3.
NHỮNG VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ HỌC CỦA LỤC ĐỘ TẬP KINH
Trong
các tác phẩm hiện còn của Khương Tăng Hội, thì Lục độ
tập kinh giữ một vai trò xung yếu đặc biệt. Xung yếu bởi
vì xuyên qua nó, chúng ta tìm hiểu được quá trình tác động
hỗ tương giữa Phật giáo và dân tộc Việt Nam trong những
ngày đọ sức gay go và khốc liệt đầu tiên này. Nó cho ta
biết những tư tưởng giáo lý gì của Phật giáo đã được
truyền vào cho dân tộc ta, và ngược lại, dân tộc ta đã
tiếp thu những gì từ Phật giáo. Không những thế, vì Khương
Tăng Hội sinh ra, lớn lên và được đào tạo tại Việt Nam,
nên Lục độ tập kinh cũng để cho thấy những dấu ấn của
nền văn hóa Việt Nam, và từ đó, ta có thể tái lập lại
một phần nào diện mạo của nền văn hóa đó trong những
giờ phút đọ sức gay go, khốc liệt đầy ngỡ ngàng và không
tương xứng ấy.
Lục
độ tập kinh hay Tập hợp các kinh về sáu hạnh vượt bờ
của bồ tát, bây giờ được xếp vào bộ Bản duyên và in
vào Đại tạng kinh số 152. Nó được ghi là do “Sa môn Khương
Tăng Hội nước Khương Cư đời Ngô dịch”. Khương Tăng
Hội cha gốc người Khương Cư (Sogdiane) qua buôn bán ở nước
ta, rồi sinh Khương Tăng Hội, nên nói ông là người nước
Khương Cư cũng không có gì lạ. Ông dịch Lục độ tập
kinh vào khoảng năm 251, tức bốn năm sau khi ông qua truyền
giáo ở Kiến Nghiệp, nên nói dịch vào đời nhà Ngô của
Trung Quốc cũng không có gì là quá đáng. Điều đáng lấy
làm lạ là Lục độ tập kinh có phải do Khương Tăng Hội
dịch hay không? và nếu dịch thì ông đã dùng nguyên bản
nào để dịch ra?
Trả
lời câu hỏi thứ nhất, giáo sư Thang Dụng Đồng[91][91] của
Trường Đại học Bắc Kinh trước đây đã gợi ý Lục độ
tập kinh không phải là một dịch phẩm, vì “văn từ” nó
quá “điển nhã”. Thực tế, nhận xét nầy phải nói là
đầy sáng tạo và khá hàm súc. Những ai đã từng đọc qua
Lục độ tập kinh thì không thể nào không có một ấn tượng
như thế. Khương Tăng Hội đã sử dụng lối văn bốn chữ
khá sắc sảo và tương đối nhuần nhuyễn cũng như huy động
được vốn từ ngữ mang nặng màu sắc Trung Quốc cũng như
Việt Nam, nên khi đọc lên, ta nghe gần gũi, có cảm tưởng
như một bản văn viết, chứ không phải là một bản dịch
từ một nguyên bản chữ Phạn hay một phương ngôn nào đó
của Ấn Độ. Một kiểm tra thực tế xác nhận cảm tưởng
đó. Những từ như “nhân nghĩa”, “hiếu thuận”, “nho
đức” v.v... tất nhiên không thể tìm thấy trong tiếng Phạn.
Và
những câu:
Nam hữu vi ngẫu
Tự cổ nhiên hỉ
Nam hiền nữ trinh
Thành diệc nam tỷ
Hay
là:
Phụ
ly sở thiên
Chích
hành nhất túc
Chúng
hữu nghi vọng
Khởi
huống tuần sóc
Rồi
những đoạn phê phán Nho giáo như thế nầy trong truyện 49
ĐTK 152 tờ 28a22-4 thì không thể tìm thấy trong các sách văn
học Phật giáo Ấn Độ thời Khương Tăng Hội: “Tôi ở
đời đã lâu năm, tuy thấy nho sỹ chứa đức làm thiện,
nhưng há có kẻ như đệ tử Phật quên mình cứu người,
ở ẩn mà không dương danh đó sao?”. Ngoài ra, còn có những
truyện được cải biên, thêm thắt yếu tố Lạc Việt vào,
như trường hợp truyện 23 nói tới trăm trứng, mà chúng tôi
sẽ bàn dưới đây[92][92]. Và có
những
truyện dứt khoát không thể có nguồn gốc Ấn Độ, như truyện
69 kể việc người con đào mả, lấy vàng liệm trong miệng
cha mình v.v... Tuy nhiên, nếu đọc kỹ hơn, chúng ta phát hiện
một sự kiện hết sức lạ lùng, nhưng rất quan trọng và
có nhiều ý nghĩa đối với không những lịch sử Phật giáo
Việt Nam, mà còn lịch sử văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam.
Sự kiện đó là trong một số câu của Lục độ tập kinh,
Khương Tăng Hội đã không viết đúng theo ngữ pháp Trung Quốc,
mà lại theo ngữ pháp Việt Nam, cụ thể là:
1.
Truyện 13 ĐTK 152 tờ 7c13 “Vương Cập phu nhân, tự nhiên
hoàn tại bản quốc trung cung chính điện thượng tọa, như
tiền bất dị...”
2.
Truyện 14 ĐTK 152 tờ 8c5 “. . . Nhĩ vương giả chi tử, sinh
cư vinh lạc, trưởng ư trung cung...” ĐTK 152 tờ 9b27: “...
Lưỡng nhi đổ chi, trung tâm đát cụ...”
3.
Truyện 26 ĐTK 152 tờ16 b 2: “... Thủ thám tầm chi, tức hoạch
sắt hỉ, trung tâm sảng nhiên, cầu dĩ an chi...”
4.
Truyện 39 ĐTK 152 tờ21 b 27: “... trung tâm hoan hỉ”
5.
Truyện 41 ĐTK 152 tờ 22 c 12: “Vương bôn nhập sơn, đổ kiến
thần thọ”
6.
Truyện 43 ĐTK 152 tờ 24 b 21: “... trung tâm chúng uế...”
7.
Truyện 44 ĐTK 152 tờ 25 a 26: “trung tâm nục nhiên, đê
thủ bất vân”
8.
Truyện 72 ĐTK 152 tờ 38 b 25: “Thần đổ tôn linh vô thượng
chính chân tuyệt diệu chi tượng lai tại trung đình, thiếp
kim cung sự”.
9.
Truyện 76 ĐTK 152 tờ 40a8: “Thần thiên thân lãnh, cửu tộc
quyên chi, viễn trước ngoại dã”.
ĐTK
152 tờ40 b 5: “Vị chúng huấn đạo trung tâm hoan hỉ”.
10.
Truyện 83 ĐTK 152 tờ 44 c 1: “Ngô đẳng khước sát nhân súc,
dĩ kỳ cốt nhục vi bệ thăng thiên”.
ĐTK
152 45 tờ 45a19: “Ngô đương dĩ kỳ huyết vi bệ thăng thiên”.
11.
Truyện 85 ĐTK 152 tờ 47 b 26:... trung tâm gia yên
ĐTK
152 tờ47 c 16: “... trung tâm đài yên”.
Như
thế, qua 11 truyện với 15 trường hợp, ngữ pháp tiếng Trung
Quốc đã không được chấp hành.
Ngược
lại, chúng đã được viết theo ngữ pháp tiếng Việt. Trong
15 trường hợp này thì 11 trường hợp liên quan đến chữ
chỉ nơi chốn “trung”.
Theo
ngữ pháp tiếng Trung Quốc thì chữ trung luôn luôn đứng sau
danh từ hay đại từ mà nó chỉ nơi chốn. Điều này hoàn
toàn ngược với ngữ pháp tiếng Việt. Cho nên, khi viết “trung
tâm”, “trung cung”, “trung đình” với nghĩa “trong lòng”,
“trong cung”, “trong sân”, Khương Tăng Hội rõ ràng đã
sử dụng ngữ pháp tiếng Việt, chứ không phải ngữ pháp
tiếng Trung Quốc. Nếu viết theo ngữ pháp tiếng Trung Quốc,
thì “trung cung”, “trung tâm”, “trung đình” phải đổi
lại thành “cung trung”, “tâm trung”, “đình trung”. Và
việc sử dụng “cung trung”, “tâm trung” không phải là
đã không xảy ra trong Lục độ tập kinh. Xem chẳng hạn
truyện 77 về “tâm trung” (ĐTK 152 tờ 41b17) hay truyện 15
và 50 về “cung trung” (ĐTK 152 11 b 9 và 29 a 10). “Trung đình”
chỉ xuất hiện một lần, nên không có đối chứng.
Chữ
“trung” với nghĩa chỉ nơi chốn “trong” đến thời Vương
Dật (k.89-158) và Trịnh Huyền (127-200) chú thích Sở từ và
Kinh thi. đã được qui định hẳn là luôn luôn đứng sau danh
từ hay đại từ nó chỉ nơi chốn. Thí dụ, khi chú thích
chữ “trung châu” trong câu mở đầu của bài Tương quân
trong Văn tuyển 32 tờ 12b12-13a1.
Quân
bất hành hề di do
Kiến
thùy lưu hề trung châu.
Vương
Dật đã viết: “Trung châu, châu trung dã”.
Trịnh
Huyền cũng làm thế đối với Kinh thi. Hai chữ “trung cốc”
của câu đầu bài thơ Cát đàm trong Mao thi chính nghĩa 1/2
tờ 1a13:
Cát
chi đàm hề
Thi
vu trung cốc
Duy
diệp thê thê.
Trịnh
Huyền đã chua: “Trung cốc, cốc trung giả”. Về “trung
tâm” của bốn câu cuối bài Thố ta trong Mao thi chính nghĩa
1/3 tờ 1b13-2a1 cũng vậy:
Túc
túc thố ta
Thi
vu trung lâm
Củ
cù vũ phu
Công
hầu phúc tâm
“Trung
tâm, lâm trung dã”. Xem thêm 12/1 tờ 7b3-4 và 18/2 tờ 5a9
“Trung
a”, “trung chỉ” và “trung lăng” của bài Tình tinh trong
Mao thi chính nghĩa 10/1 tờ 9b10 -10a4, “trung trạch” của bài
Tiểu uyển (12/3 tờ 1b3-4) và “trung điền” của bài Tín
nam sơn (13/2 tờ 12a 5-6) đều được Trịnh Huyền giải thích
là “a trung”, “chỉ trung”, “lăng trung”, “trạch trung”,
“nguyên trung” và “điền trung”. Vị trí chử “trung”
như một giới từ chỉ nơi chốn đến thế kỷ thứ II sdl
như vậy được qui định là ở sau danh từ hay đại từ nó
chỉ định[93][93].
Riêng
cụm "trung tâm" lần đầu tiên xuất hiện trong bài thơ Chung
Phong của Mao thi chính nghĩa 2/1 tờ 9a10-13:
Chung
phong thả bạo
Cố
ngã tắc tiếu
Ngược
lãng tiếu ngạo
Trung
tâm thị điệu
và
Trịnh Huyền không có chú thích gì. Cụm “trung tâm” còn
có mặt trong chín bài thơ khác của Kinh thi. Cụ thể là các
bài Cốc phong của Mao thi chính nghĩa 2/2 tờ 7a4. Nhị tử thừa
châu (2/3 tờ 9b 12), Vương thành (4/1 tờ 3a7 và 4a9-11, Hữu
đệ (6/2 tờ 6b12 và 7a7), Trạch pha (7/1 tờ 10b6) và, Cao cừu
(7x2 tờ 3a13-b1), Phỉ phong (7/2 tờ 5b11 và 5a5), Đàn cung (10/1
tờ 8a5, 8b11 và 9a5) và Thấp tang (15/2 tờ 7a12). Trong 9 trường
hợp này, riêng bài Hữu đệ, Trịnh Huyền có nhắc lại cụm
“trung tâm” khi giải thích. Đến thời Khổng Dĩnh Đạt
viết sớ cho bộ Mao thi xong vào năm Trinh Quán 16 (638), trong
số 10 bài thơ có cụm “trung tâm” thì 6 bài giữ nguyên
cụm từ ấy. Đó là Chung phong, Nhị tử, Vương thành, Cao
cừu, Đàn cung và Thấp tang. Một bài là Hữu đệ, thì “trung
tâm” được giải thích là lòng trung (trung tâm với chữ
trung có chữ tâm ở dưới). Một bài, bài Trạch pha, không
có một giải thích nào. Còn lại hai bài, tức Cốc phong và
Phi phong, cụm “trung tâm” được giải thích là “tâm trung”.
Ngoài
Kinh thi, Lễ ký cũng bốn lần xử dụng cụm “trung tâm”.
Một lần ở thiên Biểu ký của Lễ ký chính nghĩa 54 tờ
12a3-4, dẫn đoạn ba của bài Thấp tang của Kinh thi: (Mao thi
chính nghĩa 15/2 tờ 7a12).
Tâm
hồ ái hỉ
Hà
bất vị hỉ
Trung
tâm tạng chi
Hà
nhật vong chi.
Ba
lần kia ở thiên Lễ vận và thiên Biểu ký của Lễ ký chính
nghĩa 22 tờ 10a7 và tờ 4a7 và tờ 5a1 “trung tâm vô vi”,
“trung tâm thảm đát”[94][94] và “trung tâm an nhân giả,
thiên hạ nhất nhân nhi dĩ hỹ”. Trong cả ba lần này, Trịnh
Huyền không có giải thích gì thêm, còn Khổng Dĩnh Đạt vẫn
giữ nguyên khi viết lời sớ của mình. Tuy nhiên, không phải
Lễ ký không biết đến lối viết tiêu chuẩn “tâm trung”.
Cụ thể là thiên Nhạc ký của Lễ ký chính nghĩa tờ
9b10. “Tâm trung tư tu, bất hòa bất lạc”. Đặc biệt hơn
nữa, khi giải thích chữ “trung” trong câu “lễ nhạc giao
thố ư trung, phát hình ư ngoại” của thiên Văn vương thế
tử của Lễ ký chính nghĩa 20 tờ 7b13-8a1. Trịnh Huyền đã
viết: “Tâm, trung tâm giả”. Như thế rõ ràng đến thế
kỷ thứ II sdl, qui định về vị trí của chữ "trung" đối
với các danh từ và đại từ được tuân thủ.
Thực
vậy, kiểm soát toàn bộ văn liệu tiếng Trung Quốc từ thế
kỷ thứ nhất sdl đến thời Khổng Dĩnh Đạt viết Mao thi
chính nghĩa và Lễ ký chính nghĩa vào năm 638, ta thấy cụm
“trung tâm” rất ít khi dùng tới. Trong ba thế kỷ từ thế
kỷ thứ I -III ngoài Dương Hùng, ta chỉ gặp ba lần dùng cụm
“trung tâm”. Một là trong lá thư của Phùng Diển (k.1-65)
do Lý Hiền dẫn trong truyện của Diển ở Hậu Hán thư 58
hạ tờ 14a4-6 viết cho Tuyên Mạnh: “Cư thất chi nghĩa, nhân
chi đại luận, tư hậu hòa chi tiết, lạc định kim thạch
chi cố. Hựu tư thương tiền tào bất lương, tỷ hữu khử
lương phụ chi danh, sự thành bất đắc bất nhiên, khởi trung
tâm chi sở hảo tại!”. Hai là trong tờ chiếu cải cách lịch
của Hán Chương đế viết tháng 2 năm Nguyên Hòa thứ 2 (86)
trong Hậu Hán thư 12 tờ 2a5, ta có câu “trung tâm nục yên”.
Ba là ngày Đinh Hợi tháng giêng năm Cảnh Sơ thứ 3 (240) Minh
đế Tào Duệ băng hà, Tề vương Tào Phương lên ngôi. Tháng
2, Tào Sảng nhằm giảm bớt quyền hành của Tư Mã Ý, đã
sai em là Tào Hy viết biểu đề nghị phong Ý từ thái úy lên
thái phó. Bài biểu này chép trong Ngụy thư, mà Bùi Tùng Chi
cho dẫn trong Ngụy chí 9 tờ 13a12, trong đó có câu “trung
tâm quí dịch”.
Hà
Yến và Đặng Dương cùng nhóm với Tào Sảng. Thế thuyết
tân ngữ phần hạ của quyển trung tờ 30b11-13 chép việc Yến
và Dương nhờ Quản Lạc xủ quẻ. Xủ xong, Lạc dặn phải
cẩn thận. Yến lại dẫn 2 câu cuối của bài thơ Thấp tang
Trung
tâm tạng chi
Hà
nhã vong chi
để
trả lời. Hai câu này, Tôn Tú cũng dùng đễ trả lời Phan
Nhạc[95][95] về mối hận với Thạch Sùng, như Thế thuyết
tân ngữ phần hạ của quyển hạ tờ 38a8 đã ghi.
Đến
thế kỷ thứ IV, Thế thuyết tân ngữ phần thượng của quyển
hạ tờ 9a2-7 chép Chi Tuần (352 - 404), sau khi người bạn đạo
của mình là Pháp Kiên tịch, đã nói: “Tri kỷ đã mất,
nói ra không ai thưởng thức, trong lòng dồn nén, ta cũng mất
thôi”. Câu “trong lòng dồn nén” là dịch cụm “trung tâm
uẩn kết”, mà sau khi viết truyện của Tuần trong Cao tăng
truyện 4 ĐTK 2059 tờ 349c15-167, Huệ Hạo đã ghi lại và là
một lời nhái câu “ngã tâm uẩn kết” của bài thơ Tố
quan trong Mao thi chính nghĩa 7/2 tờ 4b6.
Qua
các thế kỷ V-VI không thấy dùng nữa. Đến đầu thế kỷ
thứ VII, khi viết Biện chính luận 7 ĐTK 2110 tờ 541a20-22 vào
năm 622, Pháp Lâm mới có dịp dùng “trung tâm” trong bài
thơ Thanh sơn (Núi xanh) mà bốn câu cuối cùng đọc:
Huyên
phong bạch vân thượng
Quải
nguyệt thanh sơn hạ
Trung
tâm dục hữu ngôn[96][96]
Vị
đắc vong ngôn giả.
Như
vậy cụm từ “trung tâm” từ thế kỷ thứ VI tdl, khi Khổng
Tử san định Kinh thi, Thơ và Lễ trở về trước, đang còn
được sử dụng khá phổ biến. Nhưng từ thế kỷ thứ I
sdl về sau cho đến thời Khương Tăng Hội, việc sử dụng
nó cực kỳ hiếm hoi, như ta đã thấy. Trong khoảng 300 năm,
nó chỉ được sử dụng ba lần, một trong lá thư của Phùng
Diễn, một trong tờ chiếu viết năm 86 của Chương đế và
một trong bài biểu năm 240 của Tào Sảng. Những lần do Hà
Yến, Tôn Tú và Phan Nhạc dùng tới thì đều đọc lại hay
nhái theo thơ của Kinh thi, nên không cần kể ra ở đây.
Thế
mà chính trong giai đoạn đó, một tập sách ngắn như Lục
độ tập kinh lại có đến 8[97][97] trong 15 trường hợp ngôn
ngữ bất bình thường dẫn trên lại sử dụng cụm từ “trung
tâm”. Việc sử dụng cụm từ ấy tất nhiên không thể giải
thích bằng việc nại đến ảnh hưởng của văn phong Kinh
thi. Đành rằng Khương Tăng Hội nắm Kinh thi rất vững, như
đã tỏ ra trong khi viết An ban thủ ý kinh tự với sự xuất
hiện hai câu cuối của bài thơ Đại đồng. Nhưng như thế
thì những nhà văn, nhà thơ lớn Trung Quốc giai đoạn đó
như Trương Hành (80-141), Mã Dung (80-167), Thái Ung (130-191), Tào
Thực (192-232) v.v..., mà thơ văn ta còn gặp trong Văn tuyển,
không biết đến Kinh thi ư? Họ không những biết rất rành
rẽ Kinh thi, trái lại còn vận dụng nó một cách điêu luyện
và sáng tạo. Vậy mà cụm từ “trung tâm” đã không xuất
hiện trong các tác phẩm của họ. Thế tại sao cụm từ ấy
lại có mặt một cách dày đặc trong Lục độ tập kinh?
Câu
trả lời tất nhiên là Khương Tăng Hội đã trước mắt chịu
ảnh hưởng của cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt. Chính ảnh
hưởng này của ngữ pháp tiếng Việt đã cho phép xuất hiện
cụm từ “trung tâm” trên trong Lục độ tập kinh vào một
giai đoạn, mà chính bản thân người Trung Quốc không còn
dùng tới hay họa hoằn có dùng tới thì dùng một cách hạn
chế tối đa nghiêm ngặt. Điểm cần nói nữa là 8 trường
hợp dùng cụm từ ấy chỉ biểu thị số trường hợp được
bảo lưu trong truyền bản hiện nay của Lục độ tập kinh.
Có
khả năng số lần dùng “trung tâm” lớn hơn nhiều, bởi
vì hiện có cũng 8 trường hợp sử dụng cấu trúc “trung
tâm” theo đúng ngữ pháp Trung Quốc thời Khương Tăng Hội
ở các truyện 64 (tờ 34 c1), 74 (tờ 39a13, b11 và c4), 77 (tờ
41b17), 79 (tờ 42a19), 81 (tờ 43b23) và 82(tờ 43c26-27). Tự nguyên
ủy, những cấu trúc đó có thể là “trung tâm” chứ không
phải là “tâm trung”, như ta hiện có. Nhưng qua quá trình
lưu hành bằng sao chép từ khoảng năm 251 cho đến năm 972
- 983 khi Đại tạng kinh Phật giáo Trung Quốc lần đầu tiên
được lệnh Tống thái tổ cho khắc bản, một số câu chữ
của Lục độ tập kinh bị nhuận sắc, sửa đổi, thậm chí
chép lầm và sai. Trong số ấy có khả năng 8 trường hợp
“tâm trung” vừa liệt kê.
Người
ta có thể hỏi nếu quá trình nhuận sắc, sửa đổi hay chép
lầm đã xảy ra, thì tại sao nó chỉ xẩy ra trên một nửa
số trường hợp, mà không đụng chạm đến một nửa số
kia trong toàn 91 truyện của Lục độ tập kinh? Câu trả lời
là vì Lục độ tập kinh đã lưu hành dưới những dạng bản
khác nhau. Ngay thời Tăng Hựu viết Xuất Tam tạng ký tập,
ông đã thống kê được 22 kinh (tức truyện) của Lục độ
tập kinh lưu hành dưới dạng đơn hành bản, như chúng tôi
đã vạch ra ở trên. Cho nên, quá trình sao chép, nhuận sắc,
sửa đổi cũng không thể xảy ra một cách đồng loạt và
nhất quán. Từ đó, ta có thể giải thiết 8 cấu trúc “tâm
trung” hiện nay có khả năng là một nhuận chính theo hướng
Trung Quốc hóa ngữ pháp của cấu trúc “trung tâm”
Vậy,
sự có mặt của những cấu trúc “trung tâm” này xác nhận
một cách không chối cãi ảnh hưởng của ngữ pháp tiếng
Việt đối với bản dịch Lục đô tập kinh tiếng Trung Quốc
hiện nay. Chính xuất phát từ ảnh hưởng ấy, mà 2 trường
hợp “trung cung” và một trường hợp “trung đình”, chúng
tôi cũng xử lý theo cách xử lý “trung tâm”, tuy biết rằng
“trung cung” và “trung đình” chỉ những sự vật cụ thể
theo tiếng Trung Quốc, từ đó chữ “trung” không có nghĩa
“trong”, mà có nghĩa là “giữa”. Chẳng hạn lời tâu
của Lý Cố chép trong Hậu Hán thư 93 tờ 4b10 đề nghị vua
“khá khiến trung cung rộng chọn gái đẹp …” Hay lời tâu
của Lục Khải trong Ngô chi 16 tờ 7a13 nói: “Nay trung cung
số muôn không đủ người đẹp” v.v…
Chữ
“trung đình” cũng thế. “Trung đình” là “sân giữa”,
đối lập với “tiền đình” và “hậu đình”. Bài thơ
Vịnh sử thứ 3 của Tả Tư trong Văn tuyển 21 tờ 3a9 có câu:
Liên
tỷ diệu tiền đình
Tỷ
chi do phù vân
Hay
bài Kim cốc tập tác thi của Phan Nhạc trong Văn tuyển 20 tờ
22a7-8 có hai câu:
Tiền
đình thị sa đường
Hậu
viên thực ô tỳ.
Về
hậu đình, ai cũng biết hai câu thơ nổi tiếng của Phan Nhạc
trong Tây chinh phú của Văn tuyển 10 tờ 13b7-8:
Giáo
diện triều nhi hoán binh
Thứ
hậu đình chi ý mỵ
Về
trung đình, thiên Đàn cung của Lễ ký chính nghĩa 6 tờ 4b8
đã nói tới việc “Khổng Tử khóc Tử Lộ ở trung đình”.
Rồi Trường môn phú của Tư Mã Tương Như (179-117 tdl.) trong
Văn tuyển 16 8b6 viết:
Vọng
trung đình chi cát cát hề
Nhược
lý thu chi giáng sương
Ban
Cố sáng tác Lưỡng độ phú trong Văn tuyển 1 tờ 6a11 cùng
nói:
Liệt
chung cừ ư trung đình
Lập
kim nhân u đoan vi
Đến
Huệ Hạo soạn Cao tăng truyện 10 ĐTK 2059 tờ 390c4-7 đã kể
việc “lô đồ” của Bôi Độ để ở trung đình. Gần cả
ngàn năm sau, Huyền Quang (1254-1334) của nước ta trong chùm
thơ về hoa cúc còn nói:
Hoa
tại trung đình nhân tại lâu
Phấn
hương độc tọa tự vong âu
Chú
nhân dự vật hồn vô cạnh
Hoa
hướng quần phương xuất nhất đầu
Như
vậy, dù biết “trung cung” và “trung đình” trong tiếng
Trung Quốc là những danh từ ghép chỉ những sự vật cụ
thể, chúng tôi vẫn tách riêng chúng ra, coi chúng có cấu trúc
tiếng Việt kiểu cụm từ “trung tâm” và hiểu theo nghĩa
tiếng Việt. Kết quả là ý nghĩa vẫn thông suốt, không có
một chút khiên cưỡng nào.
Bốn
trường hợp còn lại, trường hợp thứ nhất là việc dùng
chữ “thần thọ”. Chữ này nếu hiểu theo ngữ pháp tiếng
Trung Quốc thì có nghĩa là “cây thần”, như đã thấy trong
Bính Nguyên Biệt truyện do Bùi Tùng Chi dẫn trong truyện Bính
Nguyên của Ngụy chí 11 tờ 16 a 2. Truyện kể Bích Nguyên thanh
liêm, đi đường gặp tiền rơi, nhặt treo lên cây bên đường.
Dân thấy cây có tiền treo “gọi là cây thần” (Vị chi
thần thọ). Nếu hiểu theo ngữ pháp tiếng Việt, nó chỉ
đơn giản có nghĩa là “thần cây”. Chữ "thọ" trở thành
một tá âm. Nó cũng xuất hiện trong truyện 25 của Cựu tạp
thí dụ kinh quyển thượng ĐTK 106 tờ 515a20. Cấu trúc nó
giống như cấu trúc “tượng Phật" của truyện 31 trong Tạp
thí dụ kinh quyển Hạ ĐTK 105 tờ 510a5. Nó biểu thị cho cấu
trúc bổ từ đi sau chữ được bổ nghĩa mà ta thấy xuất
hiện khá phổ biến trong Lục độ tập kinh, như sẽ thấy
dưới đây.Trong những lần khác, để diển tả ý niệm “thần
cây” luôn luôn được viết một cách nghiêm chỉnh là “thọ
thần”. Xem chẳng hạn truyện 5 ĐTK 152 tờ 2c13, truyện 43
ĐTK 152 tờ 24c26, và ngay trong truyện 41 ĐTK 152 tờ 22c15 vài
dòng thì ta lại gặp “thọ thần”. Trường hợp thứ hai
liên quan đến chữ chỉ nơi chốn “ngoại”. Giống như trường
hợp chữ “trung”, với chức năng một chữ chỉ nơi chốn,
nó phải đặt sau danh từ hay đại từ nó chỉ, thì mới đúng
theo ngữ pháp Trung Quốc. Ở đây, nó được đặt trước
theo kiểu nói của ngữ pháp Việt Nam. Hai trường hợp còn
lại liên hệ đến nhóm từ “bệ thăng thiên” với nghĩa
“bệ lên trời”. “Thăng thiên” như một bổ từ cho “bệ”
thì theo ngữ pháp Trung Quốc không thể đi sau “bệ”. Một
lần nữa “bệ thăng thiên” là một kiểu nói theo ngữ pháp
Việt Nam.
Việc
sử dụng bổ từ đi sau chữ được bổ nghĩa xuất hiện
khá phổ biến trong Lục độ tập kinh. Nếu hai trường hợp
“thần thọ” và “bệ thăng thiên” có bổ từ là danh
từ và động từ, thì trong những trường hợp dưới đây,
bổ từ là các tính từ, mà tính từ với chức năng bổ nghĩa
cho danh từ, cứ theo ngữ pháp tiếng Trung Quốc thì phải luôn
luôn đi trước danh từ, một hiện tượng hoàn toàn trái ngược
với ngữ pháp tiếng Việt. Ta nói "trời xanh" người Trung
Quốc nói "thanh thiên". Tuy vậy, trong các trường hợp dưới
đây, dù Lục độ tập kinh là một dịch bản tiếng Trung
Quốc, ta vẫn gặp:
1.
“Giới cụ hạnh cao” (truyện 2 tờ 1b15 và c21, 16 tờ 11c28,
21 tờ 13c3, 49 tờ 28c5, 49 tờ 28c5, 55 tờ 32b12, 73 tờ 38c11
và 76 tờ 40b19).
2.
“Chính khoan dân phú” (truyện 8 tờ 3c15
3.
“Chính hà dân khốn” (truyện 46 tờ 26c17)
4.
“Quốc phong dân khang” (truyện 8 tờ 4a14, 43 tờ 25a9 -10)
5.
“Tính tà hạnh nghiệt” (truyện 22 tờ 13c29)
6.
“Quốc phong dân phú” (truyện 15 tờ 11c3, 52 tờ 30a13)
7.
“Chấp tháo bạo ngược” (truyện 10 tờ 5a23)
8.
“Thân thể liêu lệ, diện xô thần đả” (truyện 14 tờ
9b3)
9.
“Phước long” (truyện 2 tờ 1b15)
10.
“Đức cao phước thịnh” (truyện 43 tờ 25a11)
11.
“Phước long đạo thành” (truyện 53 tờ 30b14)
12.
“Sơn cao cốc thâm” (truyện 31 tờ 18c1)
13.
“Nam hiền nữ trinh” (truyện 45 tờ 26b21)
Rõ
ràng các bổ từ trên đây, mà chủ yếu là các tính từ,
đã nhất loạt đi sau các danh từ chúng bổ nghĩa. Trường
hợp “giới cụ hạnh cao” thì truyện 17 tờ 12b11 viết đúng
theo ngữ pháp tiếng Trung Quốc là “cụ giới cao hạnh”.
Một số những trường hợp khác có thể không cần coi như
những phức hợp có quan hệ bổ từ kiểu “tính từ + danh
từ”, mà như những cấu trúc mệnh đề với động từ bị
lược bỏ, dù thực tế không hẳn đã như vậy, như “sơn
cao cốc thâm” và “nam hiền nữ trinh” hay “chính hà dân
khốn” v.v... Dẫu sao đi nữa sự kiện quan hệ bổ từ “danh
từ + tính từ” là một đặc trưng của ngữ pháp tiếng
Việt. Và hai trường hợp sau là điển hình:
1.
Truyện 46 ĐTK 152 tờ 27a3 - 4: “Cậu dĩ thế cường, đoạt
ngô chúng hỉ”
2.
Truyện 84 ĐTK 152 tờ 47a14 - 15: “Thất quốc sư hùng”.
Bổ
từ “cường” và “hùng” ở đây dứt khoát không được
cấu trúc theo ngữ pháp tiếng Trung Quốc, bởi vì nếu căn
cứ vào ngữ pháp đó thì phải nói là “cường thế” và
“hùng sư”, chứ không phải “thế cường” và “sư hùng”
như truyện 46 và 84 đã có. Cấu trúc ấy phải nói là phản
ảnh cấu trúc bổ từ của ngữ pháp tiếng Việt cổ.
Cần
mở ngoặc ở đây để nói thêm một chút về cách đọc chữ
“cường”. Chữ này ta có thể đọc “cưỡng”, nhưng phải
chấm câu lại thành ra “cậu dĩ thế, cưỡng đoạt ngô chúng
hỉ”. Song ngắt câu lại như thế, thì lối văn bốn chữ
tiêu chuẩn của Lục độ tập kinh bị phá vỡ một cách không
cần thiết, tuy vẫn có ý nghĩa. Do thế, chúng tôi vẫn giữ
cách đọc chữ “cường” và coi nó như một tính từ bổ
nghĩa cho chữ “thế” đi trước và phản ảnh quan hệ bổ
từ của ngữ pháp tiếng Việt, chứ không đọc là “cưỡng”.
Truyện
22 tờ 14a9 có câu: “Do hiền lý gia huấn bỉ nhi ngoan”, tuy
đây là một mệnh đề, chứ không là nằm trong quan hệ bổ
từ “danh từ + tính từ”, cũng bộc lộ ít nhiều cấu trúc
ngữ pháp tiếng Việt, như khi ta nói “nuôi con tốt, dạy
con ngoan”. Số cấu trúc có dạng tương tự này trong Lục
độ tập kinh xuất hiện khá nhiều, cụ thể là bốn câu
sau với đặc trưng là sử dụng chữ "cố". mà nếu căn cứ
theo ngữ vựng và ngữ pháp tiếng Trung Quốc thì thật khó
hiểu trong khi nếu theo ngữ vựng và ngữ pháp tiếng Việt
thì trở nên dễ hiểu một cách lạ thường:
1.
Truyện 14 ĐTK 152 tờ 9b39 - c1: “Mẫu cố quật ấm, kỳ
hãm dung nhân, nhị nhi nhập trung, dĩ sài phú thượng”
2.
Truyện 50 ĐTK 152 tờ 29a9: “Đại vương cố khiển thần qui
tuyên mạng, thần đẳng bất hư lai...”
3.
Truyện 53 ĐTK 152 tờ 30a29: “Phạm chí cố tại hồ”
4.
Truyện 85 ĐTK 152 tờ 47c7: “Ngô cố trì ẩn, suy hựu phùng
yên”
Trong
bốn câu này, chữ “cố”, nếu hiểu theo nghĩa tiếng Trung
Quốc, tức “cũ”, “xưa”, “cho nên” thì khi dịch ta
gặp phải những câu văn gượng ép. Thêm vào đó, có thể
dùng những chữ khác như “tiền”, “tích”, để diễn
đạt ý “xưa”, “trước đây” một cách rõ ràng và trôi
chảy hơn. Trên thực tế, Khương Tăng Hội, ở những trường
hợp khác đã sử dụng chúng. Trái lại, nếu hiểu chữ “cố”
trên như một tá âm, để diễn đạt ý “có” hay “cố”
của tiếng Việt và đọc là “có” hay “cố” thì câu
dịch suông sẻ một cách lạ lùng “mẹ có đào hầm”, “đại
vương có sai rùa thần truyền mạng”, “phạm chí có ở
đó không”, “ta cố chạy trốn”. Riêng câu thứ 4 dẫn
trên, vế thứ hai “suy hựu phùng yên”, một lần nữa nếu
hiểu “suy” như trong “thịnh suy”, “hưng suy” tiếng
Trung Quốc, ta sẽ gặp không ít khó khăn. Ngược lại, nếu
coi “suy” như một tá âm và đọc là “xui”, thì nghĩa
câu văn rất rõ ràng và đơn giản: “Ta cố chạy trốn, xui
lại gặp vậy”.
Phương
thức tá âm này còn có khả năng xảy ra trong hai trường hợp
ở truyện 84 ĐTK 152 tờ 46b23 và 47a2 - 4:
1.
“Tự tư chi hậu, thái tử xuất nhập, vị thường biệt
sắc”
2.
“Dĩ vi nhân phi, nhược tế minh ngu cát hung hảo xú, quyết
do túc mạng, thục năng nhưỡng chi, nhi bất trinh nhất, tận
hiếu phụng tôn, bạc tế hoàn quốc, hoạ chí vu tư”.
Hai
chữ "biệt" và "bạc" (hay "bạ" "bộ") đều có thể đọc
là "biết" và "bỏ", mà không cần dịch, ý nghĩa câu
văn vẫn rõ ràng và thích hợp. Chữ "biệt" này cũng xuất
hiện trong các truyện 10 (ĐTK 152 tờ 6a4) và 76 (ĐTK 152 tờ
41a11).
Cấu
trúc câu văn của Lục độ tập kinh do thế không chỉ tuân
thủ theo cú pháp chuẩn mực của tiếng Trung Quốc, mà còn
mang nặng dấu ấn của cú pháp tiếng Việt. Ngay cả những
câu đọc lên nghe có vẻ viết theo cú pháp tiếng Trung Quốc,
ta vẫn thấy thấp thoáng bóng dáng của câu tiếng Việt. Lấy
thí dụ mấy câu sau:
1.
Truyện 43 ĐTK 152 tờ 24b23: "Sơn hữu lưu tuyền, trung sinh liên
hoa",
tờ
24c8-9: "Khứ tư bất viễn, hữu tiểu bồng lư, ngô thân tại
trung".
2.
Truyện 45 ĐTK 152 tờ 25c14: "Tọa trung hữu nhất lý gia".
3.
Truyện 78 ĐTk 152 tờ 41c9: "Bách tiết giai không, trung như trúc
tiết".
4.
Truyện 83 ĐTK 152 tờ 44c24 - 25: "Lâu các cung điện... thiện
đế xử trung..."
Và
đặc Biệt truyện 83 ĐTK 152 tờ 45a4 có một câu, mà nếu
hiểu theo nghĩa và cú pháp tiếng Trung Quốc, thì ý nghĩa không
hợp lý, không hay và không sống động bằng, nếu ta hiểu
theo cú pháp và ngữ âm tiếng Việt. Truyện kể khi hai đạo
sỹ Xà Lê và Ưu Bôn đi tìm thần nữ, họ đến Hương sơn,
gặp một vị phạm chí thánh thiện. Vì có vị phạm chí này,
họ không thể bắt thần nữ được, nên bèn bàn với nhau
"kết cỏ chú ếm, rồi quăng vào nước", khiến cho phạm chí
"thể trọng thiên nữ linh kiệt".
Sáu
chữ cuối cùng này, nếu dịch theo nghĩa tiếng Trung Quốc,
ta sẽ có: “khiến cho phạm chí thân nặng, thiên nữ hết
linh”. Ngược lại, nếu coi chúng như một câu tiếng Việt
được dịch nửa vời qua tiếng Trung Quốc, nên chữ “trọng”
không còn có nghĩa tiêu chuẩn tiếng Trung Quốc là “nặng”
nữa, mà là một tá âm tiếng Việt để diễn tả ý “chồng
lên”, ta sẽ có: “Khiến cho phạm chí thân chồng (lên) thiên
nữ, (nên thiên nữ) hết linh”. Rõ ràng, nếu dịch theo nghĩa
tiếng Trung Quốc, việc “phạm chí thân nặng” làm sao quan
hệ với sự hết linh của thiên nữ? Nó không hợp lý chút
nào. Trái lại, nếu coi chữ “trọng” là tá âm của chữ
"chồng" tiếng Việt, thì không những sự việc xảy ra một
cách hợp lý, bởi vì phạm chí chồng mình lên thiên nữ,
thiên nữ mới hết linh, mà còn cho ta một hình ảnh hết sức
thú vị và sống động là việc phạm chí ôm chồng lên thiên
nữ.
Cuối
cùng, cũng cần nêu ra một số từ thuần túy tiếng Việt
hay đã Việt hóa đến nghe quen thuộc. Mở đầu Lục độ
tập kinh, Khương Tăng Hội đã nói tới việc Phật ở núi
Diều. Núi Diều tiếng Phạn là Grdhrakuta, sau nầy các dịch
giả khác thường phiên âm là Kỳ xà quật, hay nếu dịch
thì không còn dịch là Diều Sơn, mà dịch Linh Thứu sơn. Chữ
"Diều" chắc cũng khó hiểu đối với người Trung Quốc, cũng
như chữ "Thứu" đối với người Việt Nam. Truyện 20 ĐTK
152 tờ 13b6 nói tới những người gù được thẳng lưng. Chữ
"gù" trong Tống bản còn để nguyên, chứ các bản in Đại
tạng kinh khác đều sửa lại thành "tỵ" cho dễ hiểu. Truyện
33 ĐTK 152 tờ19a20 nói tới việc người chủ hàng làm bè để
thả bạn mình xuống biển. Chữ "bè" này, tiếng Trung Quốc
tương đương là "phiệt", mà ta thấy xuất hiện trong truyện
25 ĐTK 152 tờ15a25.
Sau
hết, phải nói tới hai chữ khá đặc biệt xuất hiện khá
thường xuyên trong các truyện của Lục độ tập kinh. Đó
là chữ "thuộc" của các truyện 10 ĐTK 152 tờ 5c24, truyện
14 ĐTK 152 tờ 10ac7, truyện 80 ĐTK 152 tờ42c1 v.v... và chữ
"sơ" của các truyện 13 ĐTK 152 tờ 7c4, truyện 66 ĐTK 152 tờ
35b23 và c.8-18 v.v...
Khi
làm công tác phiên dịch, chúng tôi gặp hai chữ này, cảm
thấy hơi bỡ ngỡ, vì chúng xuất hiện không bình thường,
nếu hiểu theo nghĩa và ngữ pháp tiếng Trung Quốc. Chúng tôi
giả thiết chữ "thuộc" là tá âm của chữ "chốc" và chữ
"sơ" là tá âm cuả chữ "xíu" tiếng Việt: "Chốc" trong "chốc
lát", "chốc nữa" và có nghĩa "ban nảy", và "xíu" trong "chút
xíu" với nghĩa như vậy. Khi giả thiết như thế, việc hiểu
và dịch các câu có hai chữ ấy xuất hiện trở thành dễ
hiểu và suôn sẻ một cách lạ thường.
Ngoài
ra, truyện 14, mà chúng tôi sẽ bàn kỹ ở dưới đây, khi
tả diện mạo lão phạm chí, đã viết: “Tỉ chính biển
hổ, thân thể liêu lệ, diện sô thần đả, ngôn ngữ khiểng
ngật”. Trong đó nếu ta coi những chữ “tỉ”, “diện”,
“thần” như những tá âm tiếng Việt và đọc "mũi", "mặt",
"môi", thì câu vừa thấy có thể phiên âm thành một bài thơ
tiếng Việt, mà không cần dịch:
Mũi
chính vểnh vẹo
Thân
thể rệu rạo
Mặt
xô môi dày
Ngôn
ngữ ngọng nghịu
Qua
những phân tích trên, ta thấy Lục độ tập kinh chứa đựng
một số tàn dư của ngữ vựng, ngữ pháp và cú pháp tiếng
Việt. Sự tồn tại của những tàn dư nầy đưa ta đến những
kết luận nào? Thứ nhất, như trên đã nói, Khương Tăng Hội
sinh ra, lớn lên và được đào tạo thành tài tại đất nước
ta, cho nên khi tiến hành phiên dịch và trước tác, dứt khoát
không thể nào không chịu ảnh hưởng của tiếng Việt về
cả ba mặt ngữ vựng, cú pháp và ngữ pháp. Nếu Khương Tăng
Hội sử dụng tiếng Trung Quốc tới mức nhuần nhuyễn của
một diệu thủ, thì có thể hạn chế tối đa ảnh hưởng
vừa nói. Nhưng đối với những trưng dẫn trên, ta thấy ông
đã chịu ảnh hưởng đó một cách nặng nề và sâu đậm.
Tuy nhiên, vì quá nặng nề và sâu đậm, nên ta phải đi tới
một kết luận thứ hai. Đó là có khả năng Khương Tăng Hội
đã sử dụng một nguyên bản Lục độ tập kinh tiếng Việt
để dịch ra bản Lục độ tập kinh tiếng Trung Quốc,
mà ta hiện đang dùng làm nguyên bản để dịch lại ra tiếng
Việt, bởi vì phải có một nguyên bản tiếng Việt như vậy
mới giải thích nổi tại sao ngữ pháp tiếng Việt đã ảnh
hưởng một cách có hệ thống và toàn diện đến thế đối
với dịch bản Lục độ tập kinh tiếng Trung Quốc hiện có.
Có
thể có một bản Lục độ tập kinh tiếng Việt tồn tại
vào thời Khương Tăng Hội không?