4.
VỀ SỰ TỒN TẠI MỘT NGUYÊN BẢN TIẾNG VIỆT
Trước
khi trả lời câu hỏi này, ta cần nói thêm một chút ở đây
về hiện tượng “bút thọ” xảy ra trong quá trình phiên
dịch kinh điển Phật giáo ở Viễn Đông, tức gồm cả Trung
Quốc lẫn Việt Nam. Vào thời kỳ đầu, khi Phật giáo truyền
đến Trung Quốc và Việt Nam, tức khoảng từ thế kỷ thứ
II đến thế kỷ thứ IV và V, những nhà truyền giáo Ấn Độ
khi đến Việt Nam hay Trung Quốc, thường không am hiểu tiếng
địa phương một cách rành mạch, trong lúc đó nhu cầu tìm
hiểu đọc tụng kinh điển Phật giáo của Phật tử địa
phương lại mạnh. Cho nên đã xuất hiện thủ pháp "bút thọ".
Bút thọ, tức là nhà truyền giáo Ấn Độ, với vốn kiến
thức ngôn ngữ địa phương hạn chế của mình, cố
gắng dịch nguyên bản tiếng Phạn ra tiếng địa phương cho
một Phật tử địa phương, mà thường là các nhà sư, chép
lại và điều chỉnh những câu dịch có tính hạn chế ấy
thành một bản dịch có thể đọc được. Ở Việt Nam ta,
khi Cương Lương Lâu Tiếp sống gần đồng thời với Khương
Tăng Hội, dịch kinh Pháp hoa tam muội, thì Đạo Thanh đã "bút
thọ". Vì "bút thọ" là người địa phương, nên chắc chắn
văn chương và ngữ pháp của các bản dịch nầy chịu ảnh
hưởng nặng nề của ngôn ngữ người bút thọ. Đáng tiếc
là bản kinh Pháp hoa tam muội ngày nay đã mất, vì thế ta
không thể tìm hiểu được những vết tích tiếng Việt của
Đạo Thanh.
Thế
thì, sự kiện bản Lục độ tập kinh hiện nay chịu ảnh
hưởng tiếng Việt một cách có hệ thống và toàn diện như
vậy, phải chăng đã xuất phát từ hiện tượng bút thọ?
Các kinh lục từ Xuất Tam tạng ký tập của Tăng Hựu cho
đến Đại đường nội điển lục của Đạo Tuyên và Khai
nguyên thích giáo lục của Trí Thăng không có cuốn nào ghi
Lục độ tập kinh được bút thọ cả. Và điều này cũng
dễ hiểu thôi, bởi vì, như đã nói, Khương Tăng Hội sinh
ra, lớn lên và được đào tạo thành tài ở nước ta, thì
không có lý do gì để ông ngỡ ngàng với tiếng Trung Quốc
mà cần tới bút thọ. Thêm vào đó, Lục độ tập kinh, như
đã nêu, chứa đựng những yếu tố từ ngữ vựng, cú pháp
đến các nhận xét và hư cấu hoàn toàn xa lạ với văn học
tư tưởng và tập quán Ấn Độ và Phật giáo Ấn Độ, nên
đã dẫn Thang Dụng Đồng đến gợi ý là Lục độ tập kinh
không phải là một dịch bản từ tiếng Ấn Độ, mà là một
tác phẩm do Khương Tăng Hội viết ra. Gợi ý này phải nói
một nửa là khá sáng tạo, bởi vì lần đầu tiên một văn
bản như Lục độ tập kinh xưa nay được xem là dịch bản
từ tiếng Phạn, thì bây giờ phát hiện nó không phải được
dịch từ chữ Phạn nữa. Nhưng nửa kia khẳng định nó do
Khương Tăng Hội viết ra, thì phải xét lại, vì như đã nói,
sự ảnh hưởng quá nặng nề và có hệ thống của tiếng
Việt về cả ba mặt ngữ vựng, ngữ pháp và cú pháp trong
Lục độ tập kinh không thể giải thích nổi một cách thỏa
mãn, nếu chỉ đơn thuần coi ảnh hưởng đó như một rơi
rớt vô ý thức của thói quen ngôn ngữ tiếng Việt nơi Khương
Tăng Hội.
Thói
quen ngôn ngữ là một thực tế khoa học khách quan. Bất cứ
ai khi sinh ra, đều tiếp thụ những tiếng nói đầu tiên từ
cha mẹ mình. Tiếng nói được tiếp thụ nầy, sau đó sẽ
trở thành cái khung, cái nền cho việc tiếp thụ những ngôn
ngữ mới, và những ngôn ngữ mới nầy, trong giai đoạn đầu,
đều được học và lý giải qua cái khung và trên nền tảng
là tiếng mẹ đẻ, cho tới một lúc nào đó nó bị những
ngôn ngữ mới ấy tác động trở lại. Quan niệm tác động
biện chứng qua lại nầy tạo nên thói quen ngôn ngữ. Mà đã
là thói quen thì nó thường xuất hiện một cách vô thức
và do thế, không có hệ thống và toàn diện một cách minh
nhiên được. Cho nên, để trở thành có hệ thống và toàn
diện một cách minh nhiên, nó phải có một số nhân tố khác
tạo điều kiện cho tính hệ thống và toàn diện được bộc
phát. Nói cách khác, sự có mặt một cách có hệ thống và
toàn diện những tàn dư ngữ vựng, ngữ pháp và cú pháp tiếng
Việt trong Lục độ tập kinh không những chỉ ra sự
kiện Khương Tăng Hội nói tiếng Việt lưu loát và rành rẽ,
mà còn cho phép giả thiết sự tồn tại của một nguyên bản
Lục độ tập kinh tiếng Việt, mà dựa vào đó Khương Tăng
Hội đã dịch ra Lục độ tập kinh tiếng Trung Quốc, và từ
đó thói quen ngôn ngữ tiếng Việt của Khương Tăng Hội mới
có dịp bộc phát một cách có hệ thống và toàn diện, như
đã nêu trên. Chúng tôi dùng chữ “có hệ thống”, vì nó
xuất hiện một cách liên tục và nhất quán từ trước tới
sau như trường hợp chữ "cố", và "toàn diện", và vì nó
xảy ra trên một diện rộng chiếm gần hết tác phẩm từ
đầu đến cuối, tức từ truyện 13 đến truyện 85 trên tổng
số 91 truyện của Lục độ tập kinh, như trường hợp chữ
"trung tâm". Tính hệ thống và toàn diện này khá vững chắc,
đến nỗi ngay một người sử dụng tiếng Trung Quốc nhuần
nhuyễn như Khương Tăng Hội, mà người Trung Quốc cỡ giáo
sư Thang Dụng Đồng phải khen là “văn từ điển nhã”,
cũng không thể khống chế và đánh lùi được.
Lục
độ tập kinh hiện nay gồm 8 quyển 6 chương và 91 truyện.
Ba quyển đầu dành cho chương Bố thí gồm 26 truyện. Năm
quyển còn lại dành cho các chương Trì giới, Nhẫn nhục,
Tinh tấn, Thiền định và Trí tuệ theo thứ tự. Chương Trì
giới có 15 truyện, chương Nhẫn nhục 13 truyện, chương Tinh
tấn 19 truyện, chương Thiền định ghi có 9 truyện, nhưng
trên thực tế chỉ có 3 truyện thôi, tức từ số 80 đến
82, còn 6 truyện kia thì 3 truyện đầu, tức từ số 74 đến
76, không phải là truyện, mà là những trình bày của Khương
Tăng Hội về thiền định và 3 truyện sau, tức từ số 77
đến 79, kể lại cuộc đời đức Phậttừ lúc đi dạo 4
cửa thành cho đến khi xuất gia thành đạo. Chương cuối cùng
là về trí tuệ gồm 9 truyện. Như thế, tuy ghi có 91 truyện,
nhưng thực tế thì chỉ có 85 truyện.
Và
đầu mỗi chương, trừ chương cuối cùng về trí tuệ, có
một bài giới thiệu ngắn gọn về ý nghĩa của tên chương,
như bố thí là gì, trì giới là gì v.v... Bài giới thiệu
về chương Thiền định tương đối dài, nên bản in Đại
tạng kinh thời Đại Chính của Nhật Bản xếp nó thành 3
truyện từ số 74 đến 76, trình bày quan điểm của Lục độ
tập kinh về thiền định và cách thức để đạt được
thiền định. Chính lý thuyết thiền định này, về sau, đã
trở thành tiền đề cho sự xuất hiện cuộc tranh cãi giữa
Đạo Cao, Pháp Minh và Lý Miễu về vấn đề tại sao không
thấy Phật[98][98]. Bài giới thiệu về trí tuệ của chương
8 có lẽ đã thất lạc từ lâu, nhưng truyện 81 có nói ít
nhiều về "minh độ vô cực" và truyện 83 có một định nghĩa
ngắn ngủi về trí tuệ là gì.
Trong
số 85 truyện trên, ta hiện biết chắc chắn một truyện đã
lưu hành trước thời Khương Tăng Hội ra đời và đã trở
thành chủ đề bàn cãi của những người Phật giáo và ngoài
Phật giáo. Đó là truyện thái tử Tu Đại Noa, tức truyện
14 của Lục độ tập kinh quyển 2 chương Bố thí. Mâu Tử
Bác trong Lý hoặc luận ĐTK 2102 tờ 3c28 - 4a4 đã ghi lại vấn
nạn của một người ngoài Phật giáo thắc mắc vì sao Phật
lại dạy việc bố thí không biên giới, đến nỗi cho cả
voi báu của nước, vợ con của chính mình, như thái tử Tu
Đại Noa đã làm. Sự kiện đem truyện thái tử Tu Đại Noa
ra tranh luận như thế này vào những năm 195 chứng tỏ truyện
tích thái tử Tu Đại Noa lưu hành rộng rãi, không chỉ trong
giới Phật giáo mà còn trong những người ngoài Phật giáo
sống tại đất nước ta thời bấy giờ, và có một sức
cuốn hút mạnh mẽ.
Tu
Đại Noa quả thực là một truyện đầy cảm động, vừa
bi thương vừa hùng tráng, thể hiện vai trò người cha như
một nghiêm phụ gạt nước mắt mà thực hành lý tưởng,
và người mẹ như một từ mẫu quá thương con, nhưng vì chồng
mà đành phải hy sinh tình cảm mẹ con, tình yêu vợ chồng,
chịu đựng gian khổ khó khăn. Cho nên, không chỉ trong thời
Mâu Tử Bác và Khương Tăng Hội, mà còn về sau này nữa,
nó tiếp tục lưu hành và thu hút sự ái mộ của người đọc
và người nghe, đến nỗi cuối thế kỷ thứ XVII, Chân Nguyên
đã viết lên thành thơ tiếng quốc âm dưới tên Đạt Na
thái tử hạnh [99][99].
Trong
lịch sử văn học dân tộc ta, thì đây là truyện Phật giáo
duy nhất được viết thành thơ tiếng quốc âm, tìm thấy
cho đến bây giờ. Và Chân Nguyên là một tác gia lớn, có
ảnh hưởng sâu rộng, mà sau này khi viết Việt sử tiêu án[100][100]
Ngô Thì Sỹ đã kính cẩn nhắc tới như “Chân Nguyên Thượng
nhân”.
Thế
thì, trước khi Lục độ tập kinh ra đời trên cả nửa thế
kỷ, đã phổ biến rộng rãi truyện thái tử Tu Đại Noa.
Truyện này lưu hành dưới hạng văn bản nào và trong ngôn
ngữ gì? Chắc chắn nó phải lưu hành dưới dạng một dịch
bản, dù sau đó có được kể đi kể lại chăng nữa, vì
với dạng một dịch bản như vậy, nó mới đủ quyền uy
để làm phương tiện diễn tả giáo lý nghiêm túc, và từ
đó mới được đem ra tranh luận, như ta đã nói. Kiểm tra
lại toàn bộ quá trình phiên dịch tại Trung Quốc, thì không
có một dấu hiệu nào cho thấy nó được dịch ra tiếng Trung
Quốc, tuy vào thời điểm ấy các nhà phiên dịch nước ngoài
như An Thế Cao, Chi Lâu Ca Sấm v.v... cùng với các Phật tử
Trung Quốc đã tiến hành công tác dịch thuật một cách rầm
rộ và có qui mô.
Chính
vì không thấy có dấu hiệu nào của quá trình phiên dịch
tại Trung Quốc, nên một số người nghiên cứu Mâu Tử
Lý hoặc luận đã đi đến kết luận là không thể có chuyện
Mâu Tử Bác viết Lý hoặc luận vào khoảng những năm 195
được, như Pelliot[101][101] và Hồ Thích[102][102] đã đề xuất,
mà thực sự là một Ngụy thư viết vào khoảng thế kỷ thứ
IV, sau khi Khương Tăng Hội đã dịch Lục độ tập kinh với
truyện thái tử Tu Đại Noa[103][103]. Chúng tôi đã bàn cãi
chi tiết và tỉ miû vấn đề này trong Lịch sử Phật giáo
Việt Nam nên ở đây chỉ nêu ra một số kết luận và
sự kiện cần thiết cho việc nghiên cứu Lục độ tập kinh
thôi.
Thứ
nhất, việc Mâu Tử Bác viết Lý hoặc luận trong khoảng những
năm 195, như Pelliot và Hồ Thích chứng minh, là hoàn toàn xác
đáng. Thứ hai, Khương Tăng Hội không phải là người đầu
tiên dịch truyện thái tử Tu Đại Noa, bởi vì chính bản
thân bản dịch truyện thái tử Tu Đại Noa trong Lục độ
tập kinh của Khương Tăng Hội đã có những dấu hiệu cho
phép giả thiết, nếu không muốn nói là khẳng định, sự
tồn tại của một bản dịch tiếng Việt truyện đó, mà
Khương Tăng Hội đã sử dụng như nguyên bản để dịch ra
truyện Tu Đại Noa tiếng Trung Quốc. Những dấu hiệu đó
là gì?
Đó
là những câu văn viết theo cấu trúc ngữ pháp Việt Nam.
1.
“Nhĩ vương giả chi tử, sinh ư vinh lạc, trưởng ư trung
cung, y tắc tế nhuyễn, ẩm thực cam mỹ...” (Em là con vương
giả, sinh ở sung sướng, lớn lên ở trong cung, áo mặc mềm
mại, ăn uống ngọt ngon...)
2.
“Lưỡng nhi đổ chi, trung tâm đảm cụ”. (Hai trẻ thấy
nó, trong lòng khiếp sợ).
3.
“Mẫu cố quật ấm, kỳ hãm dung nhân, nhị nhi nhập trung,
dĩ sài phú thượng” (Mẹ có đào hố, hầm nó chứa người,
hai trẻ vào trong, lấy củi phủ lên).
Như
thế, trong số 21 trường hợp nêu trên, thì 3 trường hợp
đã xảy ra trong truyện thái tử Tu Đại Noa này, chiếm tỷ
lệ 1/7. Tỷ lệ này xem ra tương đối nhỏ, nếu kể về trường
hợp, nhưng nếu kể về số truyện thì lớn hơn một cách
có ý nghĩa, tức 3 trường hợp trong số 15 truyện, nghĩa là
gần 20%. Và nếu tính số chữ và câu của chuyện thái tử
Tu Đại Noa trong Lục độ tập kinh, thì sự xuất hiện 3 trường
hợp này phải nói là dày đặc. Truyện Tu Đại Noa có độ
dài khoảng 4350 chữ, tính trung bình một câu khoảng 10 chữ,
ta có khoảng 435 câu. Với từng ấy câu, mà có đến ba câu
viết theo ngữ pháp tiếng Việt thì phải kết luận là quá
dày đặc, để xem chúng như một rơi rớt ngẫu nhiên và rời
rạc của thói quen ngôn ngữ vô thức.
Nói
thẳng ra, trong khi dịch truyện thái tử Tu Đại Noa của Lục
độ tập kinh ra tiếng Trung Quốc, có khả năng Khương Tăng
Hội đã có một nguyên bản tiếng Việt truyện đó trước
mặt mình, nên mới để cho những câu văn có ngữ pháp tiếng
Việt xuất hiện một cách dày đặc như vậy, chứ không phải
chỉ do thói quen ngôn ngữ vô thức tạo nên. Chính sự có
mặt của một nguyên bản tiếng Việt mới làm cho thói quen
ngôn ngữ vô thức bộc lộ một cách mạnh mẽ và minh nhiên,
bởi vì nếu không có sự tác động hữu hình của văn bản
trước mắt, thói quen ngôn ngữ thường hay bị chính ngữ
pháp của tiếng nói mình đang viết khống chế và đẩy lùi,
đặc biệt đối với một người am hiểu và sử dụng rành
mạch tiếng Trung Quốc như Khương Tăng Hội.
Vậy
thì, chỉ xét qua 3 trường hợp mang dấu ấn ngữ pháp tiếng
Việt không thể chối cãi trên, cũng đủ cho phép ta giả thiết,
thậm chí là khẳng định, sự tồn tại một dịch bản truyện
thái tử Tu Đại Noa tiếng Việt lưu hành chắc chắn vào thời
Khương Tăng Hội để làm nguyên bản cho truyện Tu Đại Noa
của Lục độ tập kinh. Chỉ 3 trường hợp này thôi, chứ
khoan nói chi tới những yếu tố phụ gia khác, mà chỉ làm
tăng thêm tính thuyết phục của một giả thiết hay khẳng
định như thế. Trong những yếu tố phụ gia ấy, trước hết
phải kể đến ngữ vựng, đặc biệt là chữ "thuộc". Có
những từ Hán Việt bây giờ đã quen thuộc như giao chiến,
mãnh lực, thế lực, vô đạo, nhân đạo, sinh ly, ủy lạo,
nghẹn ngào (ngạch yết hay ngạch ế), cực khổ v.v... Có những
từ có khả năng thuần túy tiếng Việt cổ, mà Khương Tăng
Hội đã chép các tá âm của chúng qua bản dịch tiếng
Trung Quốc của mình luôn chẳng hạn, khi tả sức học của
một ông già phạm chí, Khương Tăng Hội viết: “Bỉ ông
học đạo... chuyên ngu lung lệ”, tức “Ông kia học đạo...
ngu si lỏng lẻo”. Rồi tả diện mạo ông ta thế này: “Nhan
trạng xu hắc, tỉ chính biển hồ, thân thể liêu lệ,
diện sô thần đả, ngôn ngữ khiểng ngật”, tức
“mặt mày xấu đen, mũi chính vặn vẹo, thân thể rệu rạo,
mặt xô, môi dày, nói năng ngọng nghịu”.
Tất
cả những chữ "vặn vẹo", "xô", "dầy", "ngọng nghịu", chúng
tôi hầu như phiên âm lại những chữ viết của Khương Tăng
Hội. Và chúng có thể là những chữ quốc âm đầu tiên hiện
còn ghi lại. Chữ "xô" đây là xô xảm. Chữ "dày" đúng ra
phải phiên âm là "đày". Và "đày" trên thực tế với nghĩa
"dày" vẫn còn tồn tại tại trong một số phương ngôn của
vùng Bình Trị Thiên chẳng hạn. Chữ "ngọng nghịu", "rệu
rạo" và "vặn vẹo" thì quá rõ ràng, khỏi phải bàn cãi.
Và
nếu coi những chữ như "tỉ", "diện", "thần" là những tá
âm tiếng Việt của chữ Trung Quốc tức đọc "mũi",
"mặt" và "môi", thì bốn câu vừa phiên âm có thể là một
bài thơ tiếng Việt cổ:
Mũi
chính vênh vẹo
Thân
thể rệu rẹo
Mặt
xô môi dày
Ngôn
ngữ ngọng nghịu
Bài
thơ này cùng với bài Việt ca đang bàn cãi có thể nói là
những bài thơ xưa nhất hiện biết của lịch sử văn học
Việt Nam.
Và
chữ "thuộc" nói ở trước. Chữ này xuất hiện hai lần liên
tiếp nhau như sau: “Vương viết: Thuộc bất tựu bảo, kim
lai hà tật hồ?”, Đôi viết: “Thuộc thị nô tỳ, kim vi
vương tôn”. Chữ "thuộc" trong tiếng Hán, nếu thêm bộ "khẩu",
thì đọc thành "chúc" như trong "di chúc" nên có khả năng là
một tá âm "chốc" của tiếng Việt cổ với nghĩa hiện đại
là "ban nãy", "chốc lát".
Sự
xuất hiện hàng loạt các tá âm như trên, cọng với bài Việt
ca trong Thuyết uyển[104][104] đã bắt buộc những người
trí thức Việt Nam phải đề ra những nguyên lý tá âm và
soạn thảo các sách văn phạm cũng như từ điển hướng dẫn
cách viết và đọc những tá âm ấy. Thực tế, sau Khương
Tăng Hội hơn một trăm năm, Đạo Cao đã viết hai tác phẩm
Tá âm và Tá âm tự, mà chắc chắn phải tồn tại cho đến
thể kỷ thứ VIII, khi những cao tăng "nhập Đường cầu pháp"
của Nhật Bản đã mang về Nhật Bản và ghi lại trong Nhật
Bản quốc kiến tại thư mục lục viết vào thế kỷ
thứ IX. Tuy ngày nay hiện chưa tìm thấy Tá âm và Tá
âm tự, ta vẫn có quyền giả thiết Tá âm là một quyển
sách nói về các nguyên lý mượn tiếng Trung Quốc để viết
tiếng Việt, và Tá âm tự là một tự điển về các chữ
tá âm đó. Lịch sử ngữ học và từ điển của nước ta
như thể có một chiều dài khá lớn và người khởi đầu
hiện biết là Pháp sư Đạo Cao[105][105]. Sau cùng là các câu
văn thuần túy tiếng Trung Quốc, nhưng khi đọc lên, ta có
cảm tưởng như Khương Tăng Hội đã dịch từng chữ từ
các câu văn Việt Nam. Chẳng hạn, câu “ngôn thệ thậm minh”,
tức “lời thề rất rõ”. Hay bốn câu:
Kim
nhi bất lai
Hựu
bất đổ xứ
Khanh
dĩ huệ thùy
Khả
tảo tương ngữ
(Nay
con không đến
Lại
không thấy đâu
Chàng
đem cho ai
Khá
sớm nói nhau)
Như
vậy, qua những phân tích trên, rõ ràng là phải giả thiết
sự có mặt của một nguyên bản tiếng Việt của truyện
Thái tử Tu Đại Noa, khi Khương Tăng Hội tiến hành dịch
truyện này mới giải thích một cách thỏa đáng việc xuất
hiện có hệ thống và toàn diện của ngữ pháp tiếng Việt
trong truyện đó hiện nay. Nếu không, ta không thể nào hiểu
nổi tại sao lại có những hiện tượng bất bình thường
về ngôn ngữ học kiểu ấy của Lục độ tập kinh, ngay cả
khi nại đến thói quen ngôn ngữ. Thói quen này, như đã nói,
chỉ bộc phát một cách lộ liễu, khi có tác động của những
nhân tố khác, chứ tự bản thân nó không thể làm xuất hiện
một cách có hệ thống và toàn diện ngữ pháp tiếng gốc
của người viết. Quá lắm thì nó chỉ hóa thân vào một
số tàn dư, mà người đọc phải đọc kỹ lắm mới phát
hiện ra.
Nói
tóm lại, chỉ với những chứng cớ nội tại hiện có của
truyện Thái tử Tu Đại Noa, chúng ta cũng có thể giả thiết
sự tồn tại một nguyên bản truyện Thái tử Tu Đại Noa
tiếng Việt vào thời Khương Tăng Hội, để từ đó Hội
dịch ra tiếng Trung Quốc trong Lục độ tập kinh ngày nay;
nghĩa là truyện ấy đã tồn tại trước năm 251, nếu không
nói là trước nữa. Và như chúng tôi đã chứng minh[106][106],
Phật giáo, nếu không truyền vào Việt Nam trước những năm
cuối của thiên niên kỷ thứ nhất tdl, thì cũng không thể
chậm hơn năm xảy ra cuộc kháng chiến của Hai Bà Trưng (40
- 43) và chắc chắn là trước năm 100 sdl, khi người nước
ta đã biết “trồng hoa uất kim hương để cúng Phật”.
Khi đã truyền vào khoảng thời gian đó, đến thời Mâu Tử
Bác và Khương Tăng Hội, hẳn đã phải có một số kinh sách
lưu hành[107][107] và lưu hành qua tiếng địa phương của người
Việt. Cho nên, Mâu Tử Bác trong Lý hoặc luận có dẫn truyện
Thái tử Tu Đại Noa và Khương Tăng Hội có dùng để dịch
lại trong Lục độ tập kinh, thì đó cũng là chuyện bình
thường, hoàn toàn có thể lý giải được. Huống nữa là
với những chứng cớ ngôn ngữ học dẫn trên của Lục độ
tập kinh.
Vì
vậy, có thể nói Matsumoto[108][108] hoàn toàn sai lầm, khi căn
cứ vào việc trích dẫn truyện Thái tử Tu Đại Noa, để
kết luận Mâu Tử Lý hoặc luận là ngụy thư. Sai lầm này
xuất phát từ một thái độ làm việc không nghiêm túc, vừa
ngây thơ ấu trĩ, vừa hấp tấp vội vàng. Ngây thơ ấu trĩ
vì cả tin vào những gì thấy ở trước mắt, và hấp tấp
vội vàng vì đã không chịu tìm hiểu mà đã đi đến một
kết luận đao to búa lớn. Matsumoto thấy truyện Thái tử Tu
Đại Noa do Khương Tăng Hội dịch, thì tin rằng nó do Hội
truyền vào Việt Nam và Trung Quốc, mà không chịu khó đọc
kỹ và phân tích xem nó có chứa đựng gì khả nghi đáng bàn
cãi không. Do đó, qua những phân tích về Lục độ tập kinh
trên từ nay trở đi ta có thể loại bỏ một cách dễ dàng
những lối ăn nói hàm hồ vội vạ thiếu nghiêm chỉnh kiểu
Matsumoto trên đối với Mâu Tử Lý hoặc luận. Không
những thế, những phân tích trước còn củng cố ngược lại
những kết luận đầy tính thuyết phục và sáng tạo của
Pelliot và Hồ Thích, xác định Mâu Tử Bác viết Lý hoặc
luận vào năm 195. Đây quả là một hệ luận thật bất ngờ.
Càng nghiên cứu Khương Tăng Hội và Lục độ tập kinh, ta
càng cảm thấy việc Mâu Tử Bác viết Lý hoặc luận
vào năm 195 là hoàn toàn xác đáng và hợp lý.
Nhưng
không chỉ truyện Thái tử Tu Đại Noa của Lục độ tập
kinh có hiện tượng ngôn ngữ học bất bình thường vừa
nêu, mà còn 11 truyện khác của bản kinh này cũng chứa đựng
những hiện tượng bất bình thường tương tự, như đã thấy,
và trải dài trên một diện rộng bao trùm toàn bộ bản dịch,
từ truyện 13 đến truyện 85 trên tổng số 91 truyện. Sự
xuất hiện có tính hệ thống và toàn diện đây tất cũng
chỉ dẫn đến một kết luận hiển nhiên là, phải tồn tại
một nguyên bản tiếng Việt của Lục độ tập kinh, chứ
không phải chỉ truyện Thái tử Tu Đại Noa, để cho Khương
Tăng Hội sử dụng mà dịch ra bản Lục độ tập kinh tiếng
Trung Quốc hiện còn.
Nói
khác đi, Lục độ tập kinh mà ta hiện sử dụng để dịch
ra tiếng Việt, thực sự là một dịch phẩm từ một nguyên
bản Lục độ tập kinh tiếng Việt, chứ không phải
từ một nguyên bản tiếng Phạn. Chính vì dịch từ một nguyên
bản tiếng Việt, nên do tiếp thu những thành tựu văn học
của nguyên bản tiếng Việt đó, mà nó có "văn từ điển
nhã", làm cho những nhà nghiên cứu tầm cỡ như Thang Dụng
Đồng đưa ra giả thiết là Lục độ tập kinh hiện nay là
một tác phẩm viết, chứ không phải là một dịch phẩm của
Khương Tăng Hội. Sự kiện "văn từ điển nhã" như thế,
có thể được lý giải một cách dễ dàng, mà không cần
giả thiết Lục độ tập kinh là một tác phẩm viết của
Khương Tăng Hội. Và cũng chính vì dịch từ một nguyên bản
tiếng Việt nên mới có hiện tượng sử dụng những thuật
ngữ thuần túy phương Đông như nhân nghĩa, nhân đạo, hiếu
thuận, trung trinh v.v... cũng như những nhận xét phê phán
Nho giáo, thậm chí đi đến chỗ cải biên một bộ phận của
truyện hoặc hư cấu nên những truyện mới hoàn toàn, mà
ta không thể tìm thấy trong kho tàng truyện cổ bản duyên
Phật giáo Ấn Độ, dù Pali hay Phạn văn. Việc cải biên và
hư cấu này có một ý đồ rõ rệt, thể hiện mục tiêu nhắm
tới của Lục độ tập kinh không phải là những đối
tượng truyền giáo chung chung ở bất cứ địa phương nào
cũng được, mà là những đối tượng cụ thể với những
hạn chế dân tộc và truyền thống văn hóa và văn minh riêng.
Nói thẳng ra, Lục độ tập kinh hiện nay mang những đặc
thù riêng, vì nó được hình thành từ truyền thống Phật
giáo dân tộc Việt, và đối tượng nó nhắc tới trước
tiên là dân tộc Việt này. Một phân tích xuất xứ và nội
dung sẽ làm rõ những kết luận vừa nêu.