B
BẢN DỊCH LÝ HOẶC LUẬN
Lý
hoặc của Mâu Tử, một thuyết nói
Truyện
Thái thú quận Thương Ngô Mâu Tử Bác.
Mâu
Tử đã học kinh truyện, sách chư tử không kể lớn nhỏ,
không gì là không ham. Tuy không ưa binh pháp, nhưng cũng vẫn
đọc. Tuy đọc sách thần tiên bất tử, dẹp đi không tin,
cho là dối trá. Lúc ấy sau khi Linh đế băng (189), thiên hạ
nhiễu loạn, chỉ Giao Châu tạm yên. Dị nhân phương Bắc
kéo nhau đến ở, phần nhiều thực hành thuật thần tiên
tịch cốc trường sinh. Người bây giờ có nhiều học giả.
Mâu Tử thường đem ngũ kinh gạn hỏi. Đạo gia thuật sỹ
không ai dám đáp, ví ông với Mạnh Kha chống Dương Chu, Mạc
Địch.
Trước
lúc ấy, Mâu Tử dắt mẹ lánh nạn Giao Châu. Năm 26 tuổi
về Thương Ngô lấy vợ. Thái thú nghe tiếng có họ, đến
thăm mời ra làm quan. Bấy giờ tuổi mới trưởng thành, chí
chuyên học vấn, lại thấy đời loạn, không có ý làm quan,
nên bèn không đến. Lúc ấy châu quận nghi nhau, cách trở
không thông. Thái thú thấy ông học rộng, biết nhiều, nhờ
đi “trí kỉnh” Kinh Châu. Mâu Tử nghĩ tước lộc dễ nhượng,
sứ mệnh khó từ, ông mới sửa soạn ra đi. Gặp lúc châu
mục trọng văn đãi sĩ, bổ làm quan. Ông lại cáo bệnh không
đến. Em châu mục làm thái thú Dự Chương bị trung lang tướng
Trức Dung giết. Bấy giờ châu mục sai kỵ đô úy Lưu Ngạn
đem quân đi đánh song sợ cõi ngoài nghi nhau, quân không được
tiến. Châu mục mới mời Mâu Tử, nói: “Em tôi bị nghịch
tặc ám hại. Nỗi đau cốt nhục uất phát tim gan, phải sai
Lưu đô úy đi, song sợ cõi ngoài nghi kỵ, người đi không
thông. Ông văn võ gồm đủ, có tài chuyên đối, nay muốn
giúp nhau, mượn đường Linh Lăng, Quế Dương để làm thông
lộ, thế nào?”
Mâu
Tử đáp: “Chịu ơn nhờ nghĩa, đãi ngộ lâu ngày. Liệt
sĩ quên mình, hẹn tất phải đi!” Bèn sửa soạn lên đường,
gặp lúc mẹ mất đột ngột, bèn không đi được. Lâu sau
đó, ông rút lui, nghĩ rằng: “Vì do thông giỏi, được giao
sứ mệnh. Đời nay nhiễu nhương, chẳng phải lúc làm rõ
mình”. Bèn thở dài, nói: “Lão Tử dứt thánh bỏ trí sửa
thân giữ chân. Vạn vật không ngăn chí ông, thiên hạ không
đổi niềm vui của ông, thiên tử không được bầy tôi, chư
hầu không được kết bạn, nên có thể là quý”. Từ đó
dốc chí vào đạo Phật, gồm ngẫm Lão Tử năm ngàn chữ,
ngậm huyền diệu làm rượu ngon, xem ngũ kinh làm đàn sáo.
Bọn thế tục nhiều kẻ cho là không phải, vì đã phản bội
ngũ kinh, để đi về đạo khác. Muốn cãi thì không phải
đạo, muốn im thì không được. Bèn lấy bút mực, gọi dẫn
lời thánh hiền để chứng giải, đặt tên là Mâu Tử lý
hoặc.
(1).
Có người hỏi: - Phật từ đâu sinh ra? Có tổ tiên và làng
nước gì không? Đã làm được gì, giống loại người nào?
Mâu
Tử đáp: - Giàu thay câu hỏi! Xin đem dốt nát nói qua điểm
chính.
Bởi
nghe công trạng giáo hóa của Phật, tích chứa đạo đức,
hàng ngàn ức đời, không sao ghi chép. Nhưng khi sắp thành
Phật, thì sinh ở Thiên Trúc, mượn hình nơi vợ vua Bạch
Tĩnh. Bà ngủ ngày, mộng thấy cưỡi voi trắng, thân có sáu
ngà, hớn hở thích thú, bèn xúc cảm mà có thai. Đến tháng
tư mồng tám, Phật theo sườn bên phải của mẹ mà sinh, đặt
chân xuống đất, đi bảy bước giơ tay phải lên, nói: “Trên
trời dưới trời không có gì hơn Ta!”. Bấy giờ trời đất
rung mạnh, trong cung sáng ngời. Hôm ấy, người ở cung vua
cũng sinh ra một đứa con trong tầu ngựa trắng, cũng cho ngựa
con bú; đầy tớ tên Xa Nặc, ngựa tên là Kiền Trắc. Vua
thường sai theo thái tử. Thái tử có 32 tướng tốt, 80 vẻ
đẹp, mình cao trượng sáu, thân đều sắc vàng, đỉnh đầu
có nhục kế, má như sư tử, lưỡi che được mặt, tay có
ngàn xoáy, cổ sáng chiếu vạn dặm. Đấy là nói qua tướng
Phật. Năm mười bảy tuổi, vua cha bắt lấy công chúa nước
láng giềng làm vợ. Thái tử ngồi thì dời chỗ, nằm thì
riêng giường. Đạo trời rộng sáng mà âm dương thông đồng.
Bà có mang con trai, sáu năm mới sinh. Vua cha trân quí thái tử,
dựng cho cung điện kỹ nữ, đồ chơi châu báu, đều bày
trước mắt. Thái tử không ham thú vui ở đời, muốn giữ
đạo đức. Năm 19 tuổi, ngày tám tháng tư, nửa đêm gọi
Xa Nặc đóng yên Kiền Trắc vượt thành. Quỉ thần nâng đỡ,
bay ra khỏi cung. Hôm sau bỗng nhiên không biết ở đâu. Vua
cùng quan dân thảy đều sụt sùi, đuổi tới cánh đồng.
Vua bảo: “Khi chưa có con, cha cầu xin Thần, nay đã có con,
như ngọc như trân, nên nối ngôi tước, chứ bỏ đi đâu?”
Thái
tử tâu: “Muôn vật vô thường, có rồi phải mất. Nay muốn
học đạo, độ thoát mười phương”.
Vua
biết thái tử đã kiên quyết, bèn đứng lên về. Thái tử
đi thẳng, suy tư về đạo, sáu năm thì thành Phật. Sở dĩ
Ngài sinh vào tháng tư mùa hạ, đó là lúc không nóng không
lạnh, cây cỏ đơm hoa, cởi áo lông chồn, mặc áo thưa mỏng,
là tiết trung lữ vậy. Sở dĩ Phật sinh ở Thiên Trúc là
chỗ trung hòa trong trời đất vậy. Kinh do Phật viết gồm
đến 12 bộ hợp tám ức bốn ngàn vạn quyển. Quyển lớn
vạn lời trở xuống, quyển nhỏ ngàn lời trở lên. Phật
dạy thiên hạ, cứu vớt giải thoát nhân dân. Nhân ngày 15
tháng 2 nhập tịch mà đi. Kinh điển và giới luật tiếp tục
tồn tại, noi theo mà làm, cũng đạt vô vi, phúc đến đời
sau. Kẻ giữ năm giới, một tháng sáu ngày trai; ngày trai giới
thì chuyên tâm vào một ý, hối lỗi mà tự đổi mới. Sa
môn giữ 250 giới, hàng ngày trai giới, Giới ấy không phải
cho ưu bà tắc được nghe vậy. Oai nghi đi đứng cùng điển
lễ ngày xưa không khác. Suốt ngày thâu đêm giảng đạo tụng
kinh, không tham dự việc đời.
Lão
Tử nói: “Đức lớn chứa dung, chỉ đạo theo về”. Ý đó
là vậy.
(2)
Hỏi: Sao chính gọi là Phật? Phật có nghĩa gì?
Mâu
Tử đáp: - Phật là hiệu thụy vậy, như gọi ba vua thần,
năm đế thánh. Phật là nguyên tổ của đạo đức, đầu
mối của thần minh. Nói Phật nghĩa là giác, biến hóa nhanh
chóng, phân thân tán thể, hoặc còn hoặc mất, nhỏ được
lớn đươ
c,
tròn được vuông được, già được trẻ được, ẩn được
hiện được, đạp lửa không bỏng, đi dao không đau, ở dơ
không bẩn, gặp họa không mắc, muốn đi thì bay, ngồi thì
lóe sáng, nên gọi là Phật vậy.
(3)
Hỏi: - Sao gọi là Đạo? Đạo ấy giống như cái gì?
Mâu
Tử đáp: - Đạo là nói dắt dẫn vậy, dắt dẫn người đến
chỗ vô vi. Dắt không có đàng trước, dẫn không có đàng
sau. Giơ lên không có trên, đè xuống không có dưới. Nhìn
không có hình, nghe không có tiếng. Bốn phương là lớn, nó
vượt ra ngoài, tơ hào là nhỏ, nó lọt vào trong. Vì thế
gọi Đạo.
(4)
Hỏi: - Khổng Tử lấy ngũ kinh làm đạo giáo, có thể cầm
mà đọc, nói mà làm. Nay ông nói Đạo hư vô nhanh chóng không
thấy được ý, không chỉ được việc, sao khác với lời
của thánh nhân thế?
Mâu
Tử đáp: - Không thể lấy tập quen làm trọng, ít thấy làm
khinh, mê ở vật ngoài mà hỏng ở trong lòng. Xây sự nghiệp
không bỏ đạo đức cũng như so dây đàn không bỏ cung thương.
Đạo trời khuôn theo bốn mùa, đạo người khuôn theo năm
thường. Lão Tử viết: “Có vật hỗn thành, sinh trước trời
đất, có thể làm mẹ thiên hạ. Ta không biết tên nó, gượng
đặt chữ gọi là Đạo”. Đạo làm ra muôn vật, ở nhà
có thể dùng thờ cha mẹ, làm chủ nước có thể dùng trị
dân, đứng một mình có thể dùng sửa thân. Noi theo mà làm
thì đầy cả trời đất, bỏ mà không dùng thì mất mà không
dời. Ông không hiểu được, có chi là lạ?
(5)
Hỏi: - Kìa thật lắm thì không hoa mỹ, văn hay thì không điểm
tô, lời gọn mà đạt ý là đẹp, việc ít mà hiểu được
là sáng. Cho nên châu ngọc ít mà quí, ngói gạch nhiều mà
khinh. Thánh nhân chế ra bảy bộ kinh, chẳng qua ba vạn lời
mà mọi việc đầy đủ. Nay kinh Phật, quyển số kể đến
vạn, lời đếm tới triệu, không phải sức một người có
thể kham nổi. Tôi cho là phiền phức mà không thiết yếu.
Mâu
Tử đáp: - Sông biển sở dĩ khác với kênh rạch là vì chúng
sâu rộng. Ngũ nhạc sở dĩ khác với gò đống là vì chúng
cao. Nếu cao không khỏi núi đồi thì dê què dầy xéo ngọn
đỉnh, sâu không hơn ngòi rạch thì trẻ con bơi tắm giữa
dòng. Kỳ lân không ở trong vườn cảnh, cá kình nuốt thuyền
không bơi ở khe nước vài tầm sâu. Mổ con trai ba tất tìm
hạt châu minh nguyệt, dò cái tổ gai bưởi tìm chim non phượng
hoàng, ắt khó mà được. Tại sao? Nhỏ không chứa được
lớn vậy. Kinh Phật trước nói sự việc hàng ức năm lại
dạy yếu lý của muôn đời. Thái tổ chưa nổi, thái thỉ
chưa sinh, trời đất mới dựng, nhỏ không thể nắm, bé không
thể vào, thì Phật đã bao trùm bên ngoài sự rộng lớn, đã
chia chẻ sự bé nhỏ bên trong, chẳng chi là không ghi chép.
Cho nên, kinh quyển kể hàng vạn, lời đếm hàng ức, càng
nhiều càng đủ, càng lắm càng giàu. Có chi là không thiết
yếu? Tuy một người không kham nổi, ví như đến sông uống
nước, uống no tự đủ, đâu còn biết chỗ thừa ư?
(6)
Hỏi: - Kinh Phật nhiều quá, muốn được chỗ thiết yếu
mà bỏ điều thừa, nói thẳng vào chỗ thiết thực mà trừ
bỏ điều hoa mỹ.
Mâu
Tử đáp: - Không được! Kìa trời trăng, đều sáng, mỗi
có chỗ chiếu; hai mươi tám vì sao, mỗi ngôi có chỗ chủ
của nó. Trăm vị thuốc đều sinh ra, mỗi vị có chỗ chữa
của nó. Lông chồn chống lạnh, vải thưa ngăn nóng, xe thuyền
khác đường, đều để người đi, Khổng Tử không cho năm
kinh là đủ, lại viết Xuân thu, Hiếu kinh là muốn mở rộng
đạo thuật, thỏa mãn lòng người vậy. Kinh Phật tuy nhiều,
đều qui về một mối, cũng như bảy kinh tuy khác, việc quí
đạo đức nhân nghĩa cũng là một. Đạo hiếu sở dĩ nói
nhiều là tùy người làm mà dạy bảo. Như Tử Trương, Tử
Du đều hỏi về chữ hiếu, mà Trọng Ni đáp mỗi người
một khác, ấy vì đánh vào sở đoản của họ, Có chi phải
bỏ đi đâu?
(7)
Hỏi: - Đạo Phật rất cao, rất lớn, sao Nghiêu, Thuấn, Châu,
Khổng không học, trong bảy kinh không thấy nói đến? Ông
đã ham Thi, Thư, thích Lễ, Nhạc, sao lại chuộng đạo Phật,
ưa thuật khác? Phải chăng nó có thể vượt qua kinh truyện,
đẹp hơn sự nghiệp của thánh nhân chăng? Thiết nghĩ vì
chúng tôi, ông không làm thế.
Mâu
Tử đáp: - Sách không là lời Khổng Khâu. Thuốc không là
phương Biển Thước. Điều hợp nghĩa thì theo, thuốc khỏi
bệnh là tốt. Người quân tử rộng nhận tất cả điều
thiện để giúp cho thân. Tử Cống hỏi: “Phu tử thường
có thầy nào?” (Đáp): “Nghiêu thờ Doãn Thọ, Thuấn
thờ Vụ Thành, Đán học Lã Vọng, Khưu học Lão Đam”. Những
điều ấy cũng đều không thấy ở bảy kinh. Bốn vị thầy
trên tuy là thánh, so với Phật thì khác gì hươu trắng với
kỳ lân, chim én với phượng hoàng. Nghiêu, Thuấn, Châu, Khổng
còn phải học. Huống thân Phật tướng tốt, sức thần biến
hóa khó sánh, thì làm sao có thể bỏ mà không học? Sự việc
có nghĩa lý trong ngũ kinh, hoặc có chỗ thiếu, nên không thấy
ghi chép về Phật, thì có gì đáng lấy làm lạ?
(8)
Hỏi: - Bảo Phật có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, sao mà khác
người đến thế? E rằng đấy là lời bùi tai, mà không phải
sự thật.
Mâu
Tử đáp: - Tục ngữ nói: Thấy ít, lạ nhiều. Nhìn con lạc
đà bảo là ngựa gù lưng. Nghiêu mi tám sắc, Thuấn mắt hai
tròng, Cao Dao mỏ quạ. Văn vương bốn vú, Vũ tai ba lỗ, Chu
Công lưng gù, Phục Hy mũi rồng, Trọng Ni đầu bằng, Lão
Tử trán gồ, mắt xếch, mũi có hai sống, tay cầm mười xoáy,
chân đạp mười xoáy, như thế chẳng khác người sao?
Tướng tốt của Phật có chi đáng để nghi ngờ?
(9)
Hỏi: - Hiếu kinh nói: “Thân thể, tóc da nhận từ cha mẹ
không dám hủy thương” - Tăng Tử lúc sắp mất, bảo: “Kéo
tay ra, duỗi chân ra!” Nay sa môn cắt tóc, sao trái với lời
dạy của thánh nhân, không hợp với đạo người con hiếu.
Ông thường ưa luận phải trái, bàn thẳng cong, mà đi ngược
điều thiện hay sao?
Mâu
Tử đáp: - Kìa chê thánh hiền là bất nhân, bàn không trúng
là bất trí. Bất nhân, bất trí, lấy chi để gầy đức.
Đức không gầy là bọn ương ngu vậy. Sao mà bàn luận giản
dị thế? Xưa người nước Tề đi thuyền sang sông. Người
cha ngã xuống nước, người con xách tay, chúc đầu chổng
ngược để cho nước ở miệng ra mà mạng cha được sống.
Kìa chúc đầu lộn ngược cha, còn gì bất hiếu bằng. Nhưng
để bảo toàn thân thể cha, nếu khoanh tay giữ đạo con hiếu
thông thường thì mạng cha chết mất dưới nước.
Khổng
Tử nói: “Có thể cùng theo đạo, nhưng chưa có cùng quyền
biến”. Đó gọi là Tùy thời mà làm vậy. Vả lại, Hiếu
kinh nói: “Tiên vương có chí đức, có yếu đạo”. Mà Thái
Bá cắt tóc, vẽ mình, tự theo tục của Ngô việt, trái với
nghĩa thân thể tóc da. Vậy mà, Khổng Tử ca tụng, cho có
thể gọi là chí đức. Trọng Ni không cho cắt tóc, mà chê
bai. Do thế mà thấy nếu có đức lớn thì không câu nệ vào
tiểu tiết. Sa môn vứt gia sản, bỏ vợ con, không nghe đàn,
không nhìn sắc, có thể bảo là đã nhường hết thì sao lại
trái với lời thánh không hợp đạo hiếu?
Dự
Nhượng nuốt than, sơn mình, Nhiếp Chính lột mặt, tự vẫn.
Bá Cơ dẫm lửa, Hạnh Cao cắt mặt. Quân tử cho là dũng và
chết vì nghĩa, không nghe ai chê là tự hủy chết. Sa môn cắt
bỏ râu tóc, so với bốn người trên, không xa chi mấy.
(10)
Hỏi: - Kìa phúc không gì hơn là nối dõi, bất hiếu không
gì hơn là không có con trai. Sa môn bỏ vợ con, vất của cải,
có người suốt đời không lấy vợ, sao mà trái với hạnh
phúc đức và hiếu tử như thế? Tự khổ mình mà không có
chi là kỳ, tự cực mình mà không có chi là lạ cả!
Mâu
Tử đáp: - Kìa bên trái dài, thì bên phải ngắn, đằng trước
lớn ắt đàng sau hẹp. Mạnh Công Xước làm ông già nước
Triệu, nước Ngụy, thì tốt chứ không thể lấy làm đại
phu cho nước Đằng, nước Tiết. Vợ con, tài sản là vật
thừa ở đời, thân sạch vô vi là huyền diệu của Đạo
vậy.
Lão
Tử nói: “Danh tiếng với thân mệnh, cái nào thân thiết
hơn? Thân mệnh với của cải, cái nào quí hơn?” Lại nói:
“Xem di phong của ba đời; ngắm đạo thuật của Nho, Mặc,
đọc thi, thư, sửa lễ tiết, chuộng nhân nghĩa, nhìn trong
sạch, người trong làng truyền lại sự nghiệp, danh dự lừng
lẫy, đấy là việc làm của hạng sĩ bậc trung. Người điềm
đạm không để ý đến. Cho nên trước mặt có hạt châu
tùy, sau lưng có con cọp gầm, thấy mà bỏ chạy không dám
lấy, tại sao? Vì mệnh sống trước đã, rồi sau mới đến
lợi vậy. Hứa Do làm tổ ở trên cây, Di Tề chết đói ở
Thủ Dương, Thuấn, Khổng ca ngợi là bậc hiền, nói: Cầu
đạo nhân được đạo nhân vậy”. Chưa từng nghe thấy chê
là không có nối giòng, không có của cải. Sa môn tu đạo
đức để đổi niềm vui của đời phù du, về thục hiền
để thay cho nỗi sướng vợ con. Như thế mà không lạ, còn
chi là lạ? Như thế mà không khác, còn chi là khác?
(11)
Hỏi: - Hoàng đế truyền xiêm áo chế phục sức. Cơ Tử bày
Hồng phạm, dáng vẻ đứng đầu năm việc. Khổng Tử viết
Hiếu kinh, phục sức đứng đầu ba đức. Lại nói: “Chỉnh
đốn mũ áo, tôn nghiêm ngắm nhìn”. Nguyên Hiến tuy nghèo,
không rời mũ Hán. Tử Lộ gặp nạn, không quên tết giải
mũ. Nay sa môn đầu cắt tóc, mặc vải đỏ, thấy người
thì, không có lễ nghi quì đứng, không có vẻ mặt săn đón,
sao mà trái với chế độ ăn mặc dáng vẻ, ngược với phục
sức của cân đai đến thế?
Mâu
Tử đáp: - Lão Tử nói:“Đức cao không khoe đức, nên mới
có đức, đức thấp không mất đức, nên mới không đức”.
Thời Ba vua ăn thịt sống, mặc áo da, ở tổ, ổ lỗ, vì
chuộng chất phác. Há lại cần mũ chương phủ, áo khúc cừu
sao? Vậy mà người ta ca ngợi là có đức mà đôn hậu, đáng
tin mà vô vị. Hạnh sa môn cũng tương tự thế đấy!
Hỏi:
- Như lời ông nói, bọn Hoàng đế, Nghiêu, Thuấn. Châu, Khổng
là đáng bỏ, không đủ dùng làm khuôn phép?
Mâu
Tử đáp: - Hễ thấy rộng thì không lạc, nghe thông thì không
lầm. Nghiêu, Thuấn, Châu, Khổng tu sửa cuộc đời, còn Phật
và Lão chí nhằm vô vi. Trọng Ni bôn ba hơn bảy mươi nước.
Hứa Do nghe nói nhường ngôi thì rửa tai ở vực. Đạo người
quân tử, hoặc ra hoặc ở, hoặc im hoặc nói, không buông
lòng mình, không thả tính mình. Cho nên, đạo quí ở chỗ
ứng dụng, sao có sự bỏ đi?
(12)
Hỏi: - Đạo Phật nói người ta chết thì lại sinh lại, tôi
không tin điều ấy đúng như thế?
Mâu
Tử đáp: - Người đến lúc chết, người thân trèo lên nóc
nhà mà gọi. Chết rồi còn gọi ai? Bảo là gọi hồn phách
nó! Mâu Tử bảo: “Thần hồn trở lại thì sống, không trở
lại, thần hồn đi đâu?”
- Thưa
là thành quỉ thần!
Mâu
Tử nói: - Chính thế, thần hồn vốn không diệt vậy, chỉ
thân thể tự hư nát. Thân ví như rễ lá của ngũ cốc, thần
hồn như hạt giống của ngũ cốc; rễ lá sinh ra ắt phải
chết, hạt giống há có chung cục ư? Đắc đạo thì thân
diệt vậy.
Lão
Tử nói: “Ta sở dĩ có cái lo lớn là vì ta có thân, nếu
như không có thân, ta còn gì đáng lo”. Lại nói: “Công thành
thì thân thoái, đó là đạo trời”. Có người nói:“Theo
đạo cũng chết, không theo cũng chết, có khác nhau chi?”
Mâu
Tử nói: Đấy gọi là không một ngày làm điều thiện, mà
đòi tiếng khen suốt đời. Người có đạo dầu chết nhưng
thần hồn về cõi phúc, kẻ làm ác chết đi thì thần hồn
mang họa. Người ngu mờ ám ở chỗ việc thành, người hiền
trí tính trước khi chưa manh nha. Có đạo với không có đạo
ví như vàng với cỏ, thiện với họa, như trắng với đen,
sao không khác nhau mà còn hỏi có khác nhau không?
(13)
Hỏi: - Khổng Tử nói “Chưa thể thờ người, làm sao có
thể thờ quỉ; chưa biết sự sống làm sao biết được cái
chết”. Đấy là điều thánh nhân không bao giờ đề cập
tới. Nay nhà Phật luôn luôn thuyết về việc sống chết,
chuyện quỉ thần, e rằng không phải lời nói của thánh triết
vậy. Kìa kẻ sống đạo, nên hư vô đạm bạc, qui chí về
chất phác. Sao còn nói lẽ sống chết làm chi để rối loạn
ý chí, thuyết về quỉ thần là việc thừa vậy.
Mâu
Tử đáp: - Như lời ông nói, đó gọi là thấy bên ngoài chưa
biết bên trong vậy. Khổng Tử ghét Tử Lộ không hỏi gốc
ngọn, nên đem điều đó ra mà dẹp đi. Hiếu kinh nói: “Làm
tôn miếu để cúng quỉ thần, tế lễ hai mùa xuân thu để
nghĩ đến theo thời tiết”. Lại nói: “Khi sống thờ bằng
kính yêu, khi chết thờ bằng thương nhớ”. Há chẳng phải
là dạy người thờ quỉ thần, biết lẽ sống chết đấy
ư? Chu công vì Vũ vương cầu sinh mệnh, nói: “Đán này nhiều
tài nhiều nghề, có thể thờ đươ
c quỉ
thần”. Kìa thế làm gì vậy? Kinh Phật thuyết về lý sống
chết chẳng phải cùng loại như thế ư? Lão Tử nói:
“Biết là con lại quay về giữ lấy mẹ thì trọn đời không
nguy hại”. Lại nói: “Dùng ánh lửa quay về nguồn sáng
của nó, không để tai ương cho thân”. Đó là nói về ý
nghĩa của đạo sống chết, mục đích của điều lành điều
dữ. Điểm thiết yếu của đạo tối cao, thực quí ở sự
yên lặng. Nhà Phật há ham nói nhiều ư? Có kẻ đến hỏi
không thể không đáp. Chuông trống há có tự kêu, đánh vào
mới có tiếng vậy.
(14)
Hỏi: - Khổng Tử nói: “Mọi rợ có vua không bằng các nước
Hạ mất vua”. Mạnh Tử chê Trần Tương học cái thuật của
Hứa Hành, nói: “Ta nghe dùng Hạ để biến cải man di, chưa
từng nghe dùng man di để biến cải Hạ”. Ông từ nhỏ học
đạo Nghiêu, Thuấn, Châu, Khổng mà ngày nay bỏ đi học cái
thuật của man mọi, chẳng đã lầm rồi sao?
Mâu
Tử đáp: - Đó là lời thừa khi tôi chưa hiểu đạo lớn
vậy. Như ông có thể gọi là thấy vẻ đẹp của lễ chế
mà không biết thực chất của đạo đức, thấy đuốc sáng,
mà chưa thấy mặt trời giữa trưa. Lời nói của Khổng Tử
là để uốn ngay phép đời vậy. Mạnh Kha nói vì ghét sự
chuyên nhất thôi. Xưa Khổng Tử muốn ở nơi chín mọi, nói
rằng: “Người quân tử ở đây thì có chi là thối nát?”
Đến khi Trọng Ni không được dung thân ở nước Lỗ, nước
Vệ. Mạnh Kha không được dùng ở nước Tề nước Lương,
há các ngài lại làm kẻ sĩ ở nơi man mọi hay sao? Vũ đi
ra từ Tây Khương mà thành thánh triết. Cổ Tẩu sinh vua Thuấn
mà ương ngu. Do Dư sinh ở Địch mà làm cho nước Tần bá
chủ. Quản Thúc Tiên và Sái Thúc Độ từ đất Hà Lạc mà
nói phản loạn. (Tả) truyện nói: “Sao phương Bắc ở trên
trời là chính giữa, ở tại người là phương Bắc”. Lấy
đấy mà xem đất Hán chưa hẳn là trung tâm trời đất vậy.
Kinh Phật giảng dạy, trên dưới trùm khắp,loại vật hàm
huyết đều thuộc về Phật. Cho nên ta lại tôn kính mà học
lấy, sao bảo là phải bỏ cái đạo của Nghiêu, Thuấn, Châu,
Khổng, Vàng với ngọc không tổn thương lẫn nhau. Châu tùy
và ngọc bích không hại lẫn nhau. Bảo người ta lầm khi chính
tự mình lầm vậy.
(15)
Hỏi: - Lấy của cải của cha, đem cho người đi đường,
không thể gọi là huệ. Cha mẹ còn sống mà tự chết thay
người, không thể gọi là nhân. Nay kinh Phật nói thái tử
Tu Đại Noa đem của cải của cha bố thí cho người xa, lấy
voi quí của nước đem cho kẻ thù oán, vợ con tự đem cho
người khác. Không kính trọng cha mẹ mình mà kính trọng người
khác thì gọi là trái lễ, không yêu mến cha mẹ mà yêu mến
người khác thì gọi là trái đức. Tu Đại Noa bất nhân,
bất hiếu mà nhà Phật tôn lên, há chẳng lạ thay?
Mâu
Tử đáp: - Nghĩa của năm kinh là lập đích làm trưởng. Thái
vương thấy chí của Xương, bèn đổi con thứ làm con trưởng
mà nên cơ nghiệp nhà Chu để đến thái bình. Đúng nghĩa
lấy vợ phải trình cha mẹ, Thuấn lấy vợ không trình mà
nên đạo lớn. Hạng sĩ chân chính chờ được mời, bậc
tôi hiền chờ vua triệu. Thế mà Y Doãn cõng vạc đến Thang,
Ninh Thích gõ sừng xin giúp nước Tề. Thang nhờ thế làm vua,
Tề nhờ đấy làm bá. Theo lễ thì trai gái không được gần
trao. Chị dâu chết đuối thì chìa tay kéo lên, vì khẩn cấp
quyền biến vậy. Khi thấy việc lớn, không câu chấp điều
nhỏ, bậc đại nhân há nệ vào điều thường sao? Tu Đại
Noa thấy đời vô thường, tài sản không phải của riêng
mình, tự ý bố thí để thành đạo lớn. Nước của cha nhận
thêm phúc, giặc thù không vào được. Đến khi thành Phật,
cha mẹ anh em đều được độ khỏi thế gian, thế mà bảo
là bất hiếu, thế mà bảo là bất nhân thì ai là nhân hiếu
ư?
(16)
Hỏi: - Đạo Phật trọng vô vi, ưa bố thí, giữ giới đau
đáu như kẻ đi ven vực sâu. Nay sa môn đam mê rượu ngon,
có kẻ nuôi vợ con, mua rẻ bán đắt, chuyên làm dối trá.
Đấy là việc xấu lớn ở đời, mà đạo Phật gọi đó
là vô vi sao?
Mâu
Tử đáp: - Công Thâu có thể cho người ta búa rìu dây mực,
mà không thể khiến người ta khéo. Thánh nhân có thể dạy
đạo cho người, mà không thể bắt người ta noi theo mà làm.
Cao Dao có thể khép tội người ăn trộm, chứ không thể khiến
kẻ tham thành Bá Di, Thúc Tề. Năm hình phạt có thể trừng
phạt kẻ phạm tội, mà không thể khiến người con ác thành
Tăng. Mẫn, Nghiêu không thể hóa Đan Chu, Chu công không thể
dạy được Quản, Sái. Há lời dạy của Đường Ngu không
sáng tỏ, đạo lý của Chu công không hoàn bị sao? Nhưng không
làm gì được với kẻ ác là tại sao. Ví như người đời
học thông bảy kinh mà mê tiền tài và sắc đẹp, há bảo
rằng lục nghệ là tà dâm sao? Hà Bá tuy thần linh, nhưng không
thể làm cho người trên bộ chết đuối được. Gió thổi
tuy mạnh không thể khiến được nước sâu nổi cát bụi.
Nên lo người ta không thể hành đạo, há có thể bảo đạo
Phật là xấu hay sao?
(17)
Hỏi: - Khổng Tử bảo xa xỉ thì không khiêm tốn, kiệm ước
thì bền vững, Nếu như không khiêm tốn, thà rằng bền vững.
Thúc Tôn nói: “Kiệm ước là đức kính cẩn, xa xỉ là điều
ác lớn vậy”. Nay nhà Phật đem hết của bố thí làm danh
giá, vét hết hàng cho người làm quí trọng. Há có phúc ư?
Mâu
Tử đáp: - Kia một thời, đây một thời. Lời của Trọng
Ni ghét xa xỉ mà không có lễ. Luận điệu của Thúc Tôn là
chê trách cột nhà điêu khắc của Nghiêm công, chẳng phải
cấm bố thí vậy. Thuấn cày ruộng Lịch Sơn, ơn không đến
châu xóm. Thái công giết trâu, huệ không tới vợ con. Đến
khi được dùng, ơn tràn tám cõi, huệ ra bốn bể. Nhiều của
lắm hàng, quí ở chỗ cho biếu, nghèo khó bần hàn quí ở
chỗ giữ đạo. Hứa Do không kham bốn bể, Bá Di không thích
được nước. Ngu Khanh bớt phong ấp đi vạn nhà để cứu
cấp người khốn cùng. Mỗi người một chí hướng vậy.
Hy Phụ Ky có cái ơn một bình cơm mà bảo toàn được chỗ
ở. Tuyên Mạnh vì cho một bữa ăn mà cứu được thân mình.
Ngầm bố thí không để ý, sự báo đã rõ như ban ngày. Huống
chi đem cả gia tài, dấy lên ý thiện, thì công đức vòi vọi
như Tung Thái, mênh mông như sông bể vậy. Người nhớ điều
thiện thì đáp lại bằng vận may. Người giữ chuyện ác
thì trả lại bằng tai họa. Chưa có việc trồng lúa tẻ mà
được lúa mì, làm điều tai vạ, mà lượm được phúc lộc
vậy.
(18)
Hỏi: - Kìa việc làm không gì hơn lòng thành, nói chuyện không
gì hơn là nói điều thực. Lão Tử bỏ lời hoa sức, mà chuộng
câu chất phác. Kinh Phật dạy, không chỉ vào sự việc, chỉ
rộng dùng thí dụ. Thí dụ không phải yếu chỉ của đạo,
hợp khác làm giống thì không phải là huyền diệu của sự
việc. Tuy nhiều lời rộng tiếng cũng như ngọc vụn đầy
một xe, không lấy là báu vậy.
Mâu
Tử đáp: - Việc thường cùng thấy mới có thể bảo là thật.
Một kẻ thấy, một kẻ không thấy thì khó mà nói là thật
được. Xưa có người chưa thấy kỳ lân, hỏi kẻ thường
thấy: “Kỳ lân nó loài gì?” Người thấy bảo: “Kỳ lân
như loài kỳ lân vậy”. Người hỏi bảo: “Nếu tôi được
thấy kỳ lân thì đã không hỏi ông làm chi. Nay ông nói kỳ
lân như là kỳ lân, há có thể hiểu được ư?” Người
thấy bèn nói: “Con lân có thân mang, đuôi trâu, chân hươu,
lưng ngựa”. Người hỏi hiểu ngay.
Khổng
Tử nói: “Người không biết đến, mà không giận, chẳng
là quân tử ư?” Lão Tử nói: “Khoảng trời đất này ví
như ống bể chăng”. Lại nói: “Ví đạo với thiên hạ
như biển, sông đối với ngòi lạch”. Há lại hoa sức ư?
Luận
ngữ nói: “Lấy đạo đức làm chính trị ví như sao Bắc
Đẩu”. Ấy là dẫn trời để sánh với người vậy.
Tử
Hạ nói: “Ví như cây cỏ xếp thành khu để phân biệt vậy”.
Ba trăm thơ của Kinh thi, dẫn sự vật hợp theo loại. Từ
sấm vĩ của chư tử, yếu chỉ bí mật của thánh nhân, chẳng
ai là không dẫn dùng thí dụ. Ông riêng ghét kinh Phật lấy
thí dụ để thuyết pháp sao?
(19)
Hỏi: - Người ta ở đời chẳng ai là không ưa giàu sang mà
ghét nghèo hèn, vui nhân thủ mà sợ nhọc mệt. Hoàng đế
dưỡng tính, lấy đồ ăn chín làm hơn hết.
Khổng
Tử bảo: “Ăn không chê ít, nem không chê nhỏ”. Nay sa môn
mặc áo đỏ, ăn ngày một bữa, cấm sáu tình, tự dứt với
đời, như thế còn có nhờ gì?
Mâu
Tử đáp: - Giàu với sang là điều người ta mong muốn, nhưng
không lấy đạo đức mà được thì không nhận, nghèo với
hèn là điều người ta không ưa, nhưng không lấy đạo đức
để thay đổi được thì không bỏ. Lão Tử nói: “Năm màu
làm cho mắt người ta lòa, năm tiếng làm cho tai người ta
điếc, năm vị làm cho miệng người ta tê. rong ruổi đi săn
đi bẫy làm cho tinh thần người ta điên cuồng, của cải
khó được khiến cho người ta làm điều hại. Thánh nhân
vì tâm phúc không vì tai mắt”. Lời nói ấy há trống rỗng
sao? Liễu Hạ Huệ không vì chức tam công mà đổi hạnh mình.
Đoàn Cam Mộc không lấy thân mình đổi lấy sự giàu có của
Ngụy Văn. Hứa Do, Sào Phủ leo lên cây mà ở, tự cho yên
ổn hơn cung điện nhà vua. Di Tề nhịn đói ở Thủ Dương,
tự cho là no hơn Văn Vũ: Bởi vì ai nấy có được chí muốn
của mình mà thôi, sao bảo là không có gì để nhờ cậy?
(20)
Hỏi: - Nếu kinh Phật thâm thúy đẹp đẽ, sao ông không đem
bàn ở triều đình, luận với vua, cha, làm ở chốn vợ chồng,
thù tiếp với bạn bè, mà lại còn học kinh truyện, đọc
chư tử?
Mâu
Tử đáp: - Chưa đạt tới nguồn mà hỏi về dòng sông vậy.
Ôi! Bầy đồ thờ ở cửa lũy, trồng cờ xí ở miếu đường,
mặc lông chồn để cản nóng tháng tư, mặc vải thưa để
chống lạnh tháng chạp không phải là không đẹp mà trái
với chỗ của nó và chẳng phải lúc vậy. Cho nên đem thuật
Khổng Tử đi vào cửa Thương Ưởng, mang học thuyết Mạnh
Kha đến sân trường Tô, Trương công đã không được phân
tấc, mà lỗi thì sao thì cao trượng thước vậy. Lão Tử
nói: “Thượng sỹ nghe đạo thì chăm làm. Trung sĩ nghe đạo
thì như còn như mất, hạ sĩ nghe đạo thì cười vang”. Tôi
sợ cười vang nên không dám bàn vậy. Khát nước không chờ
đến sông cái mới uống, nước giếng suối sao không giải
khát được? Bởi thế nên lại xem học kinh truyện.
(21)
Hỏi: - Đất Hán bắt đầu nghe nói Phật giáo là từ đâu
ra?
Mâu
Tử đáp: - Xưa hoàng đế Hiếu Minh (58-74sdl) mộng thấy thần
nhân, thân có ánh sáng mặt trời bay vào trước điện, bèn
hớn hở mừng vui. Hôm sau rộng hỏi quần thần: “Đó là
thần gì?” Có thông nhân Phó Nghị nói: “Thần nghe Thiên
Trúc có người đắc đạo tên hiệu là Phật, bay trên không
trung, thân có tia sáng mặt trời. Có lẽ là vị thần ấy
vậy”. Do thế vua hiểu, sai trung lang Thái Hâm, vũ lâm lang
trung Tần Cảnh, bác sĩ đệ tử Vương Tuân, tất cả 18 người
đến xứ Đại Nguyệt Chi chép kinh Phật 42 chương, cất tại
gian 14 nhà đá Lan Đài. Bấy giờ bắt đầu xây chùa Phật
ở ngoài cửa Tây Ung thành Lạc Dương, trên tường vẽ ngàn
xe, vạn ngựa quanh tháp ba vòng. Lại ở Nam cung, đài Thanh
Lương và trên cửa thành Khai Dương tạo tượng Phật. Bấy
giờ, Minh đế định sửa xây thọ lăng, gọi là Hiển tiết,
cũng tạo tượng vẽ Phật lên trên. Thủa ấy nước giàu,
dân yên, mọi xa mộ nghĩa, kẻ học Phật do đấy mà nhiều
lên.
(22)
Hỏi: - Lão Tử bảo: “Kẻ biết không nói, kẻ nói không
biết”. Lai nói: “Giỏi nói như ngọng, giỏi làm như vụng”.
Quân tử lấy lời nói quá việc làm xấu hổ. Nếu sa môn
có chí đạo, sao không ngồi mà thực hành, sao còn bàn phải
trái, luận ngay cong? Tôi cho thế là giặc của đức hạnh
vậy.
Mâu
Tử đáp: - Xuân tới sẽ đói lớn, thu này nhịn ăn. Hoàng
chung (tháng chạp) sẽ lạnh, thì nhụy tân (tháng tư) chuẩn
bị áo cừu; dự bị tuy sớm, không khỏi là ngu. Lão Tử có
nói là để cho người đắc đạo vậy. Người chưa đắc
đạo biết thế nào được? Đạo lớn một lời, mà thiên
hạ vui lòng, phải đâu nhiều nơi ư? Lão Tử chẳng đã nói
đấy ư: “Công thành thì thân lui, ấy là đạo trời vậy”.
Thân đã lui rồi, lại còn nói gì? Nay sa môn chưa kịp đắc
đạo, sao không được nói? Lão Tử cũng còn nói nữa mà.
Nếu ông không nói thì năm ngàn lời trước thuật làm gì?
Nếu như biết mà không nói thì còn được. Đã không biết,
lại không thể nói, ấy là người ngu. Cho nên có thể nói
mà không thể làm, ấy là thầy của nước. Có thể làm mà
không thể nói ấy là dụng của nước. Có thể làm, có thể
nói ấy là báu của nước. Ba bậc ấy, mỗi đều có chỗ
dùng, có chi là giặc của đức hạnh? Chỉ có kẻ không biết
làm, không biết nói mới là giặc thôi.
(23)
Hỏi: - Như lời ông nói thì chỉ nên học biện luận, tập
ngôn từ, há còn tu tình tính, noi đạo đức ư?
Mâu
Tử đáp: - Có chi khó hiểu lắm đâu? Ôi! Ngôn ngữ đàm luận,
mỗi có thời của nó. Cừ Viên nói: “Nước có đạo thì
thẳng, nước vô đạo thì cuộn lại mà ấp ủ cho mình”.
Ninh Vũ tử nói: “Nước có đạo thì làm người hiểu biết,
nước không có đạo thì làm người ngu”. Khổng Tử nói:
“Với người có thể nói, mà không nói, thì mất người;
không thể nói mà cứ nói thì phí lời”. Cho nên, trí ngu
đều có thời, đàm luận mỗi có ý, làm sao lúc đáng nói
bàn ngôn luận mà không làm vậy?
(24)
Hỏi: - Tại sao đạo Phật rất cao rất hay, vô vi điềm đạm,
mà người đời học giả nhiều kẻ hủy báng, bảo thuyết
lý, văn từ nó khoác lác khó dùng, hư vô khó tin?
Mâu
Tử đáp: - Vị ngon không hợp cho nhiều miệng, tiếng hay không
vừa cho nhiều lỗ tai. Tấu Hàm trì, chơi Đại chương, nổi
Tiêu thiều, hát Cửu thanh, chẳng ai họa vào. Gióng dây đàn
Trịnh Vệ, ca tiếng ca thời tục, ắt không hẹn mà vẫn vỗ
tay theo. Cho nên, Tống Ngọc bảo: “Khách ca ở Dĩnh, hát khúc
Hạ lý thì người họa cả ngàn. Nhấn thương, thúc giốc
thì chẳng có ai đáp”. Đó là thích tiếng tà, mà không hiểu
nhạc bậc cao vậy. Hàn Phi tử đem cái thấy qua ống nhòm
để bài bác Nghiêu Thuấn. Tiếp Dư đem số phận tóc tơ để
châm chọc Trọng Ni. Ấy đều mê nhỏ mà bỏ lớn vậy. Ôi!
Nghe tiếng thương trong mà bảo là tiếng giốc, chẳng phải
lỗi của dây đàn, mà là kẻ nghe không hiểu vậy. Thấy ngọc
hòa mà bảo là đá, chẳng phải ngọc bích hèn, mà do người
xem không rõ. Rắn thần có thể đứt rồi lại nối, nhưng
không thể cấm người ta cắt đứt được. Rùa thiêng có
thể báo mộng cho vua Nguyên nước Tống, mà không thể thoát
được lưới của Dự Thư. Đạo lớn vô vi chẳng phải người
phàm thấy được. Không lấy khen làm quí, không lấy chê làm
hèn. Dùng hay không dùng là tự ở trời, làm hay không làm
là ở thời, tin hay không tin là ở mệnh vậy.
(25)
Hỏi: - Ông lấy kinh, truyện, để lý giải thuyết Phật, lời
nói phong phú mà ý nghĩa rõ ràng, văn chương sáng mà lý thuyết
đẹp, há không phải là ông không biện luận ư?
Mâu
Tử đáp: - Không phải tôi biện luận; thấy rộng cho nên
không lầm vậy.
Hỏi:
- Thấy rộng có thuật gì?
Mâu
Tử đáp: - Do kinh Phật đấy. Khi tôi chưa hiểu kinh Phật,
tôi lầm còn hơn ông. Tuy đọc ngũ kinh, hợp lấy làm hoa,
chưa nên quả vậy. Đến khi tôi đã xem thuyết của kinh Phật,
ngẫm yếu lý của Lão Tử, giữ tính điềm đạm, xét hạnh
vô vi, rồi quay về trông sự đời, như lên trời cao mà ngó
xuống hang suối, lên Tung Đại mà thấy gò đống vậy. Ngũ
kinh là năm vị, còn đạo Phật là năm thứ thóc đấy. Tôi
từ nghe đạo đến nay, thực như vén mây thấy mặt trời
tỏ, soi đuốc vào trong nhà tối vậy.
(26)
Hỏi: - Ông nói kinh Phật như sông biển, văn nó như gấm thêu,
sao ông không lấy kinh Phật đáp lời tôi hỏi, mà lại dẫn
thi, thư, hợp khác làm giống vậy?
Mâu
Tử đáp: - Kẻ khát tất không đợi sông bể mới uống. Kẻ
đói tất không chờ kho Ngao mới no. Đạo đặt ra vì người
trí, luận để cho người hiểu thông, sách để cho người
sáng truyền, việc để cho kẻ thấy rõ. Tôi để cho ông biết
ý nên dẫn các sự việc. Nếu nói bằng lời dạy của kinh
Phật, bàn bằng yếu lý của vô vi, thì như đối người mù
mà nói năm màu, người điếc mà tấu năm âm. Sư Khoáng dù
giỏi, không thể gẩy đàn không dây. Lông chồn tuy ấm, không
thể làm nóng người hết sinh khí. Công Minh Nghi vì trâu, đàn
điệu giốc trong, trâu vẫn ăn như cũ, không phải trâu không
nghe nhưng không hợp tai nó. Trái lại, tiếng ruồi muỗi, tiếng
nghé mồ côi, tức thì trâu vẩy đuôi vểnh tai, lững thững
bước đi mà nghe. Thế nên đem thi thư lý giải cho ông.
(27)
Hỏi: - Tôi xưa ở kinh đô, vào Đông quan, đến Thái học,
thấy tuấn sĩ nề nếp, nghe nho lâm bàn luận, chưa nghe tu
đạo Phật làm quí, tự bớt đẹp là cao thượng. Sao ông
đam mê đạo Phật thế? Ôi! Đi lầm thì đổi đường, thuật
cùng thì về lối cũ, khá không nghĩ kỹ sao?
Mâu
Tử đáp: - Ôi! Kẻ giỏi quyền biến thì không thể gạt bằng
dối trá; kẻ thông hiểu đạo thì không thể làm sợ bằng
điều lạ; kẻ khéo văn thì không thể lầm bằng lời nói;
kẻ đạt nghĩa lý thì không thể lấy lợi làm động lòng.
Lão Tử nói: “Danh là cái hại của thân, lợi là cái nhơ
của hạnh”. Lại nói: “Bầy mưu, cướp quyền, hư vô tự
quí”. Tu lễ gia đình, làm theo thời thói tục, nhằm chen
vào chỗ hở, nhằm hợp đời nay, ấy là chỗ làm của hạ
sĩ, chỗ bỏ của trung sĩ. Huống chi đạo lớn than thản là
chỗ làm của bậc thánh trên, Mênh mông như trời, thăm thẳm
như biển, không hợp với người “dòm tường”, kẻ cao
mấy nhận, đó là đúng thôi. Ông thấy cửa ngõ, tôi xem cái
nhà, kẻ kia hái hoa, tôi lượm lấy trái, kẻ kia cần đầy,
tôi giữ cái một. Ông mau đổi đường, tôi xin cứ đi, nguyên
lai của họa phúc, chưa biết thế nào vậy.
(28)
Hỏi: - Ông lấy lời kinh truyện, thuyết hoa mỹ để khen ngợi
hạnh Phật, xưng tụng đức Phật, cao tới mây xanh, rộng
quá mặt đất, há không vượt cái vốn mà quá sự thực không?
Chúng tôi chê khá đúng chỗ, chẩn đúng bệnh vậy.
Mâu
Tử đáp: - Than ôi, chỗ tôi khen như lấy cát bụi mà đắp
Tung, Thái, lấy sương sớm đổ vào sông bể, chỗ ông chê
như cầm bầu lọ muốn vơi sông biển, đem cày bừa muốn
cào Côn Lôn, nghiêng bàn tay đòi che mặt trời, cầm cục đất
đòi lấp sông Hoàng. Tôi có khen, không thể khiến Phật cao
hơn, ông có báng không khiến Phật thấp xuống vậy.
(29)
Hỏi: - Sách Bát tiên của Vương Kiêu, Xích Tùng, Thần thơ
170 quyển, việc trường sinh cùng với kinh Phật có phải giống
nhau không?
Mâu
Tử đáp: - So với loại thì như Ngũ bá với Ngũ đế, Dương
Hóa với Trọng Ni. So về hình thì như gò đống với Hoa, Hằng,
lạch ngòi với sông biển. So về văn thì như da hổ với da
dê, vải gai với gấm vóc vậy. Đạo có 96 loại, đến như
cao lớn thì không đạo nào hơn đạo Phật. Sách thần tiên
nghe thì bao la ngập tai, mà tìm hiệu nghiệm thì như nắm gió
bắt bóng. Bởi thế, đạo lớn không nhận, vô vi không quí,
sao được giống nhau?
(30)
Hỏi: - Học đạo có kẻ tịch cốc không ăn gạo, mà uống
rượu ăn thịt, cũng bảo là thuật của họ Lão. Nhưng đạo
Phật lấy rượu thịt làm điều cấm tối cao, mà quay lại
ăn gạo, sao trái ngược nhau thế?
Mâu
Tử đáp: - Các đạo đầy dẫy, gồm có 96 loại. Đạm bạc
vô vi, không đạo nào hơn đạo Phật. Tôi xem hai thiên thượng
hạ của họ Lão, nghe nói cấm giới năm vị, chưa thấy nói
là tuyệt ăn năm thứ gạo. Thánh nhân viết văn bảy kinh không
có thuật ngưng lương. Lão Tử làm năm ngàn câu văn không
nói việc tịch cốc. Thánh nhân nói: “Ăn gạo là trí, ăn
cỏ thì ngu, ăn thịt thì dữ, ăn khí thì thọ”. Người đời
không hiểu việc ấy, thấy sáu loài chim nhịn hơi không thở,
thu đông không ăn, muốn bắt chước mà làm theo, không biết
rằng loài vật mỗi giống tự có bản tính của nó, như từ
thạch (đá nam châm) hút sắt mà không thể di chuyển một
cái lông nhỏ vậy.
(31)
Hỏi: - Thóc há có thể bỏ hẳn sao?
Mâu
Tử đáp: - Khi tôi chưa hiểu đạo lớn, cũng thường học
đòi tịch cốc. Pháp tịch cốc kể ra ngàn trăm thuật, thực
hành không có hiệu quả, làm không có trưng chứng, nên tôi
bỏ. Xem ba người thầy tôi theo học, hoặc tự xưng bảy trăm,
năm trăm, ba trăm tuổi. Nhưng tôi theo học chưa đầy ba năm,
ai nấy đều chết mất. Sở dĩ như thế là vì nhịn gạo,
mà ăn trăm quả. Nhậu thịt thì nhiều mâm, uống rượu thì
nghiêng vò, tinh loạn thần hôn, hơi gạo không đủ, tai mắt
lầm lạc, dâm tà không kiêng. Tôi hỏi tại sao? Đáp rằng:
“Lão Tử nói: Bớt đi lại bớt, cho đến vô vi. Trò nên
ngày bớt đi”. Nhưng tôi thấy thì ngày chỉ thêm mà không
bớt. Bởi thế, ai nấy đều không đến biết mệnh mà chết.
Vả lại, Nghiêu, Thuấn, Châu, Khổng ai nấy không sống được
trăm năm, vậy mà đời sau ngu muội muốn theo tịch cốc để
tìm tuổi thọ vô cùng. Thương thay!
(32)
Hỏi: - Người học đạo nói có thể chống bệnh, không đau,
chẳng thuốc men châm cứu mà vẫn lành, có không? Tại sao
nhà Phật có bệnh thì dùng thuốc châm cứu?
Mâu
Tử đáp: - Lão Tử nói: “Vật lớn thì già, gọi là trái
Đạo. Trái đạo thì sớm hết”. Chỉ có kẻ đắc Đạo
mới không sinh, không sinh thì cũng không lớn, không lớn thì
cũng không già, không già thì cũng không bệnh, không bệnh
thì cũng không thối. Bởi thế, Lão Tử cho thân thể là mối
lo lớn. Vũ vương nằm bệnh, Châu công xin mệnh, Trọng Ni
có ốm, Tử Lộ cầu đảo. Tôi thấy thánh nhân đều có bệnh,
chưa thấy ai không đau. Thần Nông nếm cỏ, gần chết tới
mấy mươi lần. Hoàng đế cúi đầu chịu cho Kỳ Bá châm
cứu. Ba bậc thánh này há không bằng các đạo sĩ hiện nay
sao? Suy xét lời ấy, cũng đủ để bỏ.
(33)
Hỏi: - Đạo đều vô vi là một cả sao ông đem phân biệt
la liệt, rồi bảo chúng khác, càng làm kẻ học nghi ngờ,
Tôi cho là phí công vô ích vậy.
Mâu
Tử đáp: - Đều gọi là cỏ, mà chất cỏ nhiều không thể
kể xiết. Đều gọi kim loại, mà chất kim loại nhiều không
thể kể xiết. Cùng loài mà khác tính, muôn vật đều thế.
Há chỉ đạo thôi sao? Xưa Dương, Mặc chặn đường các nho,
xe không tiến được, người không bước được. Mạnh Kha
mở đường, mới biết đường theo. Sư Khoáng gảy đàn, chờ
tri âm về sau. Thánh nhân chế phép, mong quân tử sẽ thấy.
Ngọc đá cùng rương, Ỷ Đôn vì thế đổi sắc. Đỏ tía
lẫn lộn, Trọng Ni vì thế thở dài. Trời trăng không phải
không chiếu, tối nhiều che sáng. Đạo Phật không phải không
chính, riêng nhiều dìm công. Bởi thế tôi chia mà biết. Trí
của Tang Văn, thẳng của Vi Sinh, Trọng Ni không khen. Đấy
đều lời sửa đời, có chi là phí công vô ích?
(34)
Hỏi: - Ông chê thần tiên, dẹp kỳ quái, không tin có cái
đạo bất tử đó là đúng. Tại sao tin chỉ có đạo Phật
mới cứu được đời? Phật ở nước khác, chân ông chưa
dẫm đất ấy, mắt ông chưa thấy chỗ ấy, chỉ xem văn Phật,
mà tin hạnh Phật. Kìa, xem hoa không thể biết quả, nhìn bóng
không thể rõ hình. E rằng không thực.
Mâu
Tử đáp: - Khổng Tử nói: “Nhìn vì sao, xem từ đâu, xét
chỗ tới, người ta giấu được gì”. Xưa Lã Vọng, Châu
công hỏi về chính sự thi hành, mà biết về sau vì sao chung
cục. Nhan Uyên ngày ngồi xe bốn ngựa, thấy Đông Dã Tật
đánh xe mà biết nó sắp đổ. Tử Cống xem Trâu Lỗ họp
mà rõ vì sao mất. Trong Ni nghe Sư Khoáng gảy đàn, mà biết
nết của Văn vương. Quí tử nghe nhạc, mà hiểu tục của
các nước. Cần chi phải mắt thấy chân dẫm đâu?
(35)
Hỏi: - Tôi thường đi chơi nước Vu Điền, nhiều lần cùng
sa môn đạo nhân tiếp chuyện, đem việc tôi ra hỏi, họ đều
không trả lời được mà rút lui. Nhiều người đổi chí
hướng, thay ý tưởng, riêng ông sao khó thay đổi thế?
Mâu
Tử đáp: - Lông nhẹ trên cao, gặp gió thì bay, đá nhỏ dưới
khe, gặp dòng thì trôi chảy. Chỉ núi Thái không vì gió thổi
mà động, đá bàn không vì nước xiết mà trôi. Mai mận gặp
sương thì rụng lá, chỉ tùng bá là khó mà héo tàn. Đạo
nhân ông gặp, hẳn học chưa thấu, thấy chưa rộng, nên chịu
khuất phục rút lui. Lấy chỗ ngu tôi, mà ông không thể ép,
huống người hiểu đạo lý ư? Ông không tự đổi, lại muốn
thay đổi người. Tôi chưa nghe Trọng Ni đi theo Đạo Chích,
Thang Vũ bắt chước Kiệt Trụ bao giờ cả.
(36)
Hỏi: - Thuật thần tiên thì thu đông không ăn, hay nhập thất
hàng tuần không ra ngoài, có thể gọi rất đạm bạc vậy.
Tôi cho là đáng tôn quí, e đạo Phật không sánh kịp vậy.
Mâu
Tử đáp: - Chỉ nam làm bắc, bảo mình không lầm, lấy tây
làm đông, bảo mình không lòa. Đem cú vọ mà cười phụng
hoàng, lấy kiến hôi mà cợt rồng qui. Con ve nhịn ăn, quân
tử không quí; ếch rắn ẩn hang, thánh nhân không trọng. Khổng
Tử nói: “Tính trời đất, người là quí”. Không nghe trọng
ve rắn. Nhưng người đời vẫn có kẻ ăn xương bồ mà bỏ
gừng quế; đổ cam lộ để nếm nước thải vậy. Lông tơ
tuy nhỏ, nhìn có thể rõ; núi Thái tuy lớn, quay lưng chẳng
thấy; chí có bền hay không bền, ý có sắc hay không sắc.
Lỗ tôn họ Quí hạ thấp Trọng Ni. Ngô hiền Tể Bỉ mà bỏ
Tử Tư. Ông có điều ngờ, không đúng lắm sao?
(37)
Hỏi: - Đạo gia nói: “Nghiêu, Thuấn, Châu, Khổng, bảy mươi
hai học trò đều không chết mà thành tiên”. Nhà Phật bảo
người ta đều phải chết, chẳng ai có thể tránh được,
là làm sao?
Mâu
Tử đáp: - Đấy là lời yêu vọng, chẳng phải thánh nhân
nói ra.
Lão
Từ nói: “Trời đất còn không thể lâu dài, huống hồ là
người”.
Khổng
Tử viết: “Dù đã tránh đời, nhân hiếu vẫn còn”. Tôi
xem lục nghệ, coi truyện ký, Nghiêu có rơi chết; Thuấn có
núi Thương Ngô, Vũ có lăng Cối Kê, Bá Di Thúc Tề có mộ
Thủ Dương, Văn vương không kịp giết Trụ mà mất, Vũ vương
không thể đợi Thành vương lớn mà băng, Châu công có sách
về cải táng, Trọng Ni có mộng “hai cột”, Ba Ngư có tuổi
mất trước cha, Tử Lộ có lời bị ướp thịt, Bá Ngưu có
văn “vong mệnh”, Tăng Sâm có lời “mở chân”, Nhan Uyên
có lời ghi “chẳng may chết sớm”, lời ví “lúa không
trổ đòng” đều chép trong kinh điển, lời thật của thánh
nhân vậy. Tôi lấy kinh truyện làm chứng, người đời làm
nghiệm mà nói bất tử há không lầm ư?
- Lời
ông giải thích, thật rất đầy đủ, vốn không phải chỗ
chúng tôi được nghe. Nhưng sao chỗ ông xử lý, chỉ viết
37 điều? Cũng có mẫu chăng?
Mâu
Tử đáp: - Ôi! Cỏ bồng quay mà bánh xe thành; gỗ bông trôi
mà thuyền bè có; màng nhện giăng mà lưới chắn bày; vết
chim hiện mà chữ viết đặt. Cho nên, có mẫu thành dễ, không
mẫu thành khó. Tôi xem yếu lý kinh Phật có 37 phẩm, Đạo
kinh họ Lão cũng 37 thiên, nên tôi bắt chước.
Bấy
giờ kẻ lầm nghe rồi, giật mình đổi sắc, xoa tay bỏ chiếu,
lùi lại cúi rạp thưa: “Bỉ nhân lòa mù, sinh nơi tăm tối,
dám thốt lời ngu, không lo họa phước. Nay được nghe dạy,
chợt như tuyết sạch. Xin được đổi tình, rửa lòng tự
nhắc. Nguyện nhận năm giới, làm ưu bà tắc”.