sa môn.
Truyện
85 so với truyện Bandhanàgara, như thế, đưa vào năm tình tiết,
trong đó có những tình tiết có tính địa phương rõ rệt.
Thứ nhất, tình tiết lấy vợ. Truyện Bandhanàgara kể mẹ
cưới vợ có con, rồi mới trốn đi. Truyện 85 nói khi cha
mẹ định cưới vợ, vì không chịu nên trốn. Việc bỏ vợ
có cưới hỏi đàng hoàng theo Lục độ tập kinh là một chuyện
không thể làm được, nếu không có lý do chính đáng. Ngay
cả khi có lý do, mà cha mẹ không đồng ý, cũng không được
bỏ. Truyện 83 kể Tu La, khi được ông nội cưới thần nữ
cho, sau "quốc sự đình đốn" vì cùng ăn chơi với thể nữ,
quần thần đề nghị bỏ vợ. Tu La trả lời: "Vua ông cưới
cho, há bỏ được sao?". Phải chăng điều này phản ảnh quan
niệm về luật lệ hôn nhân của người Việt vào thời Lục
độ tập kinh.
Thứ
hai, tình tiết nghỉ đêm tại đình. Đình chỉ tồn tại ở
Trung Quốc và Việt Nam. Tại nước ta, đến đời Trần Thái
Tôn vẫn còn tồn tại rộng rãi. Cho nên, tình tiết này rõ
ràng là một hư cấu của Lục độ tập kinh nhằm thuyết
giảng cho những đối tượng nghe giảng Việt Nam và Trung Quốc,
chứ không thể xuất phát từ nguồn gốc Ấn Độ.
Đặc
biệt hơn nữa, là truyện 85, tuy ngắn ngủi, có độ dài khoảng
500 chữ, tức khoảng trên dưới 50 câu, lại có 3 câu có cấu
trúc theo ngữ pháp tiếng Việt, tức 6 phần trăm.
(1).
ĐTK 215 tờ 47b25 - 6: "Ông nhiệm Bồ tát, tích hữu ngũ niên.
Quan kỳ tháo hạnh, tự vi chí trước. trung tâm gia yên".
(2).
ĐTK 215 tờ 47c7: "Ngô cố từ ẩn, suy hựu phùng yên"
(3).
ĐTK 215 tờ 47c16-7: "Hưng tư tứ niệm, quỉ thê tức diệt
trung tâm đài như".
Có
thể đây là truyện có một mật độ xuất hiện cấu trúc
tiếng Việt dày đặc nhất của Lục độ tập kinh, ngay cả
khi so với truyện thái tử Tu Đại Noa phân tích ở trên. Sự
kiện xuất hiện cấu trúc tiếng Việt dày đặc này cùng
với hiện tượng nghỉ đêm ở đình nói trước rõ ràng buộc
ta phải giả thiết, nếu không là khẳng định, một nguyên
bản tiếng Việt của Lục độ tập kinh, để từ đó Khương
Tăng Hội dịch lại. Thêm vào đó, tình tiết bỏ vợ, truyền
thống văn học bổn sanh Pali, cụ thể là bộ Jataka, lặp đi
lặp lại rất nhiều lần và coi đó như một tập tục cho
phép, đúng như cuộc đời bốn giai đoạn của một con người
Ấn Độ. Nhưng Lục độ tập kinh thì ngược lại. Trong 80
truyện, không có truyện nào có tình tiết này một cách nổi
cộm, trừ trường hợp bỏ "vợ quỉ", trong tập 37 và truyện
85 đây. Hiện tượng này có thể phản ảnh ít nhiều quan
niệm hôn nhân của "Việt luật" vào thời Khương Tăng Hội
và trước đó.
29.
Truyện 87 » Makhàdeva (Jat. 137) Sàdhùna (Jat. 444) và Nimi (Jat.
541)
Truyện
Nimijataka là một tổng hợp hai truyện Makhàdeva và Sàdhùnajataka
của truyền thống bổn sinh văn học Pali. Truyện Makhàdevajataka
kể chuyện vua Ma Điệu (Makhàdeva) thấy tóc mình bạc, bèn
truyền ngôi cho con, đi tu, sinh lên cõi Phạm Thiên, rồi lại
xuất hiện dưới tên vua Nam (Nimi) cũng của vương quốc Mishilà.
Truyện này hoàn toàn nhất trí với phần đầu của truyện
87, chỉ có chi tiết con cháu truyền nhau 1084 đời sau khi Ma
Điệu đi tu là không có. Phải chăng "thiên bát thập tứ thế"
của truyện 87 là nguồn gốc của 18 đời Hùng Vương của
lịch sử nước ta? Truyện Sàdhùnajataka kể chuyện vua Sàdhùna
dùng chính pháp trị dân, nên chư thiên muốn gặp. Đế Thích
cho người đánh xe Ma Lũ (Màtali) đi đón Sàdhùna lên trời.
Sau khi ở trên trời bảy trăm năm, Sàdhùna trở về trần
thế, dù Đế Thích có ý mời lại. Đến trần thế ông gặp
lại cháu bảy đời là Nàrada. Nàrada đòi nhường ngôi, nhưng
ông không nhận, chỉ xin bố thí bảy ngày. Bố thí xong thì
chết lên trời thứ 33.
Phần
sau của truyện 87 thống nhất chủ yếu với truyện Sàdhừnajàtaka,
trừ mấy dị biệt sau: Thứ nhất, vì là phần sau của truyện
Ma Điệu, nên ông vua được mời lên trời vẫn là vua Nam,
chứ không phải có tên Sàdhùna. Thứ hai, truyện 87 không nói
rõ vua Nam lên trời chơi bao lâu, nên khi về trần thế không
có chuyện gặp cháu bảy đời Nàrada và cũng không nói chuyện
bỏ thế truyền ngôi.
Những
dị biệt của phần sau truyện 87 đối với truyện Sàdhùnajàtaka
đã không xảy ra trong truyện Nimijàtaka, có thể nói truyện
87 hầu như đồng nhất với truyện Nimijàtaka trừ việc lược
bỏ những mô tả về địa ngục và các cõi trời bằng các
bài kệ từ địa ngục Vetaranà cho đến cung điện của thiên
nữ Pàranà, rồi trời Sonadinna v.v... Tình tiết thấy tóc bạc,
rồi đi tu, xuất hiện thường xuyên trong các truyện khác
như Susàmajataka 411.
Truyện
Ma Điệu là một trong những truyện xưa của nền văn học
Phật giáo Ấn Độ. Nội dung được khắc lên tháp Bharhut[112][112].
Riêng đối với lịch sử chính trị, tư tưởng và Phật giáo
Việt Nam, nó đóng một vai trò cực kỳ quan trọng, vì đã
trở thành văn bản kinh điển cho thấy ảnh hưởng Phật giáo
trên sinh hoạt chính trị tư tưởng của người Việt Nam như
thế nào. Trước đây, từng có nhiều người hỏi Phật giáo
đã ảnh hưởng như thế nào lên đời sống chính trị tư
tưởng của Việt Nam? Đặc biệt là vào những triều đại
mà ảnh hưởng đó quá rõ ràng không cần phải bàn cãi. Bây
giờ, ta thấy cha con các vua triều Trần truyền ngôi cho
nhau để đi tu, không phải là không có căn cứ kinh điển
của Phật giáo.
Qua
phân tích 35 truyện được cải biên trên, ta thấy ý đồ,
mục đích minh họa và thuyết giảng giáo lý của Lục độ
tập kinh là rất rõ ràng. Và điều này hiển nhiên tất yếu,
vì Lục độ tập kinh là một tập hợp các kinh có chức
năng thuyết giảng về sáu hạnh vượt bờ của Bồ tát. Tuy
nhiên, muốn thực hiện ý đồ và mục đích ấy một cách
thắng lợi, việc cải biên phải được tiến hành một cách
khôn khéo đầy nghệ thuật mới hấp dẫn được người nghe
và đọc. Sự thật, khi so sánh 35 truyện trên với 7 truyện
của truyền thống bản duyên Pali, ta thấy nổi bật tính nghệ
thuật và văn học của nguyên bản tiếng Việt cũng như bản
dịch của Khương Tăng Hội. Không những hư cấu nghệ thuật
và văn học, Lục độ tập kinh nguyên bản cũng như dịch
bản đã địa phương hóa những chi tiết, sự kiện nhằm
phục vụ đối tượng nghe và đọc một cách hữu hiệu. Vì
vậy, mới xảy ra việc phê phán nho sĩ trong các truyện 49
và 86 đối với những người đọc đang tiếp xúc với văn
hóa tư tưởng Trung Quốc, đặc biệt đối với những người
đang đứng trước sự lựa chọn văn hóa, như dân tộc ta
vào thời Mâu Tử Bác và Khương Tăng Hội. Nói cách khác,
với ý đồ và mục đích thuyết giảng giáo lý Lục độ
tập kinh tất phải quan tâm đến bối cảnh dân tộc, văn
hóa, tư tưởng và nếp sống của đối tượng được thuyết
giảng để đạt đến một tác động hữu hiệu sâu xa và
lâu dài. Việc cải biên do thế là một tất yếu, và phải
cải biên một cách nghệ thuật và có giá trị văn học mới
tác động được.
Vậy
qua phân tích 35 truyện của Lục độ tập kinh có tương đương
trong truyền thống văn học bổn sinh của kinh tạng Pali, ta
thấy nổi bật một số điều đáng lưu ý. Thứ nhất, do
yêu cầu thuyết giảng giáo lý, một số truyện tích đã được
cải biên một truyện thành hai truyện khác nhau để minh hoạ
cho hai giáo lý khác nhau, như các truyện 9 và 39, 12 và 31, 25
và 49 v.v... Cũng có trường hợp một truyện của Lục độ
tập kinh là một cải biên tổng hợp của hai truyện của
văn học bổn sanh Pali, như truyện 37 được cải biên từ
hai truyện Valàhassa và Telapatta, để diễn tả cùng một giáo
lý. Thứ hai, quá trình cải biên được tiến hành thông qua
hai con đường, hoặc là lược bỏ những tình tiết rườm
rà không cần thiết và thiếu tính nghệ thuật, hoặc là hư
cấu thêm các tình tiết mới với những vật liệu văn học
văn hóa địa phương, nhằm tạo ấn tượng gần gũi giữa
giáo lý Phật giáo và nền văn hóa học thuật tư tưởng của
người địa phương. Bằng con đường thứ nhất, Lục độ
tập kinh đã tạo nên những tác phẩm văn học tuyệt vời,
vượt xa hẳn những người anh em sinh đôi của chúng trong
truyền thống văn học bổn sanh Pali. Thử đọc lại các truyện
18 và 35 với những tương đương trong bộ Jataka thì thấy
ngay. Như thế, ngoài yêu cầu thuyết giảng giáo lý, còn có
yêu cầu văn học nghệ thuật, nghĩa là không phải muốn thuyết
giảng giáo lý sao cũng được, mà phải thuyết giảng trong
một mô hình được khắc họa theo tiêu chuẩn văn học nghệ
thuật, tức trong một mô hình đẹp, thỏa mãn nhu cầu thưởng
ngoạn thẩm mỹ của người đọc và người nghe.
Bằng
con đường thứ hai, tức hư cấu thêm các tình tiết mới
thông qua việc tiếp thu những yếu tố văn hóa nghệ thuật
tư tưởng địa phương. Lục độ tập kinh đã xây dựng nên
những truyện, mà khi đọc lên, người địa phương cảm thấy
gần gũi và có khả năng giải quyết một số vấn đề, mà
bản thân họ đang vướng mắc. Đọc truyện vua Nam làm đạo
sĩ cứu quạ, rắn và chàng thợ săn của truyện 49 chẳng
hạn, ta thấy ngay Lục độ tập kinh không chỉ nhằm thuyết
giảng giáo lý nhẫn nhục, mà còn giải quyết vấn đề tương
quan giữa Phật giáo và Nho giáo lúc bấy giờ đang tràn qua
Việt Nam qua câu nói của chàng thợ săn. Ngoài ra nó cũng không
quên mặt thưởng ngoạn nghệ thuật của người đọc và
người nghe, nên đã khắc họa tính keo kiệt bủn xỉn vong
ơn của vợ chồng chàng thợ săn qua cuộc trao đổi giữa
hai vợ chồng và việc dọn cơm mời vị đạo sỹ. Nói tóm
lại, thông qua việc tiếp thu những yếu tố văn hóa, nghệ
thuật, tư tưởng địa phương. Lục độ tập kinh cũng tự
xác định đối tượng đọc và nghe của mình là ai, ở địa
phương, thời đại, dân tộc nào. Kết luận này càng trở
nên hiển nhiên hơn nữa khi ta tiến hành so sánh các truyện
của Lục độ tập kinh với truyền thống văn học bản duyên
của Phạn văn.
Truyền
thống văn học bản duyên Phạn văn cực kỳ đa dạng và phức
tạp. Ngay cả vào thời Khương Tăng Hội, ở Trung Quốc Chi
Khiêm đã dịch hai bản là Soạn tập bách duyên kinh ĐTK 200
và Bồ tát bản duyên kinh ĐTK 153 và bản thân Khương Tăng
Hội, ngoài bản dịch Lục độ tập kinh, còn dịch Tạp thí
dụ kinh. Cho nên, vì không nhằm mục đích nghiên cứu toàn
bộ nên văn học bản duyên, chúng tôi chọn Soạn tập bách
duyên kinh, mà nguyên bản Phạn văn và dịch bản Tây Tạng
hiện đang còn[113][113] để đối chiếu với Lục độ tập
kinh, tìm hiểu xem Lục độ tập kinh đã quan hệ như thế
nào với nền văn học bản duyên tiếng Phạn và đã được
cải biên tới mức nào trong quan hệ đó.
Trong
100 truyện của Soạn tập bách duyên kinh và Avadànasùataka,
hiện chỉ có hai truyện là tương đương với hai truyện của
Lục độ tập kinh:
(1).
Truyện 21 » Truyện Sasa A37, B38.
(2).
Truyện 23 » Truyện Putràh A68, B68.
Ngoài
ra còn có hai truyện có dáng dấp chút ít với hai truyện của
Lục độ tập kinh, đó là truyện Trưởng giả thất nhật
tác vương duyên (B10; Ràjà A10) và truyện Liên Hoa vương xả
thân tác xích ngư duyên (B31: Padmakal A31). Truyện Trưởng
giả thất nhật tác vương duyên thực tế không liên hệ chặt
chẽ gì mấy với truyện 90 của Lục độ tập kinh bởi vì
nội dung hầu như hoàn toàn khác nhau về cả nhân vật lẫn
tình tiết cũng như ý đồ và mục đích thuyết giảng giáo
lý. Tuy nhiên, do trưởng giả nhờ giúp vua Ba Tư Nặc đánh
thắng và bắt được vua A Xà Thế, nên vua Ba Tư Nặc cho làm
vua 7 ngày để kêu gọi các tiểu vương khác đến qui y Phật,
nên việc làm vua 7 ngày có dáng dấp chút ít với truyện 90
kể ông già vá giày được cho làm vua thử để thấy làm
vua sướng hay khổ. Còn truyện Liên Hoa vương xả thân tác
xích ngư duyên, thì khá hơn, có một số tình tiết khả dĩ
chấp nhận tương đương với một bộ phận của truyện 3
Lục độ tập kinh. Truyện Liên Hoa vương xả thân tác
xích ngư duyên kể chuyện vua Liên Hoa, gặp lúc dân đau bịnh,
phải "ăn thịt máu cá đỏ" mới chữa lành được, mà cá
đỏ thì không có, nên bèn xin chết làm cá đỏ để cho dân
ăn. Truyện 3 kể tiền thân đức Phật quá nghèo không có
gì bố thí, bèn đem mình nhảy xuống biển bố thí cho cá
ăn, nên khi chết, thác sanh làm vua cá chiên ở biển. Dân ở
nước tiếp giáp với biển, gặp lúc đói kém ăn thịt lẫn
nhau. Cá chiên liền đem mình lên cho dân ăn, kéo dài được
mấy tháng, cá mới chết. Gặp khi đức Phật Bích Chi đi qua
dạy cho dân trồng lúa, dân mới lại giàu mạnh. Truyện 3
với truyện Liên Hoa vương xả thân tác xích ngư duyên, như
thế, có cùng một mô hình, dù tình tiết rất sai khác.
Ngoài
hai truyện có dáng dấp chút ít quan hệ vừa nêu, Soạn tập
bách duyên kinh có hai truyện hầu như tương đương với hai
truyện của Lục độ tập kinh. Thứ nhất, truyện Thố thiêu
thân cúng dường tiên nhân duyên (A38 ( A37 Sása) kể tiền thân
đức Phậtlà vua thỏ ở trong rừng với một vị tiên nhân.
Gặp thời khô hạn, rừng không có hoa trái, vị tiên nhân
định dời chỗ ở xuống làng kiếm ăn. Vua thỏ sợ vị tiên
nhân đi thì mình không được nghe pháp, bèn xin tiên nhân giảng
pháp cho nghe, rồi tự mình nhảy vào lửa nướng để cho vị
ấy ăn. Truyện 21 của Lục độ tập kinh có chung cốt truyện,
nhưng đã cải biên, nên không chỉ có thỏ, mà còn có 3 con
vật khác là khỉ, cáo và rái. Cả bốn con đều sợ tiên
nhân đi, vì thế khỉ đi kiếm trái cây, cáo tìm một túi
cơm khô, rái bắt được một con cá lớn. Riêng thỏ không
có gì cúng dường, nên đã thiêu mình cho vị tiên nhân dùng.
Cải
biên của truyện 21 không có gì đặc biệt, ngoài việc làm
cho truyện bớt đơn điệu và lôi cuốn người đọc. Nhưng
qua truyện Bách tử đồng sản duyên (B68 = A68 Putràh), việc
cải biên của truyện 23 của Lục độ tập kinh có một ý
nghĩa hết sức quan trọng và đặc biệt đối với dân tộc
ta. Truyện Bách tử đồng sản duyên kể chuyện vợ một trưởng
giả giàu có mang thai. Đủ tháng sinh một bọc thịt (nhục
đoàn). Vị trưởng giả buồn rầu, đến chỗ Phật hỏi tốt
xấu. Đức Phật bảo phải "dưỡng dục" bọc thịt đó bảy
ngày sau sẽ thấy. Đúng 7 ngày sau, bọc thịt vở ra thành
100 đứa con trai mặt mày đẹp đẻ ở đời ít có. Lớn lên,
100 người này xuất gia, chứng quả A la hán. Các tỳ kheo thắc
mắc vì sao? Đức Phật mới kể lại kiếp trước 100 anh em
này là 100 người ở cùng xóm cúng dường hương hoa cho tháp
của Phật Tỳ Bà Thi, nguyện làm anh em với nhau, nên nay mới
sanh như vậy. Đó là truyện của Soạn tập bách duyên kinh
và Avadànasataka.
Truyện
23 của Lục độ tập kinh cải biên hầu như hoàn toàn truyện
vừa tóm tắt của Avadànasataka. Nó kể chuyện một bà già
giữ ruộng vườn cho một nhà giàu đến bữa ăn trưa, gặp
một sa môn, bèn lấy phần cơm mình cúng cho vị Sa môn ấy,
với một cành hoa sen, nguyện rằng sau này mình sẽ có 100
người con như vị đó. Khi chết đầu thai làm con gái một
phạm chí ở rừng. Người cha giao cho việc giữ lửa. Một
hôm vì ham chơi, lửa tắt, phải xuống làng xin lửa. Người
có lửa bảo phải đi quanh nhà ba vòng, bèn đi và mỗi bước
mọc một hoa sen, vua nghe lấy làm lạ, cho cưới về. Mãn ngày
đủ tháng, bèn sanh 100 trứng. Hậu phi tần thiếp không ai
là không ghét, lấy cây chuối khắc hình quỉ, rồi phủ tóc
và đồ dơ lên để trình vua. Còn 100 trứng, đem bỏ trong
một chiếc bình, đóng kín, thả trôi sông. Đế Thích thấy
thế, xuống đóng dấu. Vua nước hạ lưu con sông vớt được
chiếc bình, mở ra thấy 100 trứng giao cho 100 người đàn bà
ấp. Đủ ngày tháng 100 trứng nở thành 100 người con trai
"có trí tuệ bậc thượng thánh, không dạy mà biết, nhan sắc
hơn đời, tướng đẹp ít có, sức mạnh trăm người". Một
trăm người này lớn lên, vua sắm binh mã, cho đi chinh phạt
bốn phương đều chiến thắng. Đến nước của người mẹ,
vua và quần thần đều sợ. Bà mẹ nói: "Vua đừng sợ, xem
chúng công thành phía nào thì xây một đài quan sát phía đó".
Đài xây xong, bà mẹ bước lên đài, kêu 100 đứa con há miệng
ra, lấy vú mình nặn sữa. Tia sữa bắn vào miệng chúng. Chúng
nhận ra mẹ mình, "nước mắt ràn rụa, chắp tay bước lên,
cúi đầu hối lỗi, mẹ con gặp nhau". Hai nước từ đó hòa
lạc, tình hơn anh em, 99 người con kia thì đi tu, chứng quả
Duyên giác. Một người ở lại, khi vua cha băng, kế vị làm
vua, "lấy mười lành làm quốc pháp".
Với
tóm tắt trên, ta thấy truyện 23 có một ảnh hưởng sâu rộng
và lâu dài trong lịch sử văn học Trung Quốc và Việt Nam.
Tình tiết mỗi bước đi mọc một hoa sen, sau này nhà thơ
vĩ đại nhất của thời Nam Bắc triều là Tạ Linh Vận đã
đưa vào văn học cổ điển Trung Quốc và trở thành hình
tượng văn học tiêu biểu diễn tả bước đi của người
con gái đẹp, mà đến thời gần ta Nguyễn Du đã viết: "Gót
sen vừa động giấc hài" trong Truyện Kiều. Còn tình
tiết đẻ rồi đem thả trôi sông, sau này Ngô Thừa Ân đã
dùng lại trong Tây Du Ký để tiểu thuyết hóa lai lịch của
Đường Tam Tạng Huyền Trang.
Và
không chỉ ảnh hưởng trong lịch sử văn học, truyện 23 đối
với dân tộc ta còn ảnh hưởng đến chính nguồn gốc dân
tộc mình. Kể từ ngày Ngô Sỹ Liên lấy truyện họ Hồng
Bàng trong Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp[114][114] để
lập kỷ nguyên Hồng Bàng trong Đại Việt sử ký toàn thư[115][115]
thì ai cũng biết chuyện Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ sinh 100
trứng và nở thành 100 người con, rồi từ đó thành Bách
Việt, trong đó có chi Lạc Việt của dân tộc ta. Trần Thế
Pháp viết Lĩnh Nam chích quái vào thế kỷ thứ XIV, nên cũng
nhiều người thắc mắc chuyện trăm trứng này lấy đâu ra
và xưa tới mức nào? Khâm định Việt sử thông giám cương
mục[116][116] của Quốc sử quán triều Nguyễn, do trình độ
hạn chế của mình, cũng chỉ biết nói truy tới các tiểu
thuyết gia đời Đường mà thôi. Bây giờ, với tình tiết
trăm trứng của truyện 23, rõ ràng truyền thuyết khởi nguyên
từ trăm trứng của dân tộc ta đã tồn tại và lưu hành
rộng rãi từ những thế kỷ đầu của dương lịch, để
tác giả Lục độ tập kinh sử dụng cải biên vào truyện
của mình[117][117].
Khi
so với Phạn bản Avadànasataka và bản dịch Soạn tập bách
duyên kinh của người đồng thời với Khương Tăng Hội là
Chi Khiêm, thì dĩ nhiên sự xuất hiện của tình tiết trăm
trứng trong Lục độ tập kinh biểu thị một nỗ lực địa
phương hóa và bản địa hóa truyền thống Phật giáo Ấn
Độ, tạo cho truyền thống này một diện mạo Việt Nam, để
trở thành Phật giáo Việt Nam, đồng thời để hòa nhập
Phật giáo vào truyền thống văn hóa và tư tưởng Việt Nam,
biến nó thành một bộ phận không thể phân ly của truyền
thống đó. Chính quá trình bản địa hóa và hòa nhập này
đã làm cho hai truyền thống quyện chặt vào nhau, đến nỗi
trở nên một thể thống nhất làm nền tảng cho một thời
kỳ văn hóa mới của dân tộc Việt Nam tồn tại cho đến
bây giờ.
Việc
Phật giáo tiếp thu và nhào nặn một cách thân thiện, trân
trọng truyền thống văn hóa tư tưởng và lịch sử dân tộc
trong những giờ phút đọ sức đầu tiên đầy gay go khốc
liệt và không tương xứng, tương phản thật rõ rệt với
thái độ đầy hận thù dân tộc, xấc xược, hằn học và
phản bội của đám Nho giáo tại Việt Nam thời Khương Tăng
Hội, mà cụ thể là Lưu Hy. Trong Thích danh khi giải thích
chữ "Việt" của nhóm người Việt, Hy đã viết "Việt là
vượt quá lễ nghĩa"[118][118]. Viết như thế Hy đã bộc lộ
não trạng của một tên xâm lược, nhục mạ một dân tộc
khác để tiến tới nô dịch vĩnh viễn dân tộc ấy, đồng
thời tỏ rõ tính cách kỳ thị dân tộc của Hy. Thái độ
kỳ thị dân tộc này, truyện 86 Nho đồng thọ quyết kinh
của Lục độ tập kinh phản ảnh khá đầy đủ. Khi Nho Đồng
đã thắng trong cuộc tranh biện với 500 "chúng Nho", thì trên
nguyên tắc Nho Đồng phải hưởng được giải thưởng 500
quan tiền và cô gái đẹp. "Nhưng các Nho đều nói: Ông ấy
tuy là kẻ sỹ cao tài, song là người nước khác, nên không
thể lấy con gái nước ta làm vợ". Đầu óc hẹp hòi nhỏ
nhen không quân tử chút nào của "chúng Nho" này quả thật
là một vết nhơ không thể nào gột sạch của Nho giáo tại
Việt Nam. Nó mãi mãi tồn tại để làm chứng cho lịch sử
manh động của thứ tư tưởng này đối với dân tộc ta,
giải thích cho ta thấy tại sao trong khi xây dựng một nhà
nước Việt Nam độc lập, những anh hùng dân tộc như Ngô
Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành cho đến Lý Công Uẩn
đã không cần đến Nho giáo, làm cho một số người viết
sử dân tộc như Ngô Thì Sỹ[119][119] đã thắc mắc.
Ngoài
ra, như đã nói, vì không nhằm nghiên cứu xuất xứ toàn bộ
78 truyện của Lục độ tập kinh, một việc chúng tôi sẽ
làm ở một chỗ khác, nên ở đây chỉ chọn hai truyền thống
văn học bản duyên Jataka và Avadànasataka, một đại diện
cho văn hóa Pali và một cho Phạn văn, làm đối bản để đối
chiếu với Lục độ tập kinh. Mục đích là làm rõ quá trình
cải biên Lục độ tập kinh, thông qua đó tìm hiểu mức độ
tác động của truyền thống văn hóa học thuật tư tưởng
Việt Nam đối với Phật giáo nói chung, và đối với Lục
độ tập kinh nói riêng, cũng như sức tiếp thu của nền văn
hóa học thuật tư tưởng đó đối với những quan điểm
giáo lý Phật giáo.
Tuy
nhiên, trước khi bàn đến vấn đề vừa nêu, cần nói thêm
chút ít về xuất xứ sáu truyện của Lục độ tập kinh,
đó là các truyện 30, 41, 44, 46, 55 và 86 vì sự lưu hành rộng
rãi của chúng. Truyện 30 kể chuyện thái tử không thỏa mãn
lòng tà dục vọng của ái thiếp của cha mình, đã bị trả
thù bằng cách móc mắt. Truyện thái tử Câu Na La, con của
vua A Dục, trong A Dục vương kinh và A Dục vương truyện[120][120]
cũng tương tự. Chuyện A Quần của truyện 41, cả truyền
thống kinh tạng Pali lẫn Phạn văn đều nói tới và có kinh
riêng, tức Ương Quật Ma La kinh[121][121] kể chuyện Ương Quật
nghe theo tà sư, đi giết người để làm tiên. Truyện 44 kể
vua Ca Lê chặt tay chân tai mũi của đạo sỹ Sàn Đề Hòa.
Tích này đã xuất hiện trong văn hệ Bát nhã, mà phổ biến
nhất là kinh Kim cang[122][122]. Truyện 55 kể chuyện vì muốn
nghe "Phật ba giới nhất châm" mà chịu kim châm vào mỗi lỗ
chân lông, là một chi tiết hóa truyện quỉ giảng kinh trong
Đại bát niết bàn kinh[123][123]. Truyện 86 kể chuyện Nho Đồng
nhận thọ ký từ Phật Nhiên Đăng, rõ ràng xuất phát từ
kinh Phổ Diệu, và Phạn bản Lavitavistara[124][124] hiện nay
vẫn còn. Khi so sánh với chính Phổ Diệu kinh do Chi Khiêm dịch,
truyện 86 bộc lộ rõ khuynh hướng phê phán Nho giáo của nó,
bản thân Phổ Diệu kinh và Phạn bản Lavitavistara không
có.
Cũng
nên nói sơ về xuất xứ truyện 46, vì truyện này là cải
biên của một trong hai bản anh hùng ca nổi tiếng nhất của
nền văn học Phạn văn Ấn Độ, đó là bản Ramayana.
Bản
anh hùng ca kia là Mahàbhàrata. Những hồi 107.1-37 và 109.1-31
của chương thứ nhất đã được tác giả Lục độ tập
kinh huy động để viết nên truyện 23 thông qua trung gian Phạn
bản của A tỳ đạt ma Đại tỳ bà sa luận (Abhidharmarmahavibhàsa-sàstra)
với một cải biên đặc biệt Việt Nam. Đó là việc thế
tình tiết "sinh trứng một trăm quả" (sinh noãn bách mai) cho
một " bọc thịt" (mamsapesi) của Mahàbhàrata và "năm trăm trứng"
của Đại tỳ bà sa luận. Cải biên này, như chúng tôi đã
nêu ra[125][125] đóng một vai trò cực kỳ quan trọng không
những trong việc xác định thời điểm ra đời của truyền
thuyết trăm trứng của lịch sử khởi nguyên dân tộc ta,
mà còn cho công tác điều chỉnh lại lịch sử dân tộc giai
đoạn các vua Hùng. Nó giúp ta xác định triều đại Hùng
Vương đến năm 42 sdl mới chấm dứt, nghĩa là sau khi cuộc
kháng chiến vệ quốc của Hai Bà Trưng thất bại.
Tóm
lại, qua phân tích các tương đương trên, ý đồ và mục
đích cũng như đối tượng thuyết giảng giáo lý của Lục
độ tập kinh xuất hiện một cách khá hiển nhiên và dễ
nhận thấy. Ý đồ và mục đích thuyết giảng giáo lý tất
nhiên là nhằm trình bày giáo lý và thuyết phục người nghe
thực hiện giáo lý đó trong cuộc sống. Còn người nghe ở
đây phải nói chủ yếu là người Việt, bởi vì những cải
biên đã được tiến hành trong khuôn khổ của truyền thống
văn hóa học thuật và tư tưởng người Việt, cụ thể là
tình tiết 100 trứng nói trên. Tuy nhiên, đôi khi do quá nhiệt
tình trong công tác thuyết giảng và do yêu cầu của đối
tượng người nghe địa phương, tác giả Lục độ tập kinh
đã đi đến chỗ hư cấu nên những truyện mới, sử dụng
các chất liệu văn hóa, tập tục địa phương, mà truyện
68 là một thí dụ điển hình.
Truyện
kể tiền thân đức Phật là con một người đàn bà góa,
sáng đến chùa Phật, bỏ tà chuộng chân, kính lễ Sa môn,
vâng Phật thần hóa. Sống trong một nước, gặp vua vô đạo,
tham tài trọng sắc, bạc hiền khinh dân. Vua vì sợ sống "làm
chuyện bất nhơn, chết sẽ đọa vào ngục núi Thái", bèn
thâu vàng của dân để hối lộ vua núi Thái. Trải ba năm,
vàng của dân hết sạch, mà vẫn chưa đủ số, nên ra lệnh
"ai có chút vàng dâng vua, vua sẽ gã con gái út và cho tước
cao". Con trai người đàn bà góa thưa với mẹ: "Khi cha mất,
mẹ có đem một đồng tiền vàng bỏ trong miệng cha để hối
lộ vua núi Thái, nay ắt hãy còn, con lấy đem dâng vua". Rồi
quật mả, lấy vàng đem dâng vua. Vua hỏi: Cha ngươi không
hối lộ vua núi Thái sao? Bèn trả lời: "Trong các sách Thánh
chỉ Phật giáo đúng. Kinh Phật dạy: "Làm thiện phước theo,
làm ác họa tới... làm gì có chuyện hối lộ được". Vua
vui vẻ trả lại vàng đã cướp cho dân, tha hết tù ngục.
Rồi truyện kết luận: Vua lúc bấy giờ muốn thâu hết vàng
còn lại trong dân, nên giết hại người vô tội. Bồ tát
thấy dân kêu khóc, bèn gạt nước mắt, xông mình vào chính
trị hà khắc để cứu dân mắc nạn, chống lầm than".
Rõ
ràng xuất xứ của truyện 68 không thể là Ấn Độ, bởi
vì Ấn Độ không phải xứ của tục địa táng, mà là hỏa
táng như chính truyện 49 của Lục độ tập kinh xác nhận.
Tục địa táng lại phổ biến cực kỳ rộng rãi ở Trung
Quốc và Việt Nam. Và riêng tại Bắc bộ nước ta, trong hơn
nửa thế kỷ lại đây, ngành khảo cổ học đã khai quật
được một số mộ cổ được xem là mộ cổ người Hán,
vào khoảng thời Khương Tăng Hội hay trước nữa. Thêm vào
đó, quá trình chôn cất lại có tục bỏ vàng vào trong miệng
người chết để hối lộ vua núi Thái, đến bây giờ vẫn
còn rơi rớt trong tục chôn cất của dân tộc ta, tất nhiên
điểm chỉ nguồn gốc tập tục địa phương. Vì thế, truyện
68 đã sử dụng những chất liệu văn hóa, tập tục người
Việt để hư cấu nên. Xuất xứ của nó như vậy phải là
Việt Nam.
Thực
tế, tục cho người chết ngậm vàng này, cứ trên tư liệu
Trung Quốc hiện biết, đã không thấy nói tới. Lễ nghi chí
của Hậu Hán thư 16 tờ 1b13 viết, khi vua chết thì “cơm
ngậm châu ngọc như lễ”. Lý Hiền (651-684) giải thích, dẩn
Lễ khể mạng trưng, nói: “Thiên tử cơm dùng châu, ngậm
dùng ngọc, chư hầu cơm dùng châu, ngậm dùng châu, khanh đại
phu sĩ cơm dùng châu, ngậm dùng vỏ sò”. Đàn cung của Lễ
ký chính nghĩa 43 tờ 2a7 chép rõ hơn: “Thiên tử cơm chín
vỏ sò, chư hầu bảy võ, đại phu năm vỏ, sỷ ba vỏ”.
Trịnh Huyền (127-200) chú thích câu vừa dẫn nói: “Đó bởi
vì là lễ của thời Hạ. Lễ nhà Châu thì cơm ngậm của
thiên tử dùng ngọc”. Khổng Dĩnh Đạt (574-640) dẫn Điển
thụy, bảo: “Đại tang thì cơm đều ngọc, ngậm đều ngọc”.
Tư liệu Trung Quốc do thế không nói gì đến việc bỏ vàng
vào miệng người chết.
Đặc
biệt hơn nữa là nội dung giáo lý do truyện này thuyết giảng.
Tuy cũng nói đến quan điểm giáo lý tiêu chuẩn kiểu "Làm
lành phước theo, làm ác họa tới", nhưng mục tiêu nó nhắm
tới là kêu gọi mọi người xông vào nơi "lệ chính", để
cứu dân mắc nạn chốn lầm than. Lệ chính là nền chính
trị hà khắc độc ác, bạo ngược. Lời kêu gọi này phát
ra cách nay gần 2000 năm, khi dân tộc ta đang đối đầu với
một kẻ thù hết sức hung hãn và quỉ quyệt là bọn xâm
lược Trung Quốc, thì phải nói là đầy can trường và hết
sức táo bạo, mang tính chiến đấu cao. Nó thể hiện sự
gắn bó máu xương giữa giáo lý Phật giáo và đời sống
thực tế của dân tộc cho đến khi đơm hoa trong nhà nước
Vạn Xuân của Lý Nam Đế và kết trái trong nhà nước hùng
cứ đế vương của kỷ nguyên Đại Việt. Nội dung thuyết
giảng giáo lý của Lục độ tập kinh do thế không chỉ đơn
giản giới hạn trong giáo lý thuần túy Phật giáo mà còn
mở rộng ra để cho giáo lý đó phản ánh ít nhiều đời
sống thực tế của dân tộc và đề ra những phương cách
nhằm giúp giải quyết những yêu cầu của đời sống thực
tế đó. Một phân tích nội dung tư tưởng của Lục độ
tập kinh sẽ làm rõ hơn nữa kết luận vừa nêu.
Vậy
thì, qua phân tích xuất xứ 35 truyện của Lục độ tập kinh,
tức chiếm gần một nửa tổng số truyện, ta thấy có bốn
nguồn cung cấp chất liệu cốt truyện cho tác giả Lục độ
tập kinh, đó là truyền thống văn học bản duyên Pali, truyền
thống văn học Phật giáo Phạn văn, truyền thống văn học
Phạn văn và truyền thống văn hóa địa phương Việt Nam.
Tất cả chất liệu do bốn nguồn này cung cấp đã được
nhào nặn lại theo ý đồ và mục đích thuyết giảng giáo
lý của tác giả và theo yêu cầu thưởng ngoạn và học tập
của người địa phương, từ đó tạo nên những truyện mang
tính nghệ thuật cao, vừa có tính nhân loại vừa có tính
dân tộc. Vì thế, ta có thể kết luận mà không khiên cưỡng
và cường điệu rằng Lục độ tập kinh là một trong những
thành tựu văn học đầu tiên hiện còn của lịch sử văn
học và Phật giáo Việt Nam. Nghiên cứu lịch sử văn học
cổ Việt Nam không thể không nghiên cứu Lục độ tập
kinh. Nhưng