Mục
Lục
Ý
Nghĩa Của Chữ Ăn Chay
Phần
Thứ Nhất: Ăn Chay Qua Lăng Kính Khoa Học
Mục
Đích Của Sự Ă n Chay
Phân
Loại Ăn Chay
Ăn
Chay Đúng Phương Pháp
Phần
Thứ Hai: Ăn Chay Trong Đạo Phật
Mục
Đích
Sự
Lơi Ích
Những
Vấn Đề Nhạy Cảm Liên Quan Đến Ăn Chay Trong Đạo Phật
Sự
Khác Biệt
Vấn
Đề Ăn Thịt
Đức
Phật Có Thừa Nhận Chuyện Ăn Thịt không?
Kinh
Bắc Tông Nói Về Ăn Thịt
Có
Phải Đức Phật Tịch Diệt Vì Ăn Thịt Chăng?
Vì
Sao Có Sự Khác biệt?
Phần
Thứ Ba: Trả Lời Những Thắc Mắc Về Ăn Chay Ăn Mặn
Trả
lời câu hỏi thứ 1: Vấn đề tên gọi các món chay
giả mặn.
Trả
lời câu hỏi thứ 2: Người ta thường nói: “Ăn mặn
nói ngay còn hơn ăn chay nói dối." Ông nghĩ sao?
Trả
lời câu hỏi thứ 3: Tại sao một số vị sư ăn trường
chay từ khi còn tu ở Việt Nam, nay qua đây lại bị bệnh tiểu
đường và cũng có một số vị khác bị bệnh tim mạch, như
vậy là sao? Sao nói ăn chay chữa được nhiều bệnh?
Trả
lời câu hỏi thứ 4: Có người xem lịch sử Việt Nam
thấy ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ, là một vị giác ngộ, thầy
của vua Trần Nhân Tông sơ tổ Thiền phái Trúc Lâm cũng ăn
mặn nên nói rằng ăn chay không cần thiết. Lý này là thế
nào? Có phải ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ ăn mặn không?
PHẦN
THỨ BA
TRẢ
LỜI NHỮNG THẮC MẮC VỀ ĂN CHAY
Bây
giờ đến phần trả lời các thắc mắc về vấn đề ăn
chay. Thắc mắc thì rất nhiều nhưng có bốn câu mà nhiều
người hỏi nhất, thắc mắc nhất, ở Việt Nam cũng như ở
hải ngọai. Đó là :
(Thứ
1) Chúng tôi xin đọc nguyên văn thư của một độc giả
gửi từ Việt Nam: "Tôi có vài dịp vào tiệm cơm chay Giác
Đức ở đường Nguyễn Đình Chiểu, nhìn và nghe quý thầy,
quý cô, gọi người tiếp tân để mua thịt heo quay, thịt
bò nướng, thịt phay xắt lát, đùi gà chiên, cá cơm lăn bột
v..v. Nghe các vị tu hành trai giới tinh nghiêm mà phải gọi
các món ăn giả mặn, nghe sao nó ngượng quá. Chúng ta
ăn chay là tự nguyện, tại sao lại phải chuyển sang “núp
bóng” món mặn? Tôi thiết nghĩ ăn chay là đọan tuyệt
với cá thịt, quay lưng với giới cấm sát sanh, huân tập
từ bi, huân tập chủng tử Phật. Thế mà sao ăn chay
lại phải vọng niệm mặn là sao? Xin đề nghị nên bỏ
hình thức gỉa thịt cá để phù hợp với quan niệm từ bi,
còn tên gọi các món chay không nên dùng tên gọi các món mặn
để tránh ngộ nhận và gợi hình".
(Thứ
2) Người ta nói: "Ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối."
Ông nghĩ sao?
(Thứ
3) Tại sao có một số vị sư ăn trường chay từ khi còn
tu ở Việt Nam, nay qua Hoa Kỳ lại bị bệnh tiểu đường
và cũng có một số vị khác bị bệnh tim mạch? Sao nói
ăn chay chữa được nhiều bệnh?
(Thư
4) Có người xem lịch sử Việt Nam thấy Ngài Tuệ Trung
Thượng Sĩ, là một vị giác ngộ, thầy của vua Trần Nhân
Tông, sơ tổ Thiền phái Trúc Lâm cũng ăn mặn nên nói rằng
ăn chay không cần thiết. Lý này là thế nào? Có phải Ngài
Tuệ Trung Thượng Sĩ ăn mặn không?
Kính
thưa quý vị, chúng tôi xin trả lời từng câu hỏi một.
Trong trường hợp hết giờ, xin mời quý vị vào trang nhà
của chùa Quốc Tế Online đọc nguyên văn bản thuyết trình
của chúng tôi trong đó có các câu trả lời chúng tôi vừa
nêu. Nếu như quý thầy cho một buổi khác, chúng tôi
sẽ nhận và trả lời tất cả các câu hỏi khác của quý
vị. Quý vị có thể hỏi trực tiếp hay cũng có thể
e-mail về chúng tôi tại địa chỉ e-mail: tamdieu@yahoo.com
Trả
lời câu hỏi thứ 1: Vấn đề tên gọi các món chay giả mặn.
Kính
thưa quý vị, đây cũng là một vấn đề bắt nguồn từ nhu
cầu thương mại, những nhà tư bản chế biến và kinh
doanh thực phẩm đặt những cái tên giống như các loại thực
phẩm chế biến từ động vật để dễ lôi cuốn khách hàng,
vốn là những người có tập quán ăn những món có tên gọi
như vậy, nay thấy những món cũng có hình dáng và mùi vị
tương tự chút đỉnh, thì thực khách, vốn đã có thói quen
ăn những món đó làm bằng thịt, sẽ cảm thấy dễ hòa nhập
hơn, dễ thích ứng hơn..
Thưa
quý vị, số người ăn chay ở Hoa Kỳ hiện nay khỏang hơn
12 triệu người, mà chín mươi chín phần trăm không phải
là những người theo đạo Phật. Ở Việt Nam, mặc
dầu không có thống kê nhưng người ta tin là số người ăn
chay không phải là Phật tử cũng không nhỏ và theo dự tóan
của những nhà tư bản kinh doanh, số người ăn chay ngòai
cộng đồng Phật giáo trên thế giới có khuynh hướng gia
tăng mạnh, nhất là ở những nước đang phát triển, trong
đó có Việt Nam và Trung Hoa.
Đối
với những người này thì chuyện ăn chay không vì lý
do tu hành, cho nên nếu những nhà tư bản thương mại thực
phẩm chay mà có thể làm những món chay càng có tính cách
thuyết phục thực khách bao nhiêu thì càng hay bấy nhiêu. Làm
thương mại thì phải có những phương pháp tiếp thị “marketing”
để lôi cuốn khách hàng, là những người đã quen ăn thịt
cá nay chuyển sang ăn chay. Nếu món nào cũng chỉ dùng tên
vật liệu để gọi thì chỉ còn là vài món: nấm xào rau,
rau đậu om, rau đậu luộc, rau đậu kho..v..v.., rất ít món,
khó lôi cuốn khách hàng.
Dầu
sao, thưa quý vị, thực khách khi đến nhà hàng chay, ăn một
món giả, thì hiển nhiên đã cứu được một con vật thật
khỏi bị chết. Đa số những người ăn chay ngày nay
trên thế giới không phải là Phật tử. Mục đích ăn
chay của họ là bảo vệ sức khỏe mang tính vị kỷ cá nhân
nhiều hơn. Họ ăn chay không vì thương loài vật, nhưng
phó sản của nó lại vô tình cứu loài vật bớt bị giết,
và cũng giúp cho dòng nghiệp lực sinh tử, tử sinh của họ
bớt nợ mạng, mặc dù họ không biết đến điều này. Cho
nên, đối với những người này, món ăn chay giả mặn nếu
có làm cho họ cảm thấy hấp dẫn, thích ăn, bớt thèm thịt,
thì vẫn có ích lợi cho cả phiá người và vật.
Nay
nói đến thành phần ăn chay vì lòng thương loài vật, vì
tôn trọng và bảo vệ sự sống. Thành phần này bao
gồm những người theo đạo Phật và một vài đạo khác,
kể cả những người không tôn giáo. Họ tránh ăn thịt chỉ
vì lòng thương xót loài vật, cũng là những sinh vật có đầy
đủ tình cảm, xúc động như con người. Đối với họ
khi nhìn tôm thịt cá giả trên bàn, thì họ cũng cảm thông
với những người đang từ từ chuyển hướng sang ăn chay,
và mừng rằng một con tôm, con cá, con gà giả trên bàn ăn
là đã cứu một con tôm, con cá, con gà thật khỏi bị chết.
Họ quan niệm rằng: "nếu như tập quán ăn thịt cá đã bám
rễ sâu xa trong con người, thì những món chay giả mặn đã
cứu sống những con vật thật".
Đối
với chốn già lam, nơi chùa chiền, trong các khuôn viên tự
viện, đối với những Phật tử đang tu hành đạo giải thoát;
ngòai ý nghĩa tôn trọng và bảo vệ sự sống, ăn chay còn
là trợ duyên cho việc tu tâm giải thóat, tu hành trai giới
tinh nghiêm.
Cửa
chùa là nơi truyền bá đạo Phật, tu sĩ ở chùa là Trưởng
tử Như Lai, đem chánh pháp dạy chư Phật tử. Một trong
những lời dạy quan trọng, cốt tủy của Đức Phật là phải
dùng tâm từ bi và bình đẳng để đối xử với mọi loài
chúng sinh, cả người lẫn vật.
Vì
thế, chúng ta nên tránh dùng những hình ảnh và từ ngữ có
thể gợi hình, có thể ảnh hưởng đến tâm chúng ta.
Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với đạo hữu Đồng Lộc Hồ
Ngọc Nhung là chúng ta ăn chay là tự nguyện, là tự đoạn
tuyệt với cá thịt, là quay lưng với sát giới, huân tập
từ bi, huân tập chủng tử Phật, và không thể nào phải
“núp bóng” hay “vọng niệm” món mặn. Trong
chốn già lam, nên bỏ hình thức giả thịt cá, cả tên gọi
lẫn cách trình bày, nên tự biến chế từ rau đậu ngũ cốc
mà đặt tên cho các món ăn chay này bằng tên gọi hoa quả,
rau đậu hay tên của các vị thuốc Đông y để tránh ngộ
nhận như đề nghị của đạo hữu Đồng Lộc.
Đạo
Phật là đạo Tâm, giữ thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh chưa
đầy đủ mà còn phải giữ tâm thanh tịnh mới là vẹn tòan.
Trả
lời câu hỏi thứ 2: Người ta thường nói: “Ăn mặn nói
ngay còn hơn ăn chay nói dối." Ông nghĩ sao?
Xin
thưa. Thật ra đây chỉ là một câu nói mỉa mai của
một số người ăn mặn đối với những người ăn chay mà
lại hay nói dối. Xét ra thì câu so sánh nầy có hai vế không
cân xứng. Ăn mặn và nói dối là hai vấn đề hoàn toàn không
liên hệ với nhau. Nếu so sánh ăn mặn với ăn chay, nói dối
với nói ngay thì câu trả lời đã minh bạch quá rồi. Cũng
như nếu nói rằng: "Lường gạt để lấy tiền bố thí còn
hơn ngay thẳng mà keo kiệt." thì rõ ràng là sẽ có hai vấn
đề nhân quả báo ứng, không thể lấy chuyện nầy bù chuyện
kia được. Lường gạt sẽ bị quả báo xấu về tội lường
gạt, bố thí sẽ được quả báo tốt về phước đức bố
thí. Ngoài đời cũng vậy. Không thể nói với ông Tòa rằng
đi lường gạt để tặng người khác thì khỏi bị tội.
Tốt hơn hết, đừng ăn mặn và đừng nói dối mà nên ăn
chay và nói ngay, như thế là đã giữ hai giới trong năm giới
rồi đấy, sẽ khỏi nợ mạng chúng sinh, sẽ thênh thang bước
nhẹ trên con đường nhân quả. Tuy nhiên, nếu một người
ăn mặn nói ngay còn người kia ăn chay nói dối mà không thể
làm được cả hai điều là ăn chay và không nói dối thì
nên chọn đường lối nào? Có nhiều người cho rằng ăn chay
dễ hơn là giữ giới không nói dối và ăn chay quan trọng
hơn là nói dối vì giết hại chúng sinh là ác nhất, nó tác
động mạnh mẽ đến nhiều đời nhiều kiếp qua quá trình
nhân quả.
Ăn
chay với tâm từ bi còn có lợi là nuôi dưỡng và tăng trưởng
lòng từ bi trong đời sống hiện tại và huân tập phước
báu cho mai sau. Theo các nhà khoa học xã hội, thì đa phần
những kẻ sát nhân đều có nguồn gốc là những đứa trẻ
không có lòng nhân từ, thường thích hành hạ và chém giết
súc vật. Còn nói dối, lẽ dĩ nhiên, cũng vẫn bị chi phối
bởi luật nhân quả, nhưng cũng tùy câu nói dối mà sẽ gặp
quả báo nặng nhẹ khác nhau.
Trả
lời câu hỏi thứ 3: Tại sao một số vị sư ăn trường chay
từ khi còn tu ở Việt Nam, nay qua đây lại bị bệnh tiểu
đường và cũng có một số vị khác bị bệnh tim mạch, như
vậy là sao? Sao nói ăn chay chữa được nhiều bệnh?
Quả
thật, dư luận trong cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Hoa
Kỳ cho biết có một số tăng ni ăn chay trường mà vẫn bị
bệnh tiểu đường và có vị còn thêm bệnh tim mạch.
Điều này cũng có thể hiểu và giải thích được, nhưng
trước hết phải nói ngay rằng ăn chay đúng cách và tập
thể dục đều đặn chỉ có khả năng giảm nguy cơ lâm bệnh
58% mà thôi và nói một cách khác, những người ăn chay và
tập thể dục này vẫn có thể bị bệnh như thường huống
hồ là ăn chay không đúng cách và không tập thể dục và
các vị tăng ni bị bệnh cũng nằm trong trường hợp này,
không ai được đặc cách miễn bệnh tiểu đường hay tim
mạch. Việc một số sư và ni ăn chay trường bị bệnh
tiểu đường loại II có thể là do các nguyên nhân sau đây:
(1)
Ăn chay không đúng phương pháp
(2)
Do sự thay đổi môi trường sống
(3)
Không luyện tập thể dục hay luyện tập thể dục không đều
đặn và không đủ liều lượng
(1)
DO ĂN CHAY KHÔNG ĐÚNG PHƯƠNG PHÁP
Ăn
chay để ngăn ngừa bệnh tim và tiểu đường, theo các nhà
khoa học Hoa Kỳ cho biết là phải thật ít chất béo, nhiều
chất xơ, không cholesterol và nhiều carbo phức hợp (unrefined
complex carbohydrate) .Khẩu phần ăn hàng ngày bao gồm rau trái
tươi các loại, cơm gạo lức, các loại ngũ cốc, đậu hạt
và không dùng các loại thực phẩm tinh lọc như cơm gạo trắng,
bột mì, bột bắp, bột gạo, pasta và thực phẩm chay biến
chế công nghiệp..v..v... Theo bác sĩ Monroe Rosenthal, M.D., Giám
đốc Y Khoa chương trình Pritikin Program ở Santa Monica bang California
Hoa Kỳ cho biết: "chất béo là nguyên nhân chánh của bệnh
tiểu đường, càng nhiều chất béo trong chế độ dinh dưỡng
càng làm khó khăn cho insulin đưa đường vào trong tế bào.
Insulin hoạt động dễ dàng trong điều kiện ít chất béo."
Một
số người Việt chúng ta ở hải ngoại ăn chay không đúng
cách, không đúng phương pháp, không mấy giúp cho sức khỏe
tốt. Thường người Việt nam chúng ta sử dụng ngũ cốc
nhiều hơn, nhất là cơm gạo trắng, các loại bún, bánh phở
và các loại bánh khác làm từ bột gạo, như bánh canh, bánh
đúc, bánh xèo, nên xảy ra tình trạng dư thừa năng lượng
từ ngũ cốc. Nếu không sử dụng hết năng lượng dư
thừa này qua các hoạt động thể lực thì rất dẽ béo phì
và dễ sinh ra bệnh tiểu đường. Quý bà khi nấu ăn
thường dùng quá nhiều bột ngọt, đường, muối, thực phẩm
chay biến chế và các thực phẩm tinh lọc, nhất là dùng quá
nhiều dầu để chiên xào. Mặc dầu dầu thảo mộc
không có chất cholesterol nhưng có lượng cao chất béo không
bão hoà và khi chiên nhiều lần, có độ nóng lâu, dầu không
bão hòa sẽ trở thành loại dầu có đặc tính giống như
bão hòa mà người ta gọi là trans-fatty acids. Chất béo bão
hòa (saturated fat) và trans-fatty acids là những chất béo không
tốt, làm gia tăng chất cholesterol xấu LDL và đồng thời làm
giảm cholesterol tốt HDL trong máu, do đó gia tăng mức nguy hiểm
về bệnh tim mạch và đồng thời cũng làm cho chất insulin
giảm hiệu năng hộ tống chất đường vào trong các tế bào.
Do
đó, tốt nhất là giảm tối đa các chất béo, không nên chiên
đậu hũ, mà nên nướng hay luộc hay nấu canh, vừa giản dị
lại vừa bổ. Nên dùng loại dầu canola hay olive oil, có
bách phân chất béo bão hoà thấp nhất (4%) trong tất cả các
loại dầu thảo mộc hiện nay có bán trên thị trường.
Nếu dùng dầu để trộn xà lách thì nên dùng dầu olive hay
dầu faxseed oil, vừa thơm lại vừa tốt cho sức khỏe.
(2)
DO SỰ THAY ĐỔI MÔI TRƯỜNG SỐNG
Theo
các nhà khoa học, cơ thể sinh lý của người Việt Nam chúng
ta thuộc loại biến dưỡng chậm (slow metabolizer). Khi
còn ở quê nhà các tăng ni làm việc thể lực nhiều, công
phu tu nhiều, ăn uống đơn sơ. Dưới mắt nhìn của các
nhà dinh dưỡng học là thiếu chất bổ dưỡng, nhưng cơ thể
thuộc loại biến thể chậm, lại có nhiều công phu tu tập
nên không nảy sinh vấn đề, nay phải đổi sang một môi trường
sinh sống mới, nhiều tăng ni phải đi làm sở Mỹ kiếm tiền,
giảm giờ công phu và ăn uống theo phong tục người Tây phương
lấy bữa ăn tối làm chính. Mặc dầu là ăn chay nhưng
lại là thực phẩm chay chứa quá nhiều chất bổ dưỡng (nhiều
chất béo, chất đạm, chất đường, muối và tinh bột) và
sự hoạt động thể lực lại quá ít, mà cơ thể vẫn giữ
thói quen cũ (loại biến dưỡng chậm), các chất bổ dưỡng
dư thừa liên tục đưa vào cơ thể, không được chuyển hóa
nhanh thành năng lượng nên biến thành mỡ, do đó dễ sinh
ra bệnh tiểu đường và tim mạch.
Khi
đề cập đến vấn đề này, một nhà báo Phật tử ở quận
Cam đã viết: "Mỗi bữa ăn của hầu hết chư tăng ni hải
ngoại đều là bữa tiệc, mà Phật tử nấu ăn toàn là thứ
thiện chiến. Và khi chư tăng ni ăn ít hay không muốn ăn thì
sợ người nấu buồn. Và các bà cụ công quả này thì cứ
hối thúc Thầy “Thầy ơi, ăn giùm con đi.” vì đây là ruộng
phước của các bà cụ mà...".
(3)
DO KHÔNG TẬP THỂ DỤC HAY TẬP THỂ DỤC KHÔNG ĐỀU ĐẶN
Nguyên
nhân thứ ba là các tăng ni thiếu tập thể dục hoặc nếu
có thì đi tập không đều đặn. Yếu tố đều đặn
(consistency) quan trọng hơn yếu tố cường độ (intensity).
Các nhà khoa học cho biết tập thể dục bằng cách đi bộ
nhanh trên treadmill hay ngoài trời đều đặn mỗi ngày ba mươi
phút là tốt nhất, đem lại nhiều lợi ích cho sức khỏe
nhất.
Luyện
tập thể dục đều đặn làm máu lưu thông dễ dàng đến
mọi chỗ trong cơ thể, chuyển vận ốc xy và các chất dưỡng
sinh khác nuôi dưỡng các tế bào, tạo năng lượng hoạt động
cho con người. Luyện tập đều đặn cũng gia tăng tỷ trọng
chất xương, làm xương cốt cứng mạnh hơn, giảm áp xuất
máu, giảm sự thành lập các cục máu đông và đồng thời
có tác dụng gia tăng hàm lượng cholesterol tốt HDL và giảm
chất béo triglycerides trong máu.
Đi
bộ chậm, trong Phật giáo gọi là thiền hành, chỉ có lợi
cho sự thư dãn tâm hồn mà không có tác dụng gì cho cơ thể
nên không thể xem là tập thể dục được. Tập thể
dục đúng cách có nghĩa là tập đều đặn hàng ngày và tập
với nhịp tim đập trong khoảng từ 65 đến 85 phần trăm nhịp
tim đập tối đa. Nhịp tim đập tối đa được tính theo công
thức: 220 trừ số tuổi. Thí dụ bạn 57 tuổi, nhịp
tim đập tối đa của bạn là 220 -57 = 163. Do đó, khi bạn
đi bộ trên máy treadmill hay đi bộ ngoài trời, nhịp tim đập
của bạn phải được giữ trong khoảng từ 65% đến 85% nhịp
tim đập tối đa 163 của mình, tức là trong khoảng 106 đến
138 nhịp tim đập mỗi phút, theo cách tính như sau: (a) 65% x
163 = 106 (b) 85% x 163 = 138.
Khi
luyện tập nên tập trung vào một đề mục nào đó, như theo
dõi hơi thở vào ra, theo dõi bước chân đi hay quán tưởng
một hình tượng tôn thờ tín ngưỡng hoặc một câu kinh.
Chính sự tập trung tinh thần này cũng nâng cao hiệu quả tập
luyện và là một lối thiền đi bộ tạo nên sự thư giãn
tâm hồn. Các nhà nghiên cứu đã cho biết rằng tập luyện
đều đặn hàng ngày với nhịp tim đập trong khoảng cho phép
như trên đem đến kết quả cao nhất. Tập luyện không đều
đặn hay tập thấp hơn 65% hoặc cao hơn 85% đều không đạt
kết quả mong muốn. Tập cao hơn nhịp tim đập tối đa còn
có thể gây chấn thương hoặc tử vong, như trường hợp điển
hình của hai tài tử bóng rổ Boston Red Sox Tony Conigliaro và
Peter Maravich chết khi đang chơi bóng rổ và lực sĩ dã trường
Jacques Bussereau chết khi đang chạy 1984 New York Marathon.
Trả
lời câu hỏi thứ 4: Có người xem lịch sử Việt Nam thấy
ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ, là một vị giác ngộ, thầy của
vua Trần Nhân Tông sơ tổ Thiền phái Trúc Lâm cũng ăn mặn
nên nói rằng ăn chay không cần thiết. Lý này là thế nào?
Có phải ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ ăn mặn không?
Việc
ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ ăn mặn hay ăn chay, lịch sử không
ghi chép rõ. Chỉ biết ngài ăn mặn trong một bữa tiệc
do em gái ngài, Hoàng Thái Hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm, thiết
đãi khách quí trong hoàng cung. Mặc dù trên bàn tiệc
có cả thức ăn chay và thức ăn mặn, nhưng ngài vẫn điềm
nhiên ăn thịt cá. Thái Hậu thấy lạ mới hỏi: "Anh tu
thiền mà ăn cá thịt thì thành Phật sao được?" Ngài cười
đáp: "- Phật là Phật, anh là anh. Anh không cần làm Phật,
Phật không cần làm anh.."
Trong
giai thoại này nảy sinh nhiều nghi vấn và có ít nhất hai
lời giải thích như sau:
Giải
thích thứ nhất cho rằng ngài là một vị cư sĩ thọ Bồ
Tát Giới tại gia, thầy của vua Trần Nhân Tông, sáng tổ
Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử, do đó không có ý gì nghi ngờ
về việc ngài ăn mặn hay ăn chay vì trong 10 giới trọng và
48 giới khinh của Bồ Tát Giới có giới cấm sát sinh (giới
trọng thứ nhất), giới cấm không được ăn tất cả thịt
của mọi loài chúng sinh (giới khinh thứ 3). Ngài đã
tu hành đạt đạo giải thoát, đã kiến tánh, đã thoát trần,
đã vượt qua bờ tương đối, thì chuyện giới hoặc không
giới, ăn chay hay ăn mặn không còn đặt ra với ngài nữa.
Một minh chứng rõ ràng là vua Trần Nhân Tông đã tán thán
ngài: “Sống chung đời tục, hoà ánh sáng với bụi
bặm; Với vạn vật chưa từng xúc phạm tới, hay làm nghịch
với lẽ đạo.” Vua Trần Nhân Tông đã ca ngợi
ngài, tuy sống cùng với thế tục mà không nhiễm ô, không
dính dấp với hồng trần. Vua cũng khen ngợi ngài có
một tấm lòng từ bi bao la vô lượng. Ngài đã thể hiện
tâm từ với tất cả chúng sinh, chưa từng xúc phạm tới
vạn vật, cả vật hữu tình lẫn vô tình, cũng như không
sống nghịch với lẽ đạo thì làm sao mà có thể cho rằng
ngài ăn thịt chúng sinh.
Còn
việc ngài ăn thịt cá trong bữa tiệc do em ngài khoản đãi
có thể là ngài khai thị riêng cho em ngài, nhằm đả phá quan
niệm sai lầm rằng ăn chay để thành Phật của Hoàng Thái
Hậu, ý muốn nói sự tu tâm mới là điều quan trọng. Ngài
là bậc giác ngộ, tâm đã bình đẳng, đã vượt thoát trói
buộc của nhân quả, ra khỏi qui luật của thế giới hiện
tượng tương đối, mọi sự việc xảy ra trong đời đối
với ngài chỉ còn là câu truyện trong giấc mộng đêm qua,
mọi hành động và lời nói của ngài đều tuôn ra từ cảnh
giới giải thoát, là tùy duyên phương tiện nói pháp cho chúng
sinh còn vướng mắc mà thôi.
Thái
độ của ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng nhằm đánh tan những
đầu óc bảo thủ, cố chấp, thường làm con người ta trở
thành kẻ nô lệ của mọi thứ và của cả chính mình. Ở
Tuệ Trung nổi bật một tinh thần “phá chấp” triệt để.
Ngài cực lực đả kích cái nhìn “nhị kiến" phân chia mọi
vật ra thành hai cực giá trị để gán cho nó một cực này
hoặc cực kia. Tuy nhiên, trong một dịp nói chuyện với
vua Trần Nhân Tông về ăn chay ăn thịt và trì giới với nhẫn
nhục ngài đã dặn nhỏ vua : “Đừng nói với những
người không hiểu biết, (Vật thị phi nhân)".
Lời dạy của ngài là chân lý, là rốt ráo, cứu cánh, nhưng
kẻ tầm thường thì không nên biết. Vì họ biết qua
lời này họ sẽ chấp.
Hoà
thượng Thanh từ có giảng trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ
Lục là “Những người tầm thường, họ không hiểu
nổi những ý nghĩa thâm sâu thì không nên nói cho họ nghe
có hại. Những câu này chỉ nói cho người xuất cách,
vượt khỏi tầm thường nghe, hạng người này mới có đủ
khả năng tiếp nhận…”( Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ
Lục Giảng Giải HT Thanh Từ Thường Viện Thường Chiếu VIỆT
NAM ấn hành 1996 trang 104 )
Cách
đây nửa thế kỷ, Hoà Thượng Thích Mật Thể cũng đã dặn
các đệ tử của ngài là: “Chỗ này rất nên chú ý:
đừng nên lầm sự vô ngại của các ngài đã giải thoát
(làm mà không trú tâm tham trước) với những hành vi phóng
túng buông lung mà nguỵ biện là giải thoát. Đối với
người tu hành bao giờ cũng phải lấy thanh tịnh trì giới
làm gốc” (V, tr. 155).
Và
theo lịch sử Thiền tông Trung Hoa, các vị Tổ kiến tánh cũng
thường có các hành động phá chấp vượt ra ngoài ý nghĩ
bình thường. Như thiền sư Đan Hà trèo lên cổ tượng Bồ
Tát Văn Thù ngồi, và chẻ tượng Phật lấy gỗ đốt để
sưởi. Các ngài làm thế vì muốn phá tâm chấp của
một số chúng sinh.
Còn
giải thích thứ nhì cho rằng ngài Tuệ Trung Thượng
Sĩ, mặc dù đã đạt đạo giải thoát nhưng là giải thoát
theo tư tưởng Lão Trang, cá thể hoà đồng với nhất thể
của vạn vật trời đất và chủ trương vui sống tự do phóng
khoáng theo quy luật tự nhiên. Lập thuyết này cho rằng
qua thơ văn và những tác phẩm của ngài hiện có cho thấy
được phần lớn tư tưởng của ngài, mà tư tưởng rõ nét
nhất của ngài là tư tưởng thiền, một thứ thiền có thể
nói là hỗn hợp thiền của Phật Giáo và thiền của Lão
Giáo Trung Hoa.
Qua
những thơ văn và tác phẩm của ngài để lại, ai cũng thấy
tư tưởng thiền của ngài hoàn toàn khai phóng, không chấp
trước, và giải thoát khỏi mọi ràng buộc. Nhưng cái
giải thoát của ngài là để hoà đồng với nhất thể của
vạn vật trời đất. Phải chăng đây cũng là tư tưởng
“vạn vật đồng nhất thể - tiểu ngã hoà đồng với đại
ngã của Áo Nghĩa Thư"? Ngài cho rằng: “ăn cỏ hay ăn
thịt là tập quán tự nhiên của mỗi loài khác nhau, điều
đó cũng là tự nhiên như mùa xuân đến thì cây cỏ mọc,
cũng chỉ là “lẽ sống” của muôn loài, không có chuyện
tội hay phúc ở đây.
Với
chủ trương tự do phóng khoáng, sống theo quy luật tự nhiên,
thì phải sống theo sự vận hành của trời, đất, của bốn
mùa, của môi trường sống chung quanh và sống theo con người.
Cho nên qua văn thơ của ngài, chúng ta thấy ngài sống rất
tự nhiên, như nơi ngài đến, bến ngài tắm, họ đều như
thế cả, lẽ nào làm khác đi, ngài chỉ tuỳ nghi: “Vào
nước mình trần bỏ áo đi, Phải đâu quên lễ chỉ tuỳ
nghi.”...Ngài đã hoà cùng ánh sáng, đồng nhất với bụi
bặm tức “biết hào quang đồng trần” (tư tưởng
của Lão Tử). Thế cho nên việc ngài không ăn chay là
chuyện bình thường, cũng như chuyện ngài có thê thiếp cũng
là lẽ thường đối với ngài.
Có
thể ngài là một người đã tu chứng cao siêu, không còn tâm
chấp và phân biệt, đã đạt đạo giải thoát, dù là giải
thoát theo tư tưởng của Lão Tử hay theo tư tưởng Phật Giáo
(?) thì những lời ngài để lại cho hậu thế cũng là những
khuôn vàng thước ngọc, nhất là vị trí của ngài trong lịch
sử. Ngài là chú của vua và cũng là Thầy của Sơ Tổ
Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử Trần Nhân Tông .
Trường
hợp những người hậu thế chúng ta, nếu cứ y cứ theo sách
vở ghi chép về ngài bắt chước, sống theo quy luật tự nhiên,
đói thì ăn, mệt thì ngủ, là trai phải có vợ, là gái phải
có chồng và sinh con đẻ cái, nếu trong một môi trường xã
hội đa thê thì lấy nhiều vợ, đa phu thì lấy nhiều chồng;
thì liệu chúng ta có thể tự giải thoát ra khỏi vòng sinh
tử luân hồi mà Phật giáo chủ trương chăng? Hay là bị môi
trường cuốn hút và trôi lăn mãi trong vòng tử sinh?
Đó
là hai cách giải thích, chúng tôi nhường lời cho quý vị
cao minh.
Tâm
Diệu