I.
I. KHƯƠNG TĂNG HỘI CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP
Kể
từ ngày Trần Văn Giáp giới thiệu Khương Tăng Hội như một
trong những nhà truyền giáo đầu tiên của đạo Phật ở
nước ta, những người viết sử về sau đã tiếp tục đánh
giá vị trí, vai trò cũng như những đóng góp của Khương
Tăng Hội đối với lịch sử dân tộc ta không hơn không kém
là một nhà truyền giáo đầu tiên[65][65]. Việc giới thiệu
và đánh giá sai lầm này đã dẫn tới những hậu quả nghiêm
trọng, mà một trong số đó là việc nghiên cứu Khương Tăng
Hội đã không được tiến hành nghiêm túc để phát hiện
những đóng góp của Khương Tăng Hội không những đối với
lĩnh vực lịch sử Phật giáo Việt Nam, mà còn với nhiều
lĩnh vực khác nữa, đặc biệt là lĩnh vực lịch sử với
truyền thuyết trăm trứng và lịch sử ngôn ngữ tư tưởng
và văn học Việt Nam. Ngày nay, với những thành quả nghiên
cứu có được, chúng ta có thể khẳng định Khương Tăng
Hội không phải là một nhà truyền giáo đầu tiên của Phật
giáo ở Việt Nam, mà là một thành tựu đầu tiên của nền
Phật giáo ấy, để cùng với Mâu Tử hình thành một mặt
trận văn hóa phản công lại những những trận tiến công
vũ bão của nền văn hóa nô dịch Trung Quốc đang xảy ra vào
thời đó, và khẳng định sức sống ưu việt của nền văn
hóa Việt Nam và Phật giáo Việt Nam.
Cuộc
đời và sự nghiệp của Khương Tăng Hội, ta hiện biết qua
hai bản tiểu sử xưa nhất, một của Tăng Hựu (445 - 518)
trong Xuất Tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 96a29 - 97a17 và một
của Huệ Hạo (496-553) trong Cao tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 325a13
- 326b13. Bản của Huệ Hạo thực ra là một sao bản của bản
Tăng Hựu với hai thêm thắt. Đó là việc nhét tiểu sử của
Chi Khiêm ở đoạn đầu và việc ghi ảnh hưởng của Khương
Tăng Hội đối với Tô Tuấn và Tôn Xước ở đoạn sau, cùng
lời bình về sai sót của một số tư liệu. Việc chép thêm
tiểu sử của Chi Khiêm xuất phát từ yêu cầu ghi chép
lại cuộc đời và những đóng góp to lớn của Khiêm đối
với lịch sử truyền bá Phật giáo của Trung Quốc, nhưng
vì Khiêm là một cư sỹ và Cao tăng truyện bản thân là một
ghi chép về các cao tăng, nên không thể dành riêng ra một
mục, như Tăng Hựu đã làm trong Xuất Tam tạng ký tập 13
ĐTK 2145 tờ 97b13 - c18, cho Khiêm.
Còn
việc thêm chi tiết về Tô Tuấn và Tôn Xước, điều này
chứng tỏ Huệ Hạo đã tham khảo nhiều sử liệu khác, mà
Tăng Hựu có thể đã bỏ qua. Trong bài tựa cho Cao tăng truyện
cũng như trong hai lá thư trao đổi giữa Vương Mạn Dĩnh và
Huệ Hạo trong Cao tăng truyện 14 ĐTK 2059 tờ 418b5 - 423a10,
Huệ Hạo đã xác định mình đã tham khảo “hơn mấy chục
nhà tạp lục” (sứu kiểm tạp lục sổ thập dư gia) cùng
“sử sách các triều Tấn, Tống, Tề, Lương. Ngụy sử các
nhà Tần, Triệu, Yên, Lương, tạp thiên, địa lý, văn lẻ,
đoạn ghi”, và hỏi thêm các bậc cổ lão tiên đạt. Cụ
thể là tác phẩm của các tác gia Pháp Tế, Pháp An, Tăng
Bảo, Pháp Tấn, Tăng Du, Huyền Sướng, Tăng Hựu, Lưu Nghĩa
Khánh, Vương Diệm, Lưu Tuấn, Vương Diên Tú, Chu Quân Đài,
Đào Uyên Minh, Vương Cân, Tiêu Cánh Lăng vương, Khích Cảnh
Hưng, Trương Hiếu Tú, Lục Minh Hà, Khương Hoằng, Đàm Tôn,
Dữu Trọng Ung v.v..., mà Huệ Hạo có dịp nêu rõ tên tuổi
cũng như tác phẩm.
Ngoài
hai bản tiểu sử vừa nêu, các kinh lục về sau, cụ thể
là Chúng kinh mục lục của Pháp Kinh, Lịch đại tam bảo ký
của Phí Trường Phòng, Đại đường nội điển lục của
Đạo Tuyên, Khai nguyên thích giáo lục của Trí Thăng, cũng
ít nhiều có ghi chép về Khương Tăng Hội, song chủ yếu là
tóm tắt các tư liệu do hai bản tiểu sử vừa nói cung cấp,
do thế cũng không góp thêm điều gì mới chắc chắn vào việc
nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp của Khương Tăng Hội.
Cho nên, chúng chỉ được sử dụng như những tài liệu tham
khảo thêm khi cần thiết.
Do
thế, để tiến hành nghiên cứu, chúng tôi lấy hai bản đó
làm căn bản. Và vì bản của Huệ Hạo tự thân là một bản
sao của bản Tăng Hựu, có tham khảo thêm tư liệu của Tôn
Xước, nên chúng tôi cho dịch lại đây bản của Huệ Hạo.
Đoạn nào cho in thụt vào là đoạn tăng bổ của Cao tăng
truyện.
“Khương
Tăng Hội, tổ tiên người Khương Cư, mấy đời ở Thiên
Trúc, cha nhân buôn bán, dời đến Giao Chỉ. Hội năm hơn 10
tuổi, song thân đều mất, khi chịu tang xong, bèn xuất gia,
siêng năng hết mực. Là con người rộng rãi nhã nhặn, có
tầm hiểu biết, dốc chí hiếu học, rõ hiểu ba tạng, xem
khắp sáu kinh, thiên văn đồ vỹ, phần lớn biết hết, giỏi
việc ăn nói, lanh việc viết văn. Bấy giờ Tôn Quyền xưng
đế Giang Tả, mà Phật giáo chưa lưu hành.
Trước
đó có ưu bà tắc Chi Khiêm, tự Cung Minh, một tên là Việt,
vốn người Nguyệt Chi, đến chơi đất Hán. Xưa đời vua
Hoàn, vua Linh nhà Hán có Chi Sấm dịch ra các kinh. Có Chi Lượng,
tự Kỷ Minh, đến học với Sấm. Khiêm lại thọ nghiệp với
Lượng, rộng xem sách vở, không gì là không nghiên cứu kỹ
càng, các nghề thế gian, phần nhiều giỏi hết, học khắp
sách lạ, thông tiếng sáu nước. Ông thì nhỏ con, đen gầy,
mắt trắng, con ngươi vàng, nên người thời đó nói: Mắt
anh Chi vàng, thân hình tuy nhỏ, ấy túi trí khôn. Cuối đời
Hán Linh đế loạn lạc, ông lánh xuống đất Ngô. Tôn Quyền
nghe tiếng ông tài trí, triệu đến gặp, vui vẻ, phong làm
bác sỹ, phụ đạo thái tử, cùng với người như Vi Diệu,
hết sức khuông phò. Nhưng vì ông đến từ nước ngoài, nên
Ngô chí không ghi.
Khiêm
nghĩ giáo pháp vĩ đại tuy lưu hành, nhưng kinh điển phần
nhiều tiếng Phạn, chưa dịch ra hết, bèn nhờ giỏi tiếng
Hán, gom các bản Phạn, dịch ra tiếng Hán. Từ năm đầu Hoàng
Vũ (222) đến khoảng Kiến Hưng (252 - 253) nhà Ngô, ông dịch
Duy Ma, Đại bát nê hoàn, Pháp cú, Thụy ứng bản khỉ v.v...
gần 49 bộ kinh, gom được nghĩa thánh, lời ý đẹp nhã. Lại
dựa kinh Vô Lượng Thọ và Trung bản khỉ, ông viết ba bài
Phạn bối Bồ đề liên cú và chú thích kinh Liễu bản sinh
tử đều lưu hành ở đời.
Bấy
giờ đất Ngô mới nhiễm giáo pháp vĩ đại, phong hóa
chưa tròn, Tăng Hội muốn khiến đạo nổi Giang Tả, dựng
nên chùa nước[66][66] liền chống gậy đông du, vào năm Xích
Ô thứ 10 (247), mới đến Kiến Nghiệp, xây cất nhà tranh,
dựng tượng hành đạo. Lúc ấy nước Ngô vì mới thấy sa
môn, trông dáng mà chưa kịp hiểu đạo, nên nghi là lập dị.
Có ty tâu lên: “Có người Hồ nhập cảnh, tự xưng sa môn,
mặt mày áo quần chẳng thường, việc nên kiểm xét”. Quyền
nói: “Xưa Hán Minh đế mộng thấy thần, hiệu gọi là Phật.
Kẻ kia thờ phụng, há chẳng là di phong của đạo ấy ư?”.
Bèn cho gọi Hội đến hỏi: "Có gì linh nghiệm?". Hội nói:
“Như lai qua đời, thoắt hơn nghìn năm, để lại xá lợi,
thần diệu khôn sánh. Xưa vua A Dục dựng tháp đến tám vạn
bốn ngàn ngôi. Phàm việc dựng xây chùa tháp là nhằm để
làm rõ phong hoá còn sót lại ấy”. Quyền cho là khoa
đản, bảo Hội: “Nếu có được xá lợi, ta sẽ dựng tháp,
nhược bằng dối trá thì nước có phép thường”. Hội hẹn
bảy ngày. Bèn gọi người theo mình nói: “Đạo pháp hưng
phế, chính ở một việc này. Nay nếu không chí thành, sau
hối sao kịp”. Rồi cùng chay tịnh ở tịnh thất, lấy bình
đầy để trên bàn, đốt hương lạy xin. Hạn bảy ngày hết,
mà vắng vẻ không ứng. Bèn lại xin thêm bảy ngày nữa, cũng
lại như thế. Quyền nói: “Đó thật là dối trá”. Sắp
định kết tội thì Hội xin thêm bảy ngày nữa. Quyền lại
đặc biệt đồng ý. Hội bảo đồ đệ mình: "Khổng Tử
có nói: "Vua Văn đã chết, văn không có đây ư!" Phép thiêng
phải giáng, mà chúng ta không cảm được thì sao mượn được
phép vua, nên hẹn phải thề chết".
Đến
chiều ngày thứ bảy cuối cùng vẫn không thấy gì, không
ai là không run sợ. Khi tới canh năm, bỗng nghe có tiếng loảng
xoảng trong bình. Hội tự đến xem, quả được xá lợi. Sáng
hôm sau đem trình cho Quyền. Cả triều tụ xem thấy tia sáng
ngũ sắc rọi sáng trên miệng bình. Quyền tự tay cầm bình
đổ ra mâm đồng, xá lợi lăn tới đâu thì mâm đồng vỡ
nát. Quyền hết sức kinh ngạc, đứng lên nói: "Điềm lành
hiếm có". Hội tới nói: "Oai thần xá lợi, há chỉ tia sáng
thôi sao? Hãy đem đốt đi, lửa không làm cháy. Chày vồ kim
cương đánh không thể nát". Quyền sai làm thử. Hội lại
thề: "Mây pháp mới phủ, dân đen nhờ ơn, nguyện thêm dấu
thần, để rộng tỏ uy thiêng". Bèn đem đặt xá lợi trên
đe sắt, sai lực sỹ đánh. Thế mà đe chày đều vỡ, xá
lợi không sao. Quyền rất thán phục, nhân đó dựng tháp.
Vì mới có chùa Phật, nên gọi là chùa Kiến Sơ. Chỗ đất
ấy gọi là xóm Phật. Do thế, đạo pháp ở Giang Tả mới
thịnh.
Đến
khi Tôn Hạo cầm quyền, chính sách hà khắc bạo ngược, phá
bỏ dâm từ. Đến cửa chùa Phật, cũng muốn hủy phá. Hạo
nói: "Nó do đâu mà nổi lên? Nếu lời dạy nó chân chính,
cùng hợp với sách vở thánh hiền thì nên giữ theo thờ đạo
đó. Nếu nó không thật, thì đốt phá hết"[67][67]. Quần
thần đều nói: “Uy lực của Phật không giống các thần.
Khương Hội cảm thụy, thái hoàng dựng chùa. Nay nếu khinh
suất phá đi, sợ sau hối hận”. Hạo sai Trương Dục đến
chùa hỏi Hội. Dục vốn có tài ăn nói, hỏi vặn tung hoành.
Hội truy câu tìm chữ, lời lẽ phóng ra. Từ sáng tới tối,
Dục không thể bẻ được. Khi về, Hội đưa đến ngõ. Lúc
ấy cạnh chùa có dâm từ, Dục hỏi: “Sự giáo hóa sâu mầu
đã thịnh, sao còn để đám đó ở bên mà không bỏ đi”.
Hội đáp: “Tiếng sét vỡ núi, kẻ điếc không nghe, thì
không phải tiếng nó nhỏ. Khi đã thông thì muôn dặm đáp
lại, còn nếu ách tắc, gan mật (gần mà vẫn xa như) Sở
Việt”.
Dục
về khen: “Hội tài ba sáng suốt, chẳng phải thần lượng
được, xin bệ hạ xem xét lấy”. Hạo đại hội triều thần,
đem ngựa xe đón Hội. Khi Hội đã ngồi, Hạo hỏi: “Phật
giáo dạy rõ thiện ác báo ứng, có phải thế không?” Hội
đáp: “Hễ chúa sáng dùng hiếu từ dạy đời, thì chim đỏ
bay đến và sao người già hiện ra, dùng nhân đức nuôi vật
thì suối ngọt chảy và mầm tốt mọc. Lành đã có điềm,
thì ác cũng thế. Cho nên, làm ác nơi kín thì quỉ bắt giết
đi, làm ác nơi rõ thì người bắt giết đi. Dịch nói: ‘Chứa
lành vui còn’. Thi khen: ‘Cầu phước không sai”. Tuy là cách
ngôn của sách nho, cũng là minh huấn của Phật giáo”. Hạo
nói: “Nếu vậy, thì Chu Khổng đã rõ, còn dùng gì đến
Phật giáo?” Hội đáp: “Lời nói của Chu Khổng bày sơ
dấu gần. Còn lời dạy của Thích Ca thì đầy đủ tới chỗ
u vi. Cho nên, làm ác thì có địa ngục khổ mãi, tu thiện
thì có thiên đường sướng luôn. Đem điều đó ra làm rõ
việc khuyến thiện ngăn ác, là không vĩ đại ư !” Hạo
bấy giờ không có câu gì để bắt bẻ lời Hội. Hạo tuy
nghe chính pháp, mà tính hôn bạo, không thắng được sự hà
ngược. Sau sai lính túc vệ vào hậu cung làm vườn, đào đất
được một tượng vàng đứng cao mấy thước, đem trình Hạo.
Hạo sai đem để chỗ bất tịnh, lấy nước dơ tưới lên,
cùng quần thần cười, cho đó là vui[68][68]. Trong khoảnh khắc,
cả mình sưng to, chỗ kín càng đau, gào kêu tới trời. Thái
sử bốc quẻ nói: “Phạm phải một vị thần lớn”. Bèn
cầu đảo các miếu vẫn không thuyên giảm. Thể nữ, trước
có người theo đạo Phật, nhân đó hỏi: “Bệ hạ đã đến
chùa Phật cầu phước chưa?”. Hạo ngẩng đầu hỏi: "Phật
là thần lớn ư?"[69][69]. Thể nữ thưa: "Phật là thần lớn".
Lòng Hạo hiểu ra, nói hết ý mình. Thể nữ liền nghênh tượng
đặt trên điện vua, lấy nước thơm rửa qua mấy chục lần,
rồi đốt hương sám hối. Hạo cúi đầu trên gối, tự kể
tội mình, khoảnh khắc bớt đau, sai sứ đến chùa, hỏi thăm
nhà sư, mời Hội thuyết pháp.
Hội
liền theo vào, Hạo hỏi hết nguyên do của tội phước. Hội
bèn trình bày cặn kẽ, lời rất tinh yếu. Hạo vốn có tài
hiểu biết, hớn hở rất vui, nhân đó xin xem giới luật của
sa môn. Hội cho giới văn cấm bí, không thể khinh truyền,
nên lấy một trăm ba mươi lăm nguyện của kinh Bản nghiệp
chia ra làm 250 điều, đi đứng nằm ngồi, đều cầu nguyện
cho chúng sinh. Hạo đọc thấy lời nguyện thương rộng khắp,
càng thêm lòng lành, liền đến Hội thọ năm giới. Mười
ngày bệnh lành. Hạo bèn ở chỗ Hội trú sửa sang làm đẹp
thêm, ra lịnh cho tôn thất, không ai là không phụng thờ[70][70].
Hội
ở triều Ngô, giảng nói chính pháp, nhưng tính Hạo hung cạn,
không hiểu nghĩa mầu, nên chỉ mô tả việc gần báo ứng,
để mở lòng Hạo. Hội ở chùa Kiến Sơ, dịch các kinh, đó
là A Nan niệm di, Kính diện vương, Sát vi vương, Phạm
hoàng. Lại dịch các kinh Tiểu phẩm, Lục độ tập, Tạp
thí dụ, cũng khéo được thể kinh, lời ý chính xác. Lại
truyền bài Nê hoàn bối, réo rắt trầm buồn, làm mẫu mực
cho một thời đại. Lại chú thích ba kinh An ban thủ ý, Pháp
kính và Đạo thọ, cùng viết lời tựa cho các kinh ấy, lời
lẽ vừa đẹp, ý chỉ vi diệu, cũng thấy ở đời.
Đến
tháng 4 năm Thiên Kỷ thứ tư (280), Hạo hàng nhà Tấn. Tháng
9 Hội mắc bệnh rồi mất. Năm ấy là năm Thái Khương thứ
nhất nhà Tấn.
Đến
khoảng năm Hàm Hòa (326) vua Tấn Thành đế, Tô Tuấn làm loạn,
đốt tháp do Hội dựng. Tư Không Hà Sung lại sửa dựng lại.
Bình tây tướng quân Triệu Dụ, mấy đời không thờ Phật,
ngạo mạn Tam bảo, đến chùa đó, gọi các sư nói: “Từ
lâu nghe nói tháp này nhiều lần phóng ra ánh sáng, hư đản
dị thường, nên chưa thể tin. Nếu được tự mình thấy
thì chả phải bàn luận gì nữa”. Mới nói xong, tháp liền
phóng ra ánh sáng ngũ sắc, rọi tỏ cả chùa. Dụ ngạc nhiên
rởn tóc gáy, do thế mà tin kính, nên ở phía đông chùa, lại
dựng thêm một tháp nhỏ, ấy xa là do thần cảm của đấng
Đại thánh, và gần là do sức của Khương Hội. Cho nên, vẽ
hình tượng Hội, truyền cho đến nay. Tôn Xước làm bài tán
cho bức tranh nói:
Ông
Hội hiu hắt
Thật
bậc linh chất
Lòng
không cận lụy
Tình
có dư dật
Đêm
tối này dạy
Đám
tội kia vớt
Lừng
lững đi xa
Cao
vời nổi bật
Có
ký nói Tôn Hạo đập thử xá lợi, cho không phải việc của
Quyền. Tôi xét Hạo khi sắp phá chùa, quần thần đều đáp:
“Khương Hội cảm thụy, Thái hoàng lập chùa”. thì biết
việc cảm xá lợi xưa là phải ở vào thời Tôn Quyền. Cho
nên, truyện ký của một số nhà đều nói: "Tôn Quyền cảm
Xá lợi ở cung Ngô". Sau đó mới thử sự thần nghiệm. Có
người mới đem gán cho Hạo vậy.