MỤC
LỤC
LỜI
ĐẦU SÁCH
PHẦN
I: MÂU TỬ – LÝ HOẶC LUẬN
[1]
LỜI DẪN VỀ LÝ HOẶC LUẬN
I.
VẤN ĐỀ NIÊN ĐẠI LÝ HOẶC LUẬN
1.
LÝ HOẶC LUẬN TRONG CÁC THƯ TỊCH
2.
QUAN ĐIỂM HIỆN ĐẠI VỀ LÝ HOẶC LUẬN
a.
Quan điểm của Lưông Khải Siêu
b.
Quan điểm của Tokiwa Daijò
c.
Quan điểm của Matsumoto Bunzaro
d.
Quan điểm của H. Maspeùro, Fukui Kojun và Zuõrcher
e.
Quan điểm của Pelliot, Chu Thuùc Ca, Hoà Thích và Dư Gia Tích
3. QUAN
ĐIỂM CỦA CHÚNG TÔI
[2]
II. CUỘC ĐỜI VÀ TÊN TUỔI MÂU TỬ
[3]
BẢN DỊCH LÝ HOẶC LUẬN
[4]
PHỤ LỤC 1: MÂU TỬ VÀ NHỮNG ĐOẠN PHIẾN DẬT VĂN
1.
THẾ THUYẾT TÂN NGỮ (thưôïng / hạ tôø 12b8-11)
2.
TỬ SAO, dẫn theo HOẰNG QUYẾT NGOẠI ĐIỂN SAO
3.
NGỌC CHÚC BẢO ĐIỂN
4.
PHÁ TÀ LUẬN quyển thượng
5.
BIỆN CHÍNH LUẬN 6 (ĐTK 2110 tờ 534a11 -13) và QUẢNG HOẰNG
MINH TẬP
6a.
TẬP CỔ KIM PHẬT ĐẠO LUẬN HÀNH QUYỂN GIÁP (ĐTK 2104
tờ 363c10-364a9)
6b.
QUẢNG HOẰNG MINH TẬP 1 (ĐTK 2103 tờ 98c11-18)
7.
VĂN TUYỂN LÝ THIỆN CHÚ (59 tờ 4b9).
8.
CHỈ QUÁN PHỤ HÀNH TRUYỀN HOẰNG QUYẾT 5/1 và 5/6
9.
LỊCH ĐẠI PHÁP BẢO KÝ (ĐTK 2075 tờ 179c9-23)
10.
BẮC SƠN LỤC 3 Pháp tịch điển thiên
11.
THÁI BÌNH NGỰ LÃM
12.
QUẢNG VẬN
13.
BẮC SƠN LỤC TÙY HÀM quyển thượng
14.
TAM GIÁO BÌNH TÂM LUẬN quyển hạ
15.
CHIẾT NGHI LUẬN [58] 4 (ĐTK 2118 tờ 812b13-17)
16.
BIỆN NGỤY LỤC 2 (ĐTK 2116 tờ 763a26-27)
PHỤ
LỤC 2
DẬT
VĂN TỪ HUỆ THÔNG VÀ PHẠM VIỆP
BÁC
DI HẠ LUẬN
LÝ
HOẶC LUẬN
PHẦN
II KHƯƠNG TĂNG HỘI
[05-1]
LỜI DẪN VỀ KHƯƠNG TĂNG HỘI
[05-2]
I.KHƯƠNG TĂNG HỘI CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP
[05-3]
1. KHƯƠNG TĂNG HỘI Ở VIỆT NAM
[05-4]
2. KHƯƠNG TĂNG HỘI Ở TRUNG QUỐC
[05-5]
4. SỰ NGHIỆP PHIÊN DỊCH VÀ TRƯỚC TÁC
[06-1]
II. NGHIÊN CỨU VỀ LỤC ĐỘ TẬP KINH
1.
VẤN ĐỀ TRUYỀN BẢN TÊN GỌI VÀ NIÊN ĐẠI
[06-2]
2.
VẤN ĐỀ BẢN ĐÁY
[06-3]
3.
NHỮNG VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ HỌC CỦA LỤC ĐỘ TẬP KINH
[06-4]
4.
VỀ SỰ TỒN TẠI MỘT NGUYÊN BẢN TIẾNG VIỆT
[06-5]
5.
PHÂN TÍCH XUẤT XỨ LỤC ĐỘ TẬP KINH
[06-6]
6.
NỘI DUNG TƯ TƯỞNG LỤC ĐỘ TẬP KINH
[06-7]
7.
LỤC ĐỘ TẬP KINH VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
8.
TỔNG KẾT
LỤC
ĐỘ TẬP KINH
BẢN
DỊCH TIẾNG VIỆT
[07-1]
QUYỂN
MỘT
[07-2]
QUYỂN
HAI
[07-3]
QUYỂN
BA
[07-4]
QUYỂN
BỐN
[07-5]
QUYỂN
NĂM
[07-6]
QUYỂN
SÁU
[07-7]
QUYỂN
BẢY
[07-8]
QUYỂN
TÁM
[08]
PHỤ LỤC 3
NGUYÊN
BẢN HÁN VĂN LÝ HOẶC LUẬN
PHỤ
LỤC 4
NGUYÊN
BẢN HÁN VĂN LỤC ĐỘ TẬP KINH
LỜI
ĐẦU SÁCH
Phật
giáo đã tồn tại và gắn liền với dân tộc Việt Nam hơn
20 thế kỷ. Trải qua những thăng trầm cùng lịch sử đất
nước, các Phật tử và thiền sư không ngừng đóng góp cho
kho tàng văn hóa Việt Nam một số lượng tư liệu quy mô đồ
sộ, trong đó chứa đựng những tinh hoa trí tuệ của cả
một dân tộc.
Hiện
nay chúng ta chỉ mới phát hiện một phần rất nhỏ số lượng
tư liệu vừa nói và mới bước đầu nghiên cứu và
tìm hiểu một số tác giả và tác phẩm hiện đã biết tên,
nhưng chưa được thực hiện một cách có hệ thống và nghiêm
túc. Mà đối với kho tàng tri thức quý báu đó, chúng ta có
trách nhiệm phải bảo tồn, khai thác và tận dụng một cách
triệt để nhằm hổ trợ cho các thế hệ hiện tại và tương
lai, hiểu rõ thêm nguồn gốc và truyền thống của văn hóa
dân tộc, nhằm đóng góp và xây dựng cho xã hội hiện đại
chúng ta ngày càng phát triển và văn minh hơn.
Vì
vậy, để thể hiện nỗ lực và bảo tồn vừa nói, chúng
tôi mạnh dạn cho công bố bộ Tổng tập văn học Phật giáo
Việt Nam này. Trước đây cũng từng có một số công trình
tập hợp các tư liệu Phật giáo. Chẳng hạn là giữa thế
kỷ thứ XIX, cụ thể là năm 1856, thiền sư An Thiền đã cho
ra đời bộ Đại Nam thiển uyển truyền đăng tập lục (5
quyển) bao gồm Thiền uyển tập anh làm quyển thượng, Kế
đăng lục của Như Sơn làm quyển nhất, quyển tả và quyển
hữu, còn quyển hạ do chính An Thiền viết. Đến gần giữa
thế kỷ XX, thì Tổng hội Phật giáo Bắc kỳ do các hòa thượng
Quang Minh, Thanh Thạnh, Doãn Hài, Thanh Tích cùng hợp tác với
trường Viễn Đông Bác Cổ để cho ra đời bộ Việt Nam Phật
điển tùng san gồm cả thảy 8 quyển, in dập theo các bản
in cũ của các tác phẩm Phật giáo Việt Nam.
Tuy
nhiên, bộ Phật điển tùng san này mắc hai khuyết điểm lớn.
Thứ nhất, về những văn bản in dập lại, người đứng
in đã không tiến hành những nghiên cứu văn bản học đối
với các tác phẩm đã in, làm hạn chế độ tin cậy của
văn bản được công bố. Khuyết điểm thứ hai là chỉ in
dập lại các văn bản cũ bằng chữ Hán hoặc chữ quốc âm,
mà vào thời điểm ra đời của bộ Phật điển tùng san,
hai loại chữ này đã không còn được phổ biến rộng rãi
nữa. Cho nên, nó đã không gây được tác động lớn trong
giới học thuật. Thêm vào đó, vì những biến động vào
năm 1945, bộ Việt Nam Phật điển tùng san chỉ in tới quyển
thứ 8 thì chấm dứt và sau đó không thấy xuất hiện thêm
quyển nào nữa. Ngoài ra, do thuộc loại in dập, sự sắp xếp
các tác phẩm in trong bộ này không dựa trên tiêu chuẩn học
thuật và thứ tự tổ chức nào cả. Những điểm này càng
làm hạn chế ảnh hưởng học thuật của bộ sách ấy.
Bộ
Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam của chúng tôi ra đời,
do thế, sẽ được thực hiện theo một số phương châm sau.
Thứ nhất, về mặt tổ chức, chúng tôi sắp xếp các tác
phẩm văn học Phật giáo Việt Nam theo niên đại ra đời của
các tác gia, tác phẩm từ khi Phật giáo truyền vào nước
ta cho đến thế kỷ XX.
Thứ
hai, về mặt học thuật, bộ Tổng tập này chỉ bao gồm các
tác phẩm viết bằng văn tự khối vuông, tức bao gồm các
tác phẩm viết bằng chữ Hán và chữ quốc âm. Đối với
những tác gia sống trong buổi giao thời của việc chuyển
từ văn tự khối vuông qua mẫu tự Latin, nếu tác phẩm chính
của họ viết chủ yếu bằng văn tự khối vuông thì cũng
sẽ được đưa vào trong bộ Tổng tập này.
Thứ
ba, những tác phẩm in trong Tổng tập đều do các tác gia Việt
Nam thực hiện, trừ ba dịch tác gia là Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Viên
Văn Chuyết Chuyết và Đại Sán Thạch Liêm. Tỳ Ni Đa Lưu
Chi là người Ấn Độ, còn hai vị kia là người Trung Quốc.
Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã cùng với người học trò mình là Pháp
Hiền thành lập nên dòng thiền Pháp Vân. Cho nên, vị thiền
sư này qua những dịch phẩm của mình như Phật thuyết tượng
đầu tinh xá kinh và Đại thừa phương quảng tổng trì
kinh chắc chắn là có những ảnh hưởng lớn đến việc hình
thành hệ tư tưởng thiền Pháp Vân. Vì vậy, cả hai dịch
phẩm này sẽ được chúng tôi đưa vào phần phụ lục của
Tổng tập. Viên Văn Chuyết Chuyết đã sống một thời gian
dài và mất tại nước ta, có viết một tác phẩm ngắn là
Bồ đề yếu nghĩa, chúng tôi cũng cho in vào đây để tiện
việc nghiên cứu tác động tư tưởng của Viên Văn đối
với lịch sử tư tưởng Việt Nam và Phật giáo Việt Nam.
Còn Đại Sán Thạch Liêm có nhiều tác phẩm hơn và được
lưu hành rộng rãi trong giới học thuật Phật giáo Việt Nam,
đặc biệt là bộ Hải ngoại kỷ sự. Cho nên, để cung cấp
tư liệu nghiên cứu, chúng tôi cũng cho công bố các tác phẩm
của Đại Sán trong bộ Tổng tập này.
Thứ
tư, về tác gia Đại Thừa Đăng, nếu giả thiết của chúng
tôi về Đại Thừa Đăng là Đại Thừa Quang được chấp
nhận, thì ta sẽ có một loạt các tác phẩm của thế kỷ
thứ VII hiện biết dưới tên Đại Thừa Quang. Đó là Câu
xá luận ký, Đại thừa bách pháp minh môn luận thuật ký
và Duy thức chỉ nguyên. Các tác phẩm này có thể là do Đại
Thừa Đăng viết, nhưng đã lưu hành dưới tên Đại Thừa
Quang. Các tác phẩm này chúng tôi cũng sẽ đưa vào phần phụ
lục của Tổng tập để làm tư liệu nghiên cứu, trong khi
chờ đợi sự thẩm định của giới học giả trong và ngoài
nước.
Thứ
năm, đối với từng tác giả, chúng tôi cho nghiên cứu niên
đại, cuộc đời và sự nghiệp của họ; còn đối với các
tác phẩm, chúng tôi cho nghiên cứu tình trạng văn bản, nội
dung và niên đại ra đời của chúng. Đồng thời cho phiên
âm nếu viết bằng chữ quốc âm, dịch nghĩa nếu viết bằng
chữ Hán, ra tiếng Việt quốc ngữ.
Thứ
sáu, về mặt in ấn, ngoài việc cho in bản nghiên cứu, phiên
âm hoặc dịch nghĩa từng tác phẩm như vừa nói, chúng tôi
đồng thời cho in lại nguyên bản quốc âm hoặc chữ Hán
của chúng, nhằm bảo tồn các bản in quý, và để làm tư
liệu kiểm soát cho những ai muốn tìm hiểu xa hơn. Những
nguyên bản Hán và quốc âm bị thất lạc vào năm 1984, mà
chúng tôi đã làm nghiên cứu và phiên âm hay dịch nghĩa, chúng
tôi cũng mạnh dạn cho công bố trong bộ Tổng tập, trong khi
chờ đợi tìm lại chúng và sẽ bổ sung trong tương lai,
khi có dịp tái bản.
Dự
kiến bộ Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam sẽ giới
thiệu trên dưới 40 tác gia của Phật giáo Việt Nam, bắt
đầu với Mâu Tử (160-220?) cho đến tác gia cuối cùng có
tác phẩm viết bằng chữ Hán là thiền sư Chân Đạo Chính
Thống (1900-1968). Trong số những tác gia này, họ chủ yếu
là các thiền sư. Chỉ trừ ba tác gia đời Trần là Trần
Thái Tông, Tuệ Trung Trần Quốc Tung và Trần Nhân Tông, một
tác gia đời Lê là Lê Thánh Tông, một tác gia đời Tây Sơn
là Ngô Thời Nhiệm và một tác gia thời Nguyễn là Nguyễn
Du. Các tác gia này ngoài Phật giáo ra còn viết về nhiều
đề tài khác nhau, song tự bản thân họ đã xác nhận mình
là thiền sư như Trần Nhân Tông hay Ngô Thời Nhiệm, hoặc
tự nhận mình có gắn bó chặt chẽ với Phật giáo qua thơ
văn như Lê Thánh Tông và Nguyễn Du. Chúng tôi do thế đã đưa
các tác gia này vào trong bộ Tổng tập văn học Phật giáo
Việt Nam. Ngoài ra, một số tác gia khác có viết về đề
tài liên quan đến Phật giáo Việt nam, và họ có thể là
những Phật tử. Nhưng chúng tôi cũng chưa đưa vào trong bộ
Tổng tập này, vì những tác phẩm ấy chưa chiếm ưu thế
trong số lượng tác phẩm của họ. Chẳng hạn, Đặng Xuân
Bản có viết Không Lộ đại thánh sự tích, song vẫn
chưa được đưa vào trong Tổng tập này do việc nó không
chiếm ưu thế trong toàn bộ tác phẩm của ông.
Dưới
đây là bản dự kiến danh sách các tác gia và tác phẩm sẽ
công bố trong bộ Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam này.
Đây mới chỉ là một số tác gia và tác phẩm tiêu biểu
mà chúng tôi đã sưu tầm được trong những năm qua. Với
Tổng tập này, chúng tôi cũng chưa đưa vào các bài văn bia
và minh trên đá và chuông đồng, trừ những bài của các
tác giả có tác phẩm được in. Những văn bia chưa được
in trong bộ Tổng tập này sẽ được tập hợp và in thành
một tập riêng. Những tác giả có viết các bài tựa
và bạt khi in lại các kinh sách Phật giáo, nhưng không có
những tác phẩm khác, thì cũng sẽ được tập hợp và in
thành một tập riêng trong tương lai, trừ những bài tựa và
bạt của các tác giả có tác phẩm in trong Tổng tập này.
Số tựa bạt này tuy chưa phát hiện hết, vẫn được công
bố. Nếu trong tương lai có tìm thêm được những tác gia
và tác phẩm mới, chúng tôi sẽ công bố trong phần Bổ di
của bộ Tổng tập.
1-
1- Mâu Tử (160-220)
-
Lý hoặc luận
2-
Khương Tăng Hội (370-450?)
-
Lục độ tập kinh
-
Cựu tạp thí dụ kinh
-
An ban thủ ý kinh chú giải
-
Pháp kính khinh tự
3-
Lý Miểu, Đạo Cao và Pháp Minh
-
Sáu lá thư
4-
Kim Sơn (?1300-1370)
-
Thiền uyển tập anh
-
Thánh đăng ngữ lục
-
Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục
5-
Trần Thái Tông (1208-1277)
-
Khóa hư lục và một số thơ văn khác
6-
Tuệ Trung Trần Quốc Tung (1230-1291)
-
Thượng sĩ ngữ lục
7-
Trần Nhân Tông (1258-1308)
8-
Pháp Loa (1284-1330) và Huyền Quang (1254-1334)
9-
Viên Thái (1400-1460)
-
Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục
-
Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh
-
Phật thuyết báo phụ mẫu ân trọng kinh
10-
Lê Thánh Tông (1442-1497)
-
Thập giới cô hồn văn
-
29 lá sớ và các thơ văn khác
11-
Lê Ích Mộc (1460-?)
-
Bài thi trạng nguyên năm 1502
12-
Pháp Tính (1470-1550)
-
Ngọc âm chỉ nam giải nghĩa
-
Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh
13-
Thọ Tiên Diễn Khánh (1550-1610)
-
Nam Hải Quan Âm Phật sự tích ca
14-
Chân An Tuệ Tĩnh (?-1711)
-
Nam dược thần hiệu
-
Hồng nghĩa giác tý y thư
-
Khóa hư lục giải nghĩa
15-
Minh Châu Hương Hải (1628-1715)
-
Giải Kim cang kinh
-
Giải Di Đà kinh
Giải
tâm kinh ngũ chỉ
-
Sự lý dung thông
-
Hương Hải thiền sư ngữ lục
16-
Chân Nguyên Tuệ Đăng (1647-1726)
-
Tôn sư phát sách đăng đàn thọ giới
-
Nghênh sư duyệt định khoa
-
Long thư tịnh độ văn tự
-
Long thư tịnh độ luận bạt hậu tự
-
Thánh đăng ngữ lục hậu bạt
-
Kiến tính thành Phật lục
-
Tịnh độ yếu nghĩa
-
Ngộ đạo nhân duyên
-
Thiền tịch phú
-
Thiền tông bản hạnh
-
Nam Hải Quan Âm bản hạnh
-
Thiên Nam ngữ lục
-
Đạt Na thái tử hạnh
-
Hồng mông hạnh
17-
Như Trừng Lân Giác (1690-1728)
-
Sa di thập giới quốc âm
-
Ngũ giới quốc âm
-
Phật tâm luận
-
Kiến đàn giải uế nghi
-
Mãn tán tạ quá nghi
18-
Như Thị (1680-1740)
-
Oai nghi quốc ngữ
19-
Như Sơn (1670-1730?)
-
Ngự chế thiền uyển kế đăng lục
20-
Minh Giác Kỳ Phương (1682-1744)
-
Quy ước thiền đường
-
Đạo Nguyên thiền sư bi minh
-
Kiết hạ an cư thị chúng
21-
Quảng Trí (1700-1760?)
-
Mục ngưu đồ giải nghĩa
22-
Tính Quảng Điều Điều (1720-1780)
-
Tam tổ thực lục
-
Phật quốc ký
-
Sa di ni học pháp oai nghi quốc âm
-
Hiến cổ châu Phật tổ nghi
-
Văn bia và một số các bài tựa
23-
Pháp Chuyên (1726-1798)
-
Diệu Nghiêm lão tổ thi tập
-
Tam bảo biện hoặc luận
-
Chiết nghi luận tái trị
-
Thiện ác quy cảnh lục
-
Tam bảo cố sự
-
Báo ân kinh chú giải
-
Địa Tạng kinh yếu giải
-
Quy nguyên trực chỉ âm nghĩa
-
Tỳ ni Sa di Oai nghi Cảnh sách âm chú yếu lược.
-
Tỳ ni nhật dụng thiết yếu phát ẩn âm chú
-
- Sa di luật nghi yếu lược Tăng chú quyển thượng phát
ẩn
-
Quy Sơn cảnh sách chú thích y lược âm phát ẩn thiên
-
Nhãn sở đáo âm thích tùy lục tạp thiên
-
A Di Đà sớ sao sự nghĩa
-
Tam giáo pháp số
-
Tam giáo danh nghĩa
-
Chư kinh sám nghi
-
Hoằng giới đại học chi thư
-
Chính truyền nhất chi
24-
Hải Lượng Ngô Thời Nhiệm (1746-1803)
-
Trúc lâm tông chỉ nguyên thanh
-
Hàn các anh hoa
-
Kim mã hành dư . . .
25-
Toàn Nhật (1757-1834)
-
Hứa Sử truyện vãn
-
Tam giáo nguyên lưu ký (Thích Ca Phật vãn)
-
Tống vương truyện
-
Lục tổ truyện diễn ca
-
Bát nhã đạo quốc âm văn
-
Xuất gia tối lạc tỉnh thế tu hành vãn
-
Tham thiền vãn
-
Hoán tỉnh trần tâm khuyến tu tịnh độ vãn
-
Thiền cơ yếu ngữ vãn
-
Giới hành đồng từ
-
Trùng khuyến thân sơ quyến thuộc phú
-
Khuyến tu hành quốc ngữ phú
-
Thơ bà vãi
-
Phá thô bát tống văn
-
Văn đưa cây bắp
-
Sa di oai nghi tăng chú giảo ngụy tự tiểu thiên.
-
Thủy sám bạt
-
Nhân quả kinh bạt
-
Vô lượng nghĩa kinh hậu bạt
-
Thơ chữ quốc âm và chữ Hán
26-
Nguyễn Du (1766-1820)
-
Truyện Kiều
-
Văn tế thập loại chúng sinh
-
Thơ chữ Hán
27-
An Thiền Phúc Điền (1790-1860?)
-
Thiền đường quy ước
-
Đạo giáo nguyên lưu
-
Tại gia tu trì cách thức
-
Giới sát văn
-
Phóng sanh văn
-
Hóa hư lục giải nghĩa
-
Đại Nam thiền uyển truyền đăng tập lục
-
Kim cang giải nghĩa
-
Di Đà kinh giải nghĩa
28-
Thanh Đàm (1780-1840)
-
Pháp hoa giải nghĩa
-
Bát nhã giải
29-
Đạo Minh Phổ Tịnh (?1750-1816)
-
Phú pháp kệ
30-
Bạch Liên (1770-1820?)
-
Du Yên Tử sơn nhật trình
-
Thiếu thất phú
-
Một số tựa bạt
31-
Tánh Thiên Nhất Định (1784-1847)
-
Phú pháp kệ
-
Và một số tác phẩm khác
32-
Pháp Liên (1800-1860)
-
Pháp hoa quốc ngữ kinh
33-
Đoàn Minh Huyên (1807-1856)
-
Sấm giảng
34-
Điềm Tịnh (1836-1899) và Như Như
-
Hàm long sơn chí
-
Dương xuân sơn chí
-
Đạo trang thi tập (Như Như)
-
Thiền môn tòng thuyết (Điềm Tịnh)
35-
Thanh Lịch (1830-1900?)
-
Lễ tụng tập yếu chư nghi
-
Giới đàn tăng
-
Thọ giới nghi chỉ
36-
Nhất Thế Nguyên Biểu (1836-1906)
-
Tỳ kheo ni giới bổn lược ký
-
Và một số tác phẩm khác
37-
Diệu Nghĩa (1850-1914)
-
Tỳ ni Sa di oai nghi cảnh sách
-
Và một số tác phẩm khác
38-
Từ Phong (1864-1938)
-
Quy nguyên trực chỉ giải âm
39-
Tâm Tịnh (1874-1929)
-
Tịnh độ nghi thức
40-
Viên Thành (1879-1929)
-
Lược ước tùng sao
-
30 bài thơ Nôm
41-
Chơn giám Trí Hải (1876-1950)
-
Mông sơn thí thực diễn âm
-
Tịnh độ huyền cảnh
42-
Chân Đạo Chính Thống (1900-1968)
-
Thủy nguyệt tùng sao
-
Và một số thơ văn
43-
Tỳ Ni Đa Lưu Chi (?-594)
-
Phật thuyết tượng đầu tinh xá kinh
-
Phật thuyết đại thừa phương quảng tổng trì kinh.
44-
Đại Thừa Đăng (620-682?)
-
Câu xá luận ký
-Đại
thừa bách pháp minh môn luận thuật ký
-
Duy thức chỉ nguyên
45.
Viên Văn Chuyết Chuyết (1590-1644)
-Bồ
đề yếu nghĩa
46-
Đại Sán Thạch Liêm (1633-?)
-
Hải ngoại kỷ sự
-
Kim cang trực giải
-
Ly lục đường thi
Vạn
Hạnh
Mùa
trung thu Phật lịch 2544 (2000)
Lê
Mạnh Thát