Phần
3
Hỏi:
Trong
câu duy tâm sở hiện và nhất thiết duy tâm tạo, chữ tâm
đó vừa là chân tâm cũng là vọng tâm phải không?
Đáp:
Nói
“duy tâm”, tâm này là vọng tâm cũng là tác dụng của bộ
óc. “Nhất thiết duy tạo” đều là do bộ óc nhận thức
sai lầm, mới có hiện tượng thế giới vũ trụ vạn vật
này. Bát Nhã Tâm Kinh nói “vô vô minh diệc vô vô minh tận,
vô lão tử diệc vô lão tử tận”, không có già chết làm
sao có già chết hết, già chết hết là Niết bàn; vô minh
vốn không có làm sao hết vô minh, hết vô minh thành Phật.
Phật nói không có sanh tử, nhưng thấy sanh tử rõ ràng, người
nào cũng có sanh tử. Tại sao Phật nói không có sanh tử? Vậy
Phật nói gạt mình sao! Vì sanh tử đó là do vọng tâm hoạt
động mới có.
Như
thân mình xoay phải thấy căn nhà xoay, tâm mình hoạt động
phải thấy sanh tử luân hồi; muốn căn nhà ngưng xoay thì
thân ngưng xoay, muốn sanh tử không còn thì tâm ngưng hoạt
động. Tâm hoạt động ban đêm tạo ra cảnh nhắm mắt chiêm
bao, trong Duy thức gọi là độc đầu Duy thức biến hiện.
Một mình ý thức biến hiện ra nhắm mắt chiêm bao.
Ban
đêm ngủ, nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân (ngũ căn), 5 thức này
ngưng hoạt động, chỉ có một mình thức thứ 6 hoạt động
biến ra cảnh nhắm mắt chiêm bao. Cho nên mình ngủ trong phòng
mà không thấy đồ vật trong phòng, nhưng thấy xa thấy Việt
Nam, bên Tây, bên Tàu… đó gọi là pháp trần. Đối với
ngũ căn gọi là tiền trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc).
Lúc ngũ căn trước ngưng hoạt động thì ngũ trần trước
không thấy được, chỉ là thấy pháp trần; tức là thấy
ở xa, thấy quá khứ, thấy vị lai. Như chứng quả A la hán
thấy được 80 muôn kiếp trước và 80 muôn kiếp sau đều
do tâm mình. Tâm mình hoạt động tự nhiên thấy có sanh tử
luân hồi.
Mở
mắt chiêm bao gọi là đồng thời ý thức biến hiện. Nhãn,
nhĩ, tỷ, thiệt, thân, 5 thức này hoạt động bình thường
và thức thứ 6 cùng hoạt động. Nhĩ thức nghe tiếng nhưng
nhĩ thức không phân biệt tiếng người lớn, tiếng con nít,
tiếng đàn ông, tiếng đàn bà…, phải có thức thứ 6 đồng
thời nổi lên, mới phân biệt tiếng đàn ông, tiếng đàn
bà… được rõ ràng. Nếu chỉ có thức thứ 6 không nghe được
tiếng thì lấy gì để phân biệt. Cho nên, phải hai thức
hợp tác đồng thời nổi lên biến hiện ra mở mắt chiêm
bao.
Do
vọng tâm biến hiện, tức là bộ óc nhận biết sai lầm mới
có. Như mình thấy một bức tranh đẹp, thấy có cao thấp
rõ ràng thành một bức tranh đẹp là do có cảm giác sai lầm,
nếu dùng tay rờ thì biết không có cao thấp; không có cao
thấp thì không thành bức tranh. Mình coi chiếu phim giống như
thật, do cảm giác sai lầm nên thành tựu cuốn phim. Nếu không
có cảm giác sai lầm thì cuốn phim đó thành những bức tranh
chết.
Hiện
tượng thế giới vũ trụ vạn vật, muôn ngàn sai biệt là
do nhận thức sai lầm của bộ óc; cho nên gọi là nhất thiết
duy tâm tạo. Nếu mình ở trong mở mắt chiêm bao thức tỉnh
thì sai lầm hết là đến chỗ chân thật (chân tâm), nên tất
cả tai họa phiền não không còn. Chỗ chân thật không có
tương đối, nếu các chúng sanh đi đến chỗ giác ngộ, như
tất cả đèn đều chung một ánh sáng; tức là hưởng cùng
một hạnh phúc chung, chứ không còn xẩy ra tai họa. Như bây
giờ chiến tranh Trung đông ảnh hưởng khắp thế giới, người
trực tiếp ảnh hưởng bị chết, người gián tiếp chịu
cuộc sống nặng nề thêm.
Hỏi:
Làm
sao phân biệt vô thỉ vô minh với tự tánh?
Đáp:
Vô
thỉ vô minh mà bây giờ tôi nói tham thoại đầu. Tại sao
gọi là thoại đầu? Thoại là một lời nói, đầu là trước
khi một lời nói; mình muốn nói một lời nói phải khởi
niệm lên rồi nói ra. Thoại đầu là chưa khởi niệm muốn
nói, nếu khởi niệm muốn nói nhưng chưa nói ra miệng gọi
là thoại vỉ. Tham thiền gọi là tham thoại đầu, muốn dùng
nghi tình đến một niệm chưa sanh khởi. Chỗ một niệm chưa
sanh khởi gọi là vô thỉ vô minh.
Ví
dụ trên đầu cây viết là thoại đầu, dưới đầu cây viết
là thoại vỉ; đề câu thoại đầu lên như “khi chưa có
trời đất ta là cái gì?” Cảm thấy không biết. Không biết
này là nghi tình cũng là đường đi của ý thức, dùng không
biết của ý thức đang đi giữa đường, một ngày kia đến
thoại đầu thì đường đi ý thức đã hết, trước thấy
thanh thanh tịnh tịnh không còn gì nữa, chỗ đó là thoại
đầu cũng là vô thỉ vô minh. Ngoại đạo và Tiểu thừa đến
chỗ này cho là đến cứu cánh Niết bàn. Sự thật chỗ này
còn dính líu ý thức, chỗ này là nguồn gốc của ý thức.
Chính chỗ này là vô thỉ vô minh, nổi lên một niệm gọi
là nhất niệm vô minh.
Bây
giờ mình sống hằng ngày trong tương đối đều là nhất
niệm vô minh, từ nhất niệm này qua nhất niệm kia ngày đêm
không ngừng; ban đêm hiện ra cảnh giới nhắm mắt chiêm bao,
ban ngày hiện ra cảnh giới mở mắt chiêm bao. Tham thiền là
dùng nhất niệm vô minh đi đến chỗ vô thỉ vô minh. Thiền
tông gọi là đầu sào trăm thước, từ đầu sào trăm thước
bước lên một bước là kiến tánh, tức là rời khỏi ý
thức. Sát na rời khỏi ý thức là kiến tánh, tức là phá
vô thỉ vô minh.
Kiến
tánh của Thiền tông cũng có tiểu ngộ và đại ngộ: tiểu
ngộ gọi là tiểu tử tiểu hoạt, như ngài Lai Quả nói “từ
đầu sào trăm thước tiến lên một bước lọt vào hư không
té xuống cho chết rồi sống lại”. Mặc dù té chết nhưng
còn cái xác, sống lại gọi là tiểu tử tiểu hoạt. Đại
tử đại hoạt là té chết mà cái xác tan rã hết rồi sống
lại. Cái xác đó dụ cho cảnh giới ngộ, cũng như Tiểu thừa
chứng quả A la hán còn ôm quả A la hán cho là thật, không
buông; cho nên bị Phật quở “tiêu nha bại chủng” (hạt
lúa cháy không làm hạt giống).
Đại
ngộ không trụ nơi cảnh giới ngộ, cho nên nói “ngộ rồi
đồng như chưa ngộ”. Tại sao? Vì có mê mới có ngộ, nếu
ngộ triệt để thì không có mê; hết mê phải hết ngộ,
vì không có sự mê ngộ làm tương đối. Tiểu ngộ còn ôm
cái ngộ, tức là trụ nơi ngộ thì còn mê để tương đối.
Lúc đại ngộ thì luôn cái ngộ cũng không còn, nếu còn có
ngộ nên còn có mê; tức là cái xác cũng tan rã, không còn
cái gì nữa. Tự tánh mình cùng khắp không gian thời gian,
không trụ ở chỗ nào. Như kinh Kim Cang nói “ưng vô sở trụ
nhi sanh kỳ tâm” là không trụ nơi nào gọi là vô sở trụ.
Ví
dụ cái tay cho chân tâm hoạt bát vạn năng, lấy cái tách,
cây viết, cái bình… đều được; nếu trụ cây viết thì
lấy cái gì không được, nên cần buông cây viết để khôi
phục cái dùng của tay. Cây viết này là pháp có, lại tự
làm nắm tay thì cái dùng của tay bị mất nên lấy thứ gì
cũng không được. Vì vậy, nắm tay cũng phải buông mới khôi
phục cái dùng của tay. Hoạt bát vạn năng của giác tánh
là chân tâm mình sẵn có như vầy.
Có
sở trụ thì cái dụng bị mất, trụ nơi có hay nơi không
đều bị mất cái dụng; trụ nơi Niết bàn hoặc Phật cũng
vậy. Vì thế, phải đại ngộ, còn tiểu ngộ bị cái ngộ
chướng ngại, cái dụng không hoạt bát vạn năng. Cho nên
nói “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, sanh kỳ tâm là dụng
của giác tánh; phải vô trụ mới hoạt bát vạn năng thì
dụng khắp không gian thời gian, gọi là Phật pháp vô biên.
Lục Tổ nói “lấy vô trụ làm gốc”, nghĩa vô trụ bất
nhị là nghĩa vô thỉ vô sanh.
Hỏi:
Phá
vô thỉ vô minh bằng cách nào?
Đáp:
Tham
thoại đầu một ngày nào sẽ đến vô thỉ vô minh (thoại
đầu) thì câu thoại tự mất, nhưng nghi tình ngày đêm không
giây phút gián đoạn; muốn buông bỏ nghi tình cũng không buông
bỏ được, tức là công phu đã thành khối 24/24. Từ thoại
đầu tiến tới nữa là kiến tánh; có người bị đánh bạt
tai, đi vấp té, nghe người ta hát… được kiến tánh; bất
cứ thấy cơ duyên gì cũng kiến tánh, vì công phu đã đến
mức (thoại đầu).
Tham
thoại đầu là mục đích đến thoại đầu, đến thoại đầu
rồi mình không muốn kiến tánh cũng không được. Bởi vì,
đã đến nơi mà nói chưa đến làm sao được! Cứ tham thiền
miên mật hỏi câu thoại đầu, như hỏi “khi chưa có trời
đất ta là cái gì?” Hỏi khít khít đừng cho có kẻ hở,
hỏi rồi cách một hồi hỏi nữa là có kẻ hở thì vọng
tưởng nổi lên. Khi phiền não vọng tưởng nổi lên thì nghi
tình bị gián đoạn, hỏi khít khít gọi là công phu miên mật
không có kẻ hở, vọng tưởng phiền não không nổi lên.
Tham
thiền không có kẻ hở, tham một phút thì một phút không
phiền não, tham một tiếng thì một tiếng không có phiền
não, tham được một ngày thì một ngày không có phiền não,
như vậy liên tiếp sẽ đưa mình đến chỗ giác ngộ.
Hỏi:
Pháp
môn Tổ sư thiền dành cho thượng căn, chúng con phàm phu hạ
căn làm sao dám theo được?
Đáp:
Giác
tánh vốn bất nhị không có cao thấp, không có thượng căn
với hạ căn. Tâm chấp thật nên có thượng căn hạ căn.
Tổ Bác Sơn của tông Tào động nói “tham thiền có thể
chuyển mạt pháp thành chánh pháp, chuyển hạ căn thành thượng
căn”. Giáo môn nói chánh pháp 1.000 năm, tượng pháp 1.000
năm và mạt pháp 10.000 ngàn năm; bây giờ là thời kỳ mạt
pháp. Nói mạt pháp chuyển thành chánh pháp mà tôi chưa chứng
tỏ, còn hạ căn chuyển thành thượng căn, tôi ở Việt Nam
đã chứng tỏ.
Nhiều
người tham thiền tự cho là hạ căn, do coi kinh Phật không
hiểu, theo tôi tham thiền nửa năm một năm phát được trí
huệ coi kinh hiểu. Đầu năm 1980, tôi và một số Phật tử
tham đến Phật Học Viện hỏi các vị học Tăng, có cái trả
lời được, có cái trả lời không được. Những học Tăng
hỏi lại Phật tử thì Phật tử đều trả lời được. Chứng
tỏ chuyển hạ căn thành thượng căn. Tại sao? Phật pháp
là pháp bất nhị không tương đối, làm sao có hạ căn và
thượng căn! Có thượng căn và hạ căn do chấp tâm mới có.
Đường
Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền có 2 cơ bản: tin tự tâm
và phát nghi tình. Phải tin tự tâm mình có tất cả thần
thông biến hóa, trí tuệ bằng Phật Thích Ca, không kém một
chút nào. Nếu kém một chút là có cao thấp, không phải bình
đẳng; có cao thấp là nhị, không phải lời của Phật Thích
Ca nói “Phật tánh của chúng sanh và Phật tánh của chư Phật
bình đẳng bất nhị”. Nếu không tin tự tâm làm sao phát
hiện tự tâm? Phật pháp mục đích phát hiện tự tâm, gọi
là kiến tánh thành Phật.
Tôi
có đề ra 3 đứa bé gái: Long nữ 8 tuổi kiến tánh, cô bé
họ Trịnh 13 tuổi kiến tánh, cô bé họ Tô 15 tuổi kiến
tánh. Kinh Pháp Hoa nói “người nữ không thể thành Phật”,
nhưng sự thật trong kinh Pháp Hoa có Long nữ 8 tuổi thành Phật.
Không phải tu lâu hay mới tu mà nói là thượng căn hạ căn.
Tôi nói Lục Tổ là người không biết chữ kiến tánh, người
ta nói là Bồ tát tái lai. Chư Tổ nói “ai nói Bồ tát tái
lai là vọng”. Bởi vì, Phật tánh của mình, Phật tánh của
Bồ tát và của chư Phật đều bằng nhau. Mình không biết
kiếp trước mình là sao! Kiếp trước đã gieo trồng thiện
căn thì kiếp này mau kiến tánh.
Cho
nên, đừng tin Lục Tổ là Bồ tát tái lai, chư Tổ cũng đã
phủ nhận. Tất cả Bồ tát tái lai là tâm tạo, hiện tượng
thế giới đều do tâm tạo. Ban đêm ngủ tạo ra nhắm mắt
chiêm bao, ban ngày tạo ra mở mắt chiêm bao. Người đời chỉ
cho nắm mắt chiêm bao là chiêm bao, còn mở mắt chiêm bao không
phải chiêm bao. Nhưng sự thật mở mắt chiêm bao cũng là chiêm
bao. Tại sao? Vì một thức biến hiện và hai thức biến hiện
đều là thức. Thức (tâm) biến hiện là chiêm bao, nên Phật
nói “tất cả do tâm tạo”.
Tâm
tạo nên không phải thật, vì vậy Phật dạy pháp thiền trực
tiếp để đến chỗ giác ngộ, tự mình chứng tỏ. Như nhắm
mắt chiêm bao thức tỉnh, chứng tỏ nhắm mắt chiêm bao không
thật; mở mắt chiêm bao thức tỉnh thì chứng tỏ mở mắt
chiêm bao cũng không thật, chỉ do tâm tạo. Đó là mục đích
Phật độ chúng sanh.
Hỏi:
Kinh
Viên Giác nói “thân và tâm của tất cả chúng sanh đều
như huyễn”. Vậy tự tâm ở đâu sanh ra?
Đáp:
Phật
đã nói là “vô thỉ” (không có bắt đầu), nếu thật có
bắt đầu là sanh, không bắt đầu là vô sanh, cho nên người
chứng quả ngộ pháp vô sanh, chứng vô sanh pháp nhẫn. Pháp
đã vô sanh làm sao có câu hỏi trên? Vậy không thể nói từ
đâu sanh ra! Truy cứu tất cả vũ trụ vạn vật không cái
nào có lý bắt đầu.
Như
con gà và trứng gà, nói con gà trước tiên được không? Không
được. Tại sao? Vì không có trứng gà thì không ấp ra con
gà. Trái lại, nói trứng gà bắt đầu được không? Cũng
không được. Tại sao? Không có con gà thì không đẻ ra trứng
gà. Hai cái đều không có bắt đầu là nghĩa vô sanh.
Cái
bàn làm bằng cây, nói cây bắt đầu được không? Không được.
Không hạt cây làm sao mộc lên cây! Nói hạt cây bắt đầu
được không? Không được. Không có cây thì không sanh ra hạt
cây. Cũng như con gà và trứng gà vậy.
Người
cho sanh là bắt đầu, chết là cuối cùng. Ngài Long Thọ là
Tổ 14 của Thiền tông có một cuốn Trung Quán Luận, trong
đó có một bài kệ để thuyết minh sanh tử không có bắt
đầu. Tại sao? Giả tỷ sanh là bắt đầu thì khỏi cần tử
có sanh, tức lìa tử, độc lập. Nếu sanh đã lìa tử độc
lập thì sanh khỏi tử. Nhưng bây giờ có người nào có sanh
mà khỏi tử không? Không có sinh vật nào có sanh mà không
có tử. Sanh với tử không thể lìa nhau được, nên nói sanh
bắt đầu là không đúng. Sanh tử không có bắt đầu thì
tất cả đều không có bắt đầu, vì tất cả do sanh tử
mới có.
Hỏi:
Kính
xin Thiền sư giải thích con chó có Phật tánh không?
Đáp:
Đây
là công án của Triệu Châu:
Tăng
hỏi Triệu Châu: con chó có Phật tánh không?
Triệu
Châu đáp: có.
Tăng
khác hỏi: con chó có Phật tánh không?
Triệu
Châu đáp: không.
Tại
sao người hỏi nói có, người hỏi nói không? Vì chư Phật
chư Tổ nói, ý không phải trong lời nói; chỉ dùng phương
tiện phá chấp của đương cơ. Người chấp có Phật tánh
thì nói là không, dùng cái không để phá chấp có. Người
chấp không thì nói có, dùng cái có để phá chấp không. Đó
là nghĩa vô sở trụ, kinh Lăng Già nói “lìa tứ cú, tuyệt
bách phi”. Tứ cú là gì? Có là cú thứ nhất, không là cú
thứ nhì, cũng có cũng không là cú thứ ba, chẳng có chẳng
không là cú thứ tư.
Chúng
sanh chấp cái có thì Phật nói không, dùng cái không làm công
cụ để phá; chúng sanh chấp cái không thì Phật thấy bệnh
chấp vẫn còn, dùng cái có làm công cụ để phá; chúng sanh
thấy Phật phá có phá không cho là chẳng có chẳng không thì
chấp chẳng có chẳng không nên bệnh chấp vẫn còn, Phật
phải dùng cũng có cũng không để phá; cuối cùng cho cũng
có cũng không là chân lý, chấp cũng có cũng không cũng là
bệnh nên Phật trở lại dùng chẳng có chẳng không để phá.
Như
vậy tứ cú đều phá hết, có cũng phá, không cũng phá, chẳng
có chẳng không cũng phá, cũng có cũng không cũng phá, gọi
là lìa tứ cú; tức là không trụ nơi có, không trụ nơi không,
không trụ nơi chẳng có chẳng không, không trụ nơi cũng có
cũng không, là nghĩa vô sở trụ. Nghĩa vô sở trụ của Phật
tánh là hoạt bát vạn năng, cái dụng vô lượng vô biên.
Nếu có sở trụ thì cái dụng bị mất.
Cho
nên, người chấp có thì Triệu Châu nói không, người nói
không thì Triệu châu nói có. Đó chỉ là dùng để phá chấp,
sự thật chẳng phải có, chẳng phải không, cũng không phải
chẳng có chẳng không, cũng không phải cũng có cũng không.
Việc này phải tự ngộ mới biết, chưa ngộ cứ dùng bộ
óc truy cứu thì ở trong tương đối hoài. Vì vậy, Phật không
thể nói ra, kinh Kim Cang nói “ai nói Phật có thuyết pháp,
người ấy phỉ báng Phật” và “không có pháp nhất định
để cho Như lai thuyết” mà cũng nói “vô pháp khả thuyết
gọi là thuyết pháp”.
Hỏi:
“Tuyệt
bách phi” nghĩa là gì?
Đáp:
Phi
là sai lầm, sai là đối với đúng cũng là tương đối, vì
có đúng mới có sai và có sai mới có đúng. Nếu vô sở trụ
là lìa tứ cú thì tất cả đúng cũng phải lìa, sai cũng phải
lìa. Nếu cho là sai phải có đúng để tương đối, còn nằm
trong tương đối là có sở trụ, trụ chỗ sai.
Có
người hỏi ngài Nguyệt Khê: tôi ăn cơm không chấp trước
ăn cơm, mặc áo không chấp trước mặc áo, nói chuyện không
chấp trước nói chuyện, cái gì cũng không chấp trước. Vậy
có đúng với phương pháp của Thiền tông không?
Nguyệt
Khê nói: không đúng. Ông nói không chấp trước tức là đã
chấp trước rồi. Nếu không chấp trước tại sao còn biết
mặc áo ăn cơm? Còn biết không chấp trước? Biết không chấp
trước là đã chấp trước. Bây giờ phải dùng không chấp
trước để nhìn ngay vô thỉ vô minh mà tham cứu, tức tham
thoại đầu. Sau khi ngộ tự nhiên không chấp trước. Dùng
bộ óc phân biệt không chấp trước là chấp trước.
Hỏi:
Ngồi
thiền nghe tiếng và thấy Phật, vậy đúng chánh pháp không?
Vì Phật nói trong kinh Kim cang “nếu thấy hình và nghe tiếng
cho là Phật, người ấy hành tà đạo”. Kính xin Thầy chỉ
dạy?
Đáp:
Giác
tánh không có hình tướng, làm sao thấy! Cho nên, kinh Kim Cang
nói “nếu dùng sắc để thấy ta hay dùng âm thanh để cầu
ta, người ấy hành tà đạo, chẳng thể thấy được Như
lai”. Nếu có âm thanh Phật để nghe, có hình tướng Phật
để thấy đều nghịch với chánh pháp. Nếu dùng cái này
để dạy người thì phải bị đọa địa ngục, không những
thầy đọa địa ngục mà trò cũng đọa theo (trong 50 thứ
ma ngũ ấm của kinh Lăng Nghiêm nói rõ).
Hỏi:
A
la hán không còn sanh tử, có thể trả quả sát sanh trong lúc
tu hành khi đã tạo hay vô tình tạo không?
Đáp:
Giác
tánh là bất nhị, không có tương đối.
Kinh
Hoa Nghiêm nói:
Nhược
nhân dục liễu tri,
Tam
thế nhất thiết Phật.
Ưng
quán pháp giới tánh,
Nhứt
thiết duy tâm tạo”.
Đã
nói nhứt thiết duy tạo thì tâm tạo mới có, tâm tạo ban
đêm là cảnh giới nhắm mắt chiêm bao, tâm tạo ban ngày là
cảnh giới mở mắt chiêm bao. Chiêm bao thì không thật, cho
nên nói tất cả đều huyễn hóa. Sát sanh ở trong chiêm bao,
nếu không ra ngoài chiêm bao phải chịu nhân quả trong chiêm
bao. Trong chiêm bao được thức tỉnh thì thân chiêm bao không
còn, ai còn chịu quả chiêm bao?
Mười
mấy năm nay người ta đi vượt biên, có nhiều tiền mới
đi vượt biên được. Ở trên biển ăn hết lương thực phải
chịu chết đói. Những người có tiền đâu nghĩ mình bị
chết đói! Vì kiếp trước họ đã gieo nhân chết đói, đã
làm cho người ta chết đói thì kiếp này phải chịu quả
chết đói, có tiền cũng phải chịu chết đói.
Phật
nói “nhứt thiết duy tâm tạo”, tâm lực yếu tạo nhân
yếu thì cái quả kéo lại sau, tâm lực mạnh tạo nhân mạnh
thì quả đến trước. Như người thiếu nợ nhiều người,
chủ nợ thế lực mạnh phải trả trước, chủ nợ thế lực
yếu trả sau.
Thí
dụ người không có tu tâm lực 1 độ, người tu đến thành
Phật tâm lực 1 triệu độ. Kiếp trước tạo cho người ta
chết đói, không có tu tâm lực 1 độ, kiếp này không có
tu thì tâm lực cũng 1 độ, có tiền cũng bị chết đói. Cho
nên, mười mấy năm nay vượt biên chết đói biết bao nhiêu
là những người có tiền, vì họ gieo nhân chết đói.
Tham
thiền từ 1 độ lên 10 độ, mặc dù nhân mới làm thiện
thì cái quả sẽ đến trước, nhân làm cho người ta chết
đói kéo lại sau. Giả tỷ tâm lực 10 độ, mình không tham
thiền nữa thì quả 10 độ hết đến tâm lực 1 độ cũng
phải chịu quả chết đói. Nếu từ 10 độ mà mình không
ngưng tham thiền, tiếp tục tham cho đến 1 triệu độ thành
Phật. Phật nào cũng phải độ chúng sanh, những người mình
làm chết đói thì có quyền ưu tiên độ trước. Tuy đã thành
Phật nhưng nhân vẫn còn, mình phải trở lại độ người
ấy giải thoát tất cả khổ.
Hỏi:
Khi
ngộ rồi thì học nhân phải gì?
Đáp:
Lúc
đó người ngộ tự biết, như nói “người uống nước lạnh
nóng tự biết”. Bây giờ mình chỉ lo việc đi đến chỗ
ngộ thì lúc ngộ tự biết, như Phật Thích Ca đã ngộ, ở
Trung Quốc có 7.000 Tổ ghi trong lịch sử Thiền tông đã ngộ,
các vị không thể nói cho mình biết, chỉ dạy đường lối
thực hành để cho mình tự ngộ. Nếu nói được thì Phật
Thích Ca đã nói cho mình biết, mình khỏi cần tu, khỏi cần
ngộ; việc đó người ngộ tự biết.
Hỏi:
Chấp
thường kiến của ngoại đạo và tin tự tâm bất sanh bất
diệt của đạo Phật khác nhau như thế nào?
Đáp:
Thường
kiến của ngoại đạo là có sở trụ, Phật pháp là vô sở
trụ. Thường kiến ngoại đạo chấp cái có là thật, đoạn
kiến là chấp cái không là thật; tức là thường kiến ngoại
đạo trụ nơi có, đoạn kiến ngoại đạo trụ nơi không.
Phật pháp không trụ nơi có, cũng không trụ nơi không. Ngoại
đạo và đạo Phật khác nhau là có sở trụ và vô sở trụ.
Hỏi:
Tại
sao có nhiều Phật?
Đáp:
Vì
có nhiều chúng sanh nên có nhiều Phật, vô lượng vô biên
chúng sanh thì phải có hằng hà sa số chư Phật.
Hỏi:
Xin
Thầy giải thích nguyên nhân đầu tiên, nói một cách khác
là ai tạo thiên lập địa?
Đáp:
Tất
cả các tôn giáo khác, ngoài đạo Phật thành lập có chỗ
bắt đầu và kiến lập chân lý; còn Phật Thích Ca đã nói
là vô thỉ, tức không có sự bắt đầu; cho nên nói là vô
sanh, người chứng quả ngộ pháp vô sanh.
Hỏi:
Văn
minh Do Thái, Thiên Chúa chủ trương khoa học, nhờ vậy nhân
loại ngày nay càng ngày càng tốt đẹp hơn, đời sống dài
hơn, phương tiện tốt hơn; tức là con người thể hiện dùng
sức thần thông, Phật giáo cho là càng ngày càng xấu hơn,
tuổi thọ ít hơn cho đến khi Phật Di Lặc ra đời. Kính xin
Thầy giải thích?
Đáp:
Bây
giờ mình thấy xã hội trước mắt: khi chưa phát minh một
cái máy, phải cần 100 người làm việc để đủ một số
sản phẩm, khi phát minh một cái máy chỉ cần 3 người làm
việc thì sản xuất đủ một số sản phẩm, cho nên 97 người
thất nghiệp. Sản xuất đồ này tiêu thụ trong thị trường,
97 người thất nghiệp thì sự tiêu thụ bớt lại, vì họ
không có tiền. Nhưng đồ sản xuất lại tăng thêm, sức tiêu
thụ giảm bớt.
Đó
trở thành mâu thuẫn tương đối, phát minh máy móc nhiều
chừng nào thì thất nghiệp nhiều chừng nấy. Những người
thất nghiệp không có nghề chân chánh để sống, nên họ
phải làm nghề lường gạt để sống hay có khi làm loạn
trật tự xã hội. Những người có trách nhiệm giữ trật
tự cũng không giữ nổi.
Lại,
phát minh là tiện cho giao thông, mà bây giờ xe hơi nhiều quá
làm cho giao thông thường bị tắt nghẽn. Thống kê toàn nước
Mỹ mỗi ngày tai nạn xe hơi chết trên năm mươi mấy người,
bị thương chưa kể đến, sau này tai nạn có thể tăng lên
nữa.
Thuốc
men tiến bộ trị bệnh mau hết, nhưng các bệnh khác phát
triển còn nhanh hơn; dù dùng thuốc mới để trị cũng không
trị hết bệnh. Vì ở trong tương đối có lợi phải có hại,
tất cả tai họa do bộ óc làm chủ thì có ngã chấp, cái
gì tôi cũng phải hơn ông, nên giành giựt lợi ích của cá
nhân để thỏa mãn dục vọng của cá nhân.
Vì
vậy phải có sự xung đột đấu tranh với nhau, có hơn thua,
thắng bại. Bên thất bại có thể bị chết hay quyền lợi
tài sản tổn thất nặng nề, bên thắng lợi mặc dù khỏi
chết cũng phải bị thương, không tổn thất nặng cũng phải
tổn thất nhẹ. Bên thắng và bên thất bại, hai bên đều
bị tổn thất. Từ cá nhân, chủng tộc, quốc gia… thắng
và bại đều phải tổn hại từ sinh mạng cho đến tài sản,
mà khắp thế giới đều bị ảnh hưởng.
Khoa
học tiến bộ nhiều chừng nào thì vũ khí giết hại nhiều
chừng nấy, khoa học sản xuất để cho mình dùng thì có lợi.
Để đáp ứng dục vọng của mình, sản xuất ra nhiều vũ
khí tối tân bảo thủ quyền lợi của mình thì phải có sự
đấu tranh. Phật Thích Ca biết những lỗi đó là do bộ óc
chấp ngã. Hết ngã chấp thì khoa học tiến bộ đem lại hạnh
phúc cho con người chỉ có lợi không có hại. Nếu cho bộ
óc làm chủ điều khiển thì tai hại mãi mãi.
Phật
pháp chuyển chủ quyền của bộ óc để cho giác tánh, nếu
giác tánh được làm chủ sai khiến bộ óc làm việc, thì
khoa học tiến bộ mới đem lại cho con người được hạnh
phúc không giới hạn. Đó cũng là mục đích của Phật pháp
độ chúng sanh.
Hỏi:
Tại
sao người tu Tịnh độ không thể vãng sanh?
Đáp:
Người
tu Tịnh độ nếu được vãng sanh có thể tu tiếp thành Phật,
nhưng muốn được vãng sanh phải tu đúng tông Tịnh độ.
Tham Tổ sư thiền phải đúng tông chỉ Tổ sư thiền, người
tu chỉ quán phải đúng tông Thiên thai. Theo tôi biết người
tu Tịnh độ không có một người tu đúng tông chỉ Tịnh
độ. Tại sao tôi dám nói vậy? Vì tôi trước kia có hoằng
Tịnh độ mười mấy năm, chưa có gặp người nào tu đúng
theo tông chỉ Tịnh độ.
Tông
chỉ Tịnh độ là cái gì? Là tín, nguyện, hạnh. Thế nào
gọi là tin? Có 3 thứ tin. Thế nào gọi là nguyện? Có 2 thứ
nguyện. Thế nào gọi là hành? Có 2 thứ hành. Trước kia tôi
ở Việt Nam hỏi người dạy Tịnh độ: Thế nào là 3 thứ
tin, 2 thứ nguyện, 2 thứ hành? Họ trả lời không được.
Người dạy còn không biết, người học làm sao biết được?
Trong
kinh Di Đà nói cái nguyện ba bốn lần, quyết định được
vãng sanh là do cái nguyện; mà cái nguyện chân thật là do
cái tin, tất cả tông phái nào đầu tiên là phải tin.
Như Thiền tông nói “tin mười phần thì cái nghi được mười
phần, nghi mười phần thì cái ngộ được mười phần”.
Người tu Tịnh độ không có người nào đi đúng theo tông
chỉ Tịnh độ. Tại sao? Họ không thực hành đại nguyện
của mình phát.
Cái
nguyện có hai thứ: tiểu nguyện và đại nguyện.
Tiểu
nguyện là chỉ cầu cho một mình được vãng sanh thì không
đúng với nhân quả, không hợp nhân quả, cho nên không được
vãng sanh. Bởi vì vãng sanh là không đi đầu thai để trả
nợ. Vì vậy phải phát đại nguyện, nhân lành được phước
báo, nhân ác phải chịu khổ báo. Trước kia mình từ nhỏ
đến lớn có giết chết một con muỗi, một con kiến không?
Có ăn thịt gà, thịt heo không? Nếu có phải đầu thai để
trả nợ, làm sao được vãng sanh! Muốn vãng sanh kiếp sau
trả thì phải phát đại nguyện.
Hai
chữ hồi hướng người ta cũng hiểu lầm, hồi hướng là
phá ngã chấp; hồi hướng của người ta hiểu là tăng cường
ngã chấp, tức các việc làm là công đức của tôi; thương
người này hồi hướng cho người này, thương người kia hồi
hướng cho người kia. Đó là bác ái của ngoại đạo chứ
không phải từ bi của Phật pháp. Hồi hướng của Phật pháp
là các công đức tôi làm chung cho chúng sanh, bất quá tôi
chỉ là một trong chúng sanh, không phải của tôi để cho người
này người kia.
Cho
nên, Giáo môn phá hết ngã chấp thập hồi hướng mới lên
sơ địa Bồ tát. Mình làm tất cả công đức đều là chung
của tất cả chúng sanh, vì chúng sanh đều là chủ nợ của
ta. Mình phát nguyện tất cả chúng sanh cùng mình đều được
vãng sanh. Những người chưa được vãng sanh, mình trở lại
độ họ được vãng sanh, tức là chủ nợ thịt nợ mạng
của mình đều độ hết. Nếu phát nguyện như vậy phải
xem tất cả chúng sanh bình đẳng. Nhưng mình chỉ phát nguyện
là miệng nói tâm nghĩ, không có thực hành cái đại nguyện
của mình phát, gọi là nguyện suông nguyện giả. Nguyện suông
nguyện giả thì không thể vãng sanh.
Như
mình có trương mục ngân hàng không có tiền hay tiền ít quá
không đủ trả họ, chủ nợ rất nhiều. Nhưng mình không
có tiền rồi ký ngân phiếu hẹn năm năm mười năm trả (hẹn
thành Phật trả), mỗi ngày mình gửi tiền vô ngân hàng (thực
hành đại nguyện của mình phát, đại nguyện là ngân phiếu),
sau này người vô ngân hàng lãnh tiền. Nếu mình ký ngân phiếu
giả, như trương mục của mình trong ngân hàng không có tiền.
Người ta đến ngân hàng lấy tiền không có thì phải bị
tù (không có công đức làm sao được vãng sanh, vì cái nguyện
giả).
Đối
với người không có bình đẳng huống là đối với các loài
thú vật. Con chó đến gần mình liền đá cho nó đi, làm sao
coi nó bình đẳng! Muốn thực hành đại nguyện của mình
phát không dễ. Tôi biết không có một người nào đi đúng
theo tông chỉ của Tịnh độ, tu còn không có làm sao được
vãng sanh? Tu đúng tông Tịnh độ, chỉ cần một niệm được
vãng sanh, khỏi cần 10 niệm. Nếu tu không đúng thì muôn triệu
ngàn niệm cũng không được vãng sanh, cho đến niệm nhứt
tâm bất loạn cũng không được vãng sanh, chỉ có thể sanh
cõi người hoặc cõi trời phải chịu nhân quả.
Thực
hành đại nguyện được chấm dứt nhân quả, vừa rồi tôi
có thí dụ chết đói. Nếu mình không vãng sanh làm sao độ
chúng sanh, vãng sanh rồi thành Phật mới độ chúng sanh. Cho
nên, Tịnh độ khó chỗ thực hành đại nguyện của mình
phát.
Hỏi:
Cái
hại chấp trước kinh điển, chấp trước chân lý là như
thế nào?
Đáp:
Chấp
trước đều là tác dụng của bộ óc là tướng bệnh, Phật
pháp muốn hiện giác tánh của mình là tướng mạnh. Nếu
cứ đuổi theo tướng bệnh để tìm tướng mạnh thì càng
tìm càng xa tướng mạnh; vì tướng bệnh kéo dài nên tướng
mạnh ẩn. Muốn tướng mạnh hiện lên phải chấm dứt tướng
bệnh. Tham Tổ sư thiền là chấm dứt tướng bệnh để cho
tướng mạnh chánh biến tri hiện lên.
Nếu
đuổi theo lời nói của Phật, dùng bộ óc suy tìm trong kinh
điển, Trí Giả Đại Sư nói “học pháp thành ngoại đạo”,
Ngài nói có 3 thứ ngoại đạo:
1-Chánh
thức ngoại đạo: không dùng bản hiệu Phật giáo, dùng bảng
hiệu ngoại đạo, họ tu sanh lên cõi trời, nhưng không được
ra khỏi sanh tử luân hồi.
2-Hành
pháp ngoại đạo, lấy bản hiệu Phật giáo: để cho người
ta hiểu lầm tà pháp cho là chánh pháp, làm hại người ta,
những người đó phải đọa địa ngục.
3-Học
Phật pháp thành ngoại đạo: đuổi theo lời nói của Phật,
cho lời nói của Phật là chân lý, hiểu lầm ý của Phật;
nghe Phật nói có cho có là chân lý, nghe Phật nói không cho
không là chân lý. Phật nói có là dùng có để phá không,
Phật nói không là dùng không để phá có; khi Phật nói có
thì ý của Phật không trụ nơi có, lúc Phật nói không thì
ý của Phật không trụ nơi không. Nghĩa của Phật là vô sở
trụ, nhưng người học Phật pháp không hiểu nghĩa của Phật,
lấy ý của mình cho lời nói của Phật là chân lý thì lọt
vào ngoại đạo.
Chấp
thường gọi là thường kiến ngoại đạo, chấp không gọi
là đoạn kiến ngoại đạo, cũng nằm ở trong tương đối.
Cho nên, nói Pháp chỉ giảng được hai câu thì pháp sư phải
đọa địa ngục, nhưng Pháp sư giảng thấu ba câu (vô sở
trụ) mà người nghe hiểu lầm là do lỗi người nghe, không
phải lỗi Pháp sư. Những người chấp theo lời nói của Phật
cho là thật để dạy chúng sanh, gọi là học Phật pháp thành
ngoại đạo.
Phải
hiểu ý của Phật, tại sao Phật nói như vầy? Lời của Phật,
Tổ đều không phải ở trong văn tự lời nói, chỉ mượn
văn tự lời nói để phá chấp đương cơ của chúng sanh;
tức là dùng thuốc giả để trị bệnh giả, nếu bệnh giả
hết thì thuốc giả phải bỏ; như nhờ chiếc bè đưa qua
sông, nếu qua bờ bên kia thì chiếc bè cũng phải bỏ, chứ
không được vác chiếc bè trên vai đi chơi. Đó là nghĩa vô
sở trụ.
Hỏi:
Khoa
học chứng minh như thế nào về sự tái sinh tâm thức luân
hồi của nhà Phật?
Đáp:
Sanh
tử vốn không có bắt đầu thì luân hồi cũng không có bắt
đầu, do tâm hoạt động, ban đêm hoạt động tạo ra cảnh
giới nhắm mắt chiêm bao, ban ngày hoạt động tạo ra cảnh
giới mở mắt chiêm bao. Chiêm bao không có sự bắt đầu,
như thân xoay cảm thấy căn nhà xoay; căn nhà xoay dụ cho sanh
tử luân hồi, căn nhà ngưng xoay dụ cho cứu kính Niết bàn.
Nhưng căn nhà vốn không xoay, làm sao có sự ngưng xoay!
Cho
nên, Bát Nhã Tâm Kinh nói “vô vô minh diệc vô vô minh tận,
vô lão tử diệc vô lão tử tận”, vốn không có vô minh,
làm sao có vô minh hết! Vô minh là chúng sanh, vô minh hết là
Niết bàn; vốn không có lão tử, làm sao có lão tử hết!
Tất cả đều là việc chiêm bao. Nói theo bản thể giác tánh
vốn không có tái sanh, chỉ là do cảm giác sai lầm mới có.
Vì vậy, Phật nói trắng ra là vô thỉ, vô sanh; nếu là vô
sanh làm sao có tái sanh?
Theo
sự hiểu lầm của người đời có tái sanh (sanh tử luân
hồi). Nói theo bất liễu nghĩa thì có sanh tử luân hồi, gọi
là tam thế nhân quả; tức là kiếp trước tạo nhân gì thì
kiếp này được quả nấy, như gieo nhân chết đói phải chịu
quả chết đói. Khoa học không chứng tỏ được việc tái
sanh, khoa học ở trong Phật pháp, Phật pháp không thuộc về
khoa học. Khoa học chứng tỏ những cái có hiện tượng, không
thể chứng tỏ chỗ bắt đầu. Vì có chỗ bắt đầu nên
có tái sanh, sanh không có bắt đầu làm sao có tái sanh! Cũng
như khoa học không thể bắt đầu được.
Những
việc khoa học chưa biết cho là tự nhiên, nhưng Phật trong
kinh Lăng Nghiêm đã phủ nhận không phải tự nhiên và phủ
nhận nhân duyên. Tại sao? Như con gà sanh trứng gà, trứng
gà ấp ra con gà, đó là nhân duyên; con gà làm nhân cho trứng
gà, trứng gà cũng làm nhân cho con gà; con gà là quả của
trứng gà, trứng gà cũng là quả của con gà. Con gà và trứng
gà làm nhân duyên với nhau.
Nếu
nói nhân duyên là thật thì phải có nhân đầu tiên, không
có nhân đầu tiên thì không thể nói là bắt đầu, nên cái
lý nhân duyên không thể thành lập. Rồi nói là tự nhiên
khi không có con gà hay trứng gà, trứng gà khỏi cần con gà
sanh hay con gà khỏi cần trứng gà ấp! Nếu tự nhiên là thật,
bây giờ mình thấy con gà hay trứng gà tự nhiên mà được
không? Không được.
Hỏi:
Xin
Thầy giảng về khổ?
Đáp:
Tác
dụng của Phật pháp đều muốn cho tất cả chúng sanh đạt
đến tự do tự tại, giải thoát tất cả khổ. Con người
sanh ra ở đời có đủ thứ khổ, trong kinh Phật nói tứ khổ
là sanh, già, bệnh, chết. Nói tám khổ là thêm ái biệt ly,
oán tắng hội, cầu bất đắc và ngũ uẩn ẩm xí.
Những
người thù oán với mình không muốn gặp nhưng hay gặp hoài,
nên thấy tức giận khó chịu. Những người mình yêu mến
lại chia ly đi xa hoặc là sanh ly tử biệt. Có muốn cầu mà
cầu không được cũng là khổ, được rồi sợ mất nên cũng
khổ. Nếu thân này không giải thoát thì thân này sang thân
kia, thân người sang thân thú, kiếp này sang kiếp khác khổ
hoài. Nói vi tế có 84.000 thứ khổ, nếu không nhờ Phật pháp
để tu hành đến chỗ giác ngộ không thể dứt được. Mục
đích đức Phật độ chúng sanh đều được giải thoát tất
cả khổ, đạt đến tự do tự tại vĩnh viễn.
Khoa
học phát minh đồ dùng cũng là có ích cho nhân loại, nhưng
chấp ngã của bộ óc thì có lợi phải có hại; vì ngã chấp
nên tranh giành với nhau, phát minh đồ dùng có ích mà tranh
đấu phát minh vũ khí làm hại cho loài người. Như bây giờ
chiến tranh Trung Đông một ngày không biết chết bao nhiêu
người, những người trực tiếp bị chết, những người
bị ảnh hưởng gián tiếp thì đời sống khó khăn thêm.
Muốn
không có sự tương đối, để hưởng hạnh phúc phải nhờ
Phật pháp. Nếu người nào cũng theo lời dạy của Phật,
rồi thực hành phá được ngã chấp không còn đấu tranh,
cái khổ do đấu tranh sanh ra tự nhiên sẽ hết. Không có đấu
tranh thì thần kinh không căng thẳng. Cuộc sống làm cho thần
kinh căng thẳng sanh ra đủ thứ bệnh. Đấu tranh là ông muốn
hơn tôi, tôi muốn hơn ông, phải có xung đột đổ máu thì
bên thắng hay bại đều bị tổn hại sanh ra đau khổ. Mình
làm theo lời Phật dạy dần dần được giải thoát tất cả
khổ.
Hỏi:
Học
tập Phật pháp nghiên cứu kinh điển và cứu độ chúng sanh.
Hai trong bốn đại nguyện của người Phật tử Đại thừa
là: “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học, chúng sanh vô lượng
thệ nguyện độ”. Như vậy quan niệm Phật tử tu theo pháp
môn Tổ sư thiền thì hai vấn đề này như thế nào?
Theo
ý nghĩ riêng con dù tu Tổ sư thiền, không phân biệt xuất
gia hay tại gia, đều học hỏi Phật pháp nghiên cứu kinh điển,
để đi đúng đường đúng hướng rồi chỉ dẫn cho người
đi theo sau. Người Phật tử nói tu Tổ sư thiền hay lắm,
bảo là tham đi, không cần tìm hiểu thiền là gì? Vì tìm
hiểu là bộ óc. Nếu không cần biết Tổ sư thiền là
gì, yếu chỉ thế nào, tác dụng ra sao, mà cứ nhắm mắt
tu theo, có phải tu mù không! Như Tổ sư nói “tu mà không
học là tu mù, học mà không tu là đãy sách”. Kính xin Thiền
sư khai thị?
Đáp:
Phật
pháp có Giáo môn và Thiền môn, Giáo môn là nghiên cứu kinh
điển rồi theo trong kinh điển thực hành, biết tới đâu
thực hành tới đó. Tôi hoằng dương thuộc về Thiền môn,
Thiền môn là muốn phát hiện bản thể giác tánh của mình
(bản tâm); bản thể cùng khắp không gian thời gian, tất cả
lời nói kinh điển đều bao gồm trong đó. Tại sao? Vì bản
thể cùng khắp không gian thì không có cái nào ở ngoài không
gian, tất cả lời nói trong kinh điển đều ở trong bản tánh
mình sẵn có.
Trước
Phật Thích Ca không có kinh Phật, Phật Thích Ca ngộ rồi nói
ra, đời sau ghi lại lời Phật mới thành kinh. Nếu ngộ được
bản tâm của mình thì cũng nói ra thành kinh vậy. Kinh Phật
nói không phải muốn tụng hay nghiên cứu, là muốn mình theo
đó thực hành. Thí dụ Phật nói ăn cơm được no, làm sao
mình kiếm được cơm rồi ăn; không phải đem lời của Phật
tụng cho Phật nghe, cứ tụng “ăn cơm được no, ăn cơm được
no”, vậy làm sao no được!
Hay
là nghiên cứu trong cơm có bao nhiêu chất dinh dưỡng, có bao
nhiêu vitamin, viết ra một cuốn sách rất hay; phân tích trong
cơm bao nhiêu chất bổ, bao nhiêu vitamin, phân tích rất kỹ;
nhưng không ăn, làm sao no được! Nếu mình tin lời Phật cứ
ăn cơm thì được no, không có cơm phải đi kiếm cơm để
ăn. Những người ăn cơm được chất bổ, nếu nhổ ra nước
miếng cũng có chất bổ. Không nghiên cứu cũng ăn no được
vậy, ăn vô thì tất cả dinh dưỡng là của mình.
Trước
khi người ta chưa tin phải nhờ kinh điển để chứng tỏ,
chứng tỏ lời của Phật không lừa gạt mình, mình mới chịu
theo lời Phật mà thực hành, đó là cách tu của Giáo môn.
Nhưng tụng niệm, nghiên cứu cũng cần phải thực hành mới
được. Còn Thiền môn không tụng niệm, không nghiên cứu,
chỉ thực hành liền được kết quả mau hơn; lại phát hiện
cái của mình đã sẵn có, không có qua bộ óc, nhưng cũng
làm xong công việc dùng bộ óc.
Tất
cả kinh Đại thừa liễu nghĩa, Phật nói trong kinh đó đều
là phá tư tưởng chấp thật, để phát hiện của mình sẵn
có, chứ không phải nói giáo lý cao siêu để nghiên cứu.
Đó là nhiều người không biết, hiểu lầm, tưởng là học
giáo lý mới biết giáo lý. Những giáo lý đó là phá chấp
thật của mình.
Như
vừa rồi tụng Bát Nhã Tâm Kinh là vô ngũ uẩn (sắc, thọ,
tưởng, hành, thức), vô lục căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân,
ý), vô lục trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp), vô lục
thức (từ nhãn thức cho đến ý thức giới), vô khổ, tập,
diệt, đạo (Tứ diệu đế), vô thập nhị nhân duyên (từ
vô minh đến lão tử), Trí huệ của Bồ tát cũng vô, đều
dùng chữ vô để phá tư tưởng chấp thật của mình.
Bởi
chấp thật nên chướng ngại cái dụng sẵn có của mình,
nếu ngộ được bản tâm thì tự động dùng ra. Như ánh sáng
đèn cùng khắp không gian thời gian, bản thể giác tánh cũng
cùng khắp không gian thời gian. Bao nhiêu cây đèn, đèn lớn
đèn nhỏ, mỗi cây đèn đều phát ra ánh sáng; nhưng đều
cùng chung một ánh sáng, không thể phân biệt ánh sáng nào
thuộc cây đèn nhỏ, ánh sáng nào thuộc cây đèn lớn.
Vô
lượng vô biên chúng sanh, mỗi người đều phát huy năng lực
của mình sẵn có, mà cùng chung một hạnh phúc, không phân
biệt người cao người thấp, người lớn người nhỏ; cũng
như nhiều đèn cùng chung một ánh sáng vậy. Lúc đó khoa học
mới đem hạnh phúc cho loài người, mà không có tai họa, không
có cái khổ. Đó là mục đích Phật độ chúng sanh.
Mặc
dù Thiền tông không học kinh điển, nhưng đi đúng theo kinh
điển, tức là thực hành đúng theo lời dạy trong kinh điển,
chứ không phải khác hay nghịch với kinh điển; chỉ là cách
thực hành khác. Phật vì trình độ chúng sanh muôn ngàn sai
biệt, cho nên Phật thuyết 84.000 pháp môn để thích ứng căn
cơ trình độ của mỗi chúng sanh. Nhưng bất cứ pháp môn
nào, mục đích cuối cùng cũng giải thoát tất cả khổ, đạt
đến tự do tự tại. Bản tánh của mình sẵn là như vậy.
Nếu
mình theo lời Phật dạy sẽ phát hiện được bản tánh cùng
khắp không gian thời gian, vốn hạnh phúc, không còn khổ;
đó mới là lòng từ bi của Phật, chứ không phải chấp theo
lời nói của Phật rồi tụng cho Phật nghe hay nghiên cứu
lời nói của Phật có chân lý trong đó, ấy là sai lầm, nghịch
với ý của Phật.
Hỏi:
Theo
thiển ý của con, nếu không đi học Phật pháp, thấy rằng
theo pháp Tổ sư thiền hay, đem lại hạnh phúc cho tự thân.
Con nghĩ rằng phải có bổn phận truyền lại cho những người
sau, mà Thầy và Tổ đã dạy muốn cho mọi người được
an lạc hạnh phúc, đó cũng là cách trả ơn Thầy với Tổ,
như thế Phật giáo mới trường tồn và pháp môn không bị
gián đoạn. Kính xin Thầy khai thị?
Đáp:
Truyền
dạy là tất nhiên rồi! Gọi là nối tiếp huệ mạng của
Phật. Phật tử quy y Tam bảo, vậy Tam bảo là gì? Phật bảo,
Pháp bảo, Tăng bảo.
Thế
nào gọi là Phật bảo? Chữ Phật là tiếng Ấn Độ, dịch
là giác ngộ; tức là tất cả chúng sanh phải minh tâm kiến
tánh (giác ngộ), mới được giải thoát tất cả khổ, cũng
như người trong chiêm bao chịu đủ thứ khổ; từ trong chiêm
bao được thức tỉnh thì khổ trong chiêm bao tự dứt, trong
chiêm bao thức tỉnh là giác ngộ. Cho nên, Phật muốn mỗi
chúng sanh đều được giác ngộ, không phải thành một thần
linh.
Thế
nào gọi là Pháp bảo? Muốn giác ngộ giải thoát tất cả
khổ, đạt đến tự do tự tại, phải có phương pháp; phương
pháp đó đưa mình đến chỗ giác ngộ gọi là Pháp bảo.
Phật nói trong kinh điển có 84.000 pháp môn, nhưng Phật không
có trực tiếp truyền dạy; Phật trực tiếp truyền dạy Tổ
sư thiền gọi là pháp thiền trực tiếp truyền đến ngày
nay. Đó là Tổ sư thiền mà tôi đang hoằng dương.
Thế
nào gọi là Tăng bảo? Chữ Tăng tiếng Ấn Độ gọi là Tăng
già, dịch là hòa hợp chúng; tức là theo quy định từ 4 vị
tu sĩ Phật giáo trở lên hòa hợp lại mới thành Tăng, nói
theo danh từ gọi là Tăng đoàn. Tại sao nói Tăng cũng là bảo?
Nếu chỉ có Phật bảo, Pháp bảo, không có Tăng bảo từ
đời từ đời truyền xuống để trực tiếp giáo chúng sanh,
thì có Phật bảo, Pháp bảo vô dụng, Phật pháp cũng tiêu
diệt.
Cho
nên 3 thứ bảo, cần nhất là Tăng bảo. Do có Tăng bảo thì
Phật pháp mới thường trụ tại thế gian, rồi giáo hóa người
thế gian giải thoát tất cả khổ, đạt đến tự do tự tại.
Tu sĩ đều có bổn phận đó, đem Phật bảo, pháp bảo để
truyền dạy cho chúng sanh. Vì vậy, có nói “hạt gạo của
thí chủ, lớn bằng núi tu di; nếu không tu giải thoát, mang
lông đội sừng trả”. Chúng tôi là tu sĩ thọ của cúng
dường mười phương, phải có bổn phận đem Pháp bảo để
truyền dạy cho chúng sanh, để nối tiếp huệ mạng của chư
Phật.
Nhưng
phải hoằng dương chánh pháp, pháp này giác ngộ giải thoát
tất cả khổ, đạt đến tự do tự tại mới đúng. Nếu
dạy người ta chỉ tụng niệm hay nghiên cứu, như nghiên cứu
hạt gạo mà không ăn thì không no; người khác ăn là chất
bổ của họ, không phải của mình. Nghe lời Phật bảo nên
ăn, chứ không ăn thì không no; con có hiếu ăn giùm cho cha
mẹ không được, hay cha mẹ thương con không thể ăn giùm
cho con. Người nào ăn người ấy no.
Cho
nên, lời Phật dạy rất đúng, rất có lợi ích, đưa mình
đến giải thoát tất cả khổ được tự do tự tại. Nhưng
mình phải thực hành mới được, chứ theo trong kinh điển
để nói không có lợi ích, hay là theo trong kinh điển để
nghiên cứu biết để dạy học trò, học trò biết rồi dạy
học trò thì tác dụng giải thoát không còn, đối với Phật
pháp cũng không có lợi ích.
Cần
nhất là giữ chánh pháp đưa mình đến tự do tự tại, giải
thoát tất cả khổ; đó mới là mục đích chánh của Phật
Thích Ca để độ chúng sanh, không phải mình học biết giáo
lý chứa đầy bụng để làm thầy dạy lại học trò; hay
thuyết pháp cho người ta nghe, mà không thực hành làm sao có
lợi ích! Như nói ăn mà không ăn thì không no.
Hỏi:
Tham
Tổ sư thiền là đến ngộ, vậy Thượng tọa cho biết khi
ngộ rồi thì hành giả thấy gì làm gì lúc còn sống, thấy
gì làm gì sau khi chết?
Đáp:
Lịch
sử Thiền tông Trung Quốc có 7.000 Tổ kiến tánh được sanh
tử tự do, những người đó có người làm vua, sau khi kiến
tánh cũng làm vua; thừa tướng kiến tánh rồi vẫn làm thừa
tướng, thượng thư (bộ trưởng) kiến tánh rồi vẫn làm
thượng thư; cho đến người dân, bà già, tay bưng, vai gánh
đi rao ngoài đường đều kiến tánh.
Có
một Thiền sư ở trên núi kiến tánh được sanh tử tự do,
tiếng tăm truyền tới kinh thành, vua nghe rồi sai quan lớn
lên núi thỉnh Thiền sư về kinh thành để vua hỏi pháp. Thỉnh
một lần Ngài không đi, thỉnh hai lần cũng không đi; vua có
oai quyền, đến lần thứ ba vua phát giận, nói với quan lớn
rằng: nếu kỳ này thỉnh Thiền sư không đi thì đem cái đầu
ông ấy về kinh thành.
Quan
lớn lên núi nói với Thiền sư: kỳ này lại khác hơn hai
kỳ trước, hai kỳ trước không đi thì không có sao, kỳ này
nếu thỉnh Ngài không đi là không được. Tại sao? Tôi không
dám lấy đầu của Ngài, nhưng tôi về không, vua sẽ lấy
đầu của tôi, Ngài hãy thương tôi mà đi.
Thiền
sư nói: đi thì đi. Hỏi các đệ tử bây giờ tôi muốn đi
rồi, có ai muốn theo tôi đi không?
Có
một đệ tử ra nói: con theo thầy đi.
Thiền
sư hỏi: một ngày đi được mấy dặm?
Đệ
tử đáp: 50 dặm.
Thiền
sư nói: không được.
Đệ
tử khác nói: con theo thầy đi.
Thiền
sư hỏi: một ngày đi bao nhiêu dặm?
Đệ
tử đáp: 70 dặm.
Thiền
sư nói: không được.
Có
đệ tử khác nữa nói: con theo thầy đi được.
Thiền
sư hỏi: một ngày đi bao nhiêu dặm?
Đệ
tử đáp: 90 dặm.
Thiền
sư nói: không được.
Người
này không được, người kia cũng không được; cuối cùng
thị giả của Thiền sư nói: con theo thầy đi được.
Thiền
sư hỏi: một ngày đi bao nhiêu dặm?
Thị
giả đáp: không biết, thầy đến đâu thì con đến đó.
Thiền
sư nói: vậy là được.
Thiền
sư ngồi ngay lại tịch liền và Thị giả đứng một bên
cũng tịch luôn, tịch là người đời cho là chết. Quan lớn
thấy hoảng sợ, chứng tỏ oai quyền của vua chỉ dùng cho
người thường, dùng cho Thiền sư thì không được. Bởi vì
Thiền sư sanh tử tự do, nói đi là đi liền.
Hỏi:
Khi
mình mạnh khỏe thì tinh thần cao có thể không sợ chết,
nhưng lúc đau nặng hoặc trước giờ chết thì tinh thần xuống
thấp nên thấy sợ lắm. Vậy tham Tổ sư thiền có giúp được
qua cái sợ này không?
Đáp:
Bát
NHã Tâm Kinh nói “vô lão tử diệc vô lão tử tận”, không
có già không có chết, làm sao còn sợ gì nữa! Vì mình chấp
thật có sanh tử nên sợ chết, nếu mình tin lời Phật nói
vốn không có sanh tử thì không sợ chết. Nhưng Phật nói
trong kinh không có sanh tử, sự thật sanh tử rõ ràng, người
nào cũng thấy có sanh tử. Như tôi già rồi thì cái tử sẽ
đến, làm sao không có sanh tử? Phật có 4 thí dụ trong kinh
Viên Giác để chứng tỏ tại sao mình có sanh tử, tôi gom
lại thành một thí dụ.
Tâm
mình hoạt động không ngừng, tự nhiên thấy có sanh tử;
như thân mình xoay sẽ thấy căn nhà xoay. Trong Kinh nói không
có sanh tử cũng không có sanh tử hết, sanh tử hết là Niết
bàn; vốn không có sanh tử làm sao có sanh tử hết! Như căn
nhà vốn không có xoay, làm sao có căn nhà ngưng xoay? Căn nhà
xoay và ngưng xoay đều do thân mình xoay sanh ra cảm giác sai
lầm mà thấy, thật ra không có căn nhà xoay và ngưng xoay.
Nếu
tâm ngưng hoạt động thì sanh tử luân hồi cũng ngưng. Pháp
của Phật Thích Ca từ Tiểu thừa đến Đại thừa, dạy ngưng
tâm hoạt động thì sanh tử tự dứt, tức muốn mình trong
chiêm bao thức tỉnh, là sanh tử luân hồi trong chiêm bao tự
tiêu. Cho nên, tham thiền phát hiện bản thể của mình cùng
khắp không gian thời gian, vốn không có sanh tử tự nhiên
không còn sợ sanh tử.
Hỏi:
Một
người không có gia đình, không có trách nhiệm đến vợ con,
lúc chết ít sợ hơn người có gia đình có trách nhiệm; vì
người có gia đình có trách nhiệm sợ sau khi mình chết không
ai lo cho vợ con. Con nghĩ một phần lớn cái sợ lúc sắp
chết của người có gia đình có trách nhiệm là cái sợ này,
vậy làm sao giúp được qua cái sợ đó?
Đáp:
Vì
chấp thật sanh tử nên có cái sợ đó, Phật đã dùng nhiều
thứ phương tiện, dùng những chuyện ngoài đời mình hiểu
biết để chứng tỏ sanh tử vốn không thật. Nếu đã biết
sanh tử không thật thì ở trong hoàn cảnh nào có trách nhiệm
hay không trách nhiệm đều không sợ.
Như
Thiền sư sắp chết, mời các môn đồ đãi tiệc chay, ăn
xong tự mình vô trong hòm nằm xuống, bảo đệ tử đóng đinh
đem đi thiêu. Đệ tử thấy Thầy không bệnh, mà khi không
vô trong hòm bảo đem đi thiêu; như vậy ai đâu có dám! Các
đệ tử không tin.
Vài
ngày sau đệ tử lén mở nắp hòm xem thì Thiền sư ngồi dậy
mắng các đệ tử: các ngươi theo tôi nhiều năm, sao không
tin lời của tôi! Nếu tôi sanh tử không tự do, làm sao dám
vô trong hòm bảo các ngươi đóng đinh đem đi thiêu? Các ngươi
ngu si quá! Bây giờ đãi tiệc lại, gọi là tiệc ngu si. Ăn
xong cũng vô trong hòm nằm, bảo các đệ tử: đậy nắp hòm
lại đóng đi đem đi thiêu, nếu người nào mở nắp hòm thì
không phải đệ tử của tôi.
Đệ
tử đóng đinh nắp hòm lại đem đi thiêu, nếu sanh tử không
tự do làm sao Ngài dám làm vậy! Mình có thực hành tự nhiên
không có sợ, đạt đến chỗ sanh tử tự do. Mình không thực
hành thì không chứng tỏ, mà chỉ nghe người ta nói nên phải
sợ.
Đang
nhắm mắt chiêm bao tiếp xúc cái tách, cái bình, cái bàn…
đều có thật; tiếp xúc nóng lạnh đều biết, bị người
ta đánh cũng biết đau; trong chiêm bao có thiện tri thức giải
thích cái bàn, cái bình… đều không thật; luôn cả thân
ông cũng không thật, người đang chiêm bao không tin. Khi thức
tỉnh chiêm bao thấy những việc trong chiêm bao không còn.
Cho
nên, tự mình phải thức tỉnh, Phật dạy mình ở trong mở
mắt chiêm bao thức tỉnh; nếu tham thiền được minh tâm kiến
tánh thì mở mắt chiêm bao thức tỉnh, mới chứng tỏ lời
Phật không có lừa gạt mình.
Hỏi:
Kiếp
trước làm ác nên kiếp này phải trả quả, nếu vậy chấp
nhận; nhưng không thấy kiếp trước, mà kiếp này trả quả
là vô lý. Vậy làm sao biết kiếp trước và kiếp này có
liên quan?
Đáp:
Phật
pháp nói nhân quả là tam thế nhân quả (quá khứ, hiện tại,
vị lai), thường thường khi người chết thì chuyện kiếp
trước quên; nhưng cũng có người nhớ chuyện kiếp trước.
Đừng
nói không thấy chuyện kiếp trước mà cho là không có, như
cha mẹ, ông bà nội thì mình biết, còn ông bà nội của ông
bà nội thì mình có biết không? Không biết. Không biết mà
nói không có làm sao đúng! Vì mình thấy nhiều nhất được
5 đời trước hay 5 đời sau, còn đời thứ 6 không thấy cho
là không có thì không đúng. Có cái thấy và không thấy, những
cái mình thấy đâu phải đúng!
Như
thấy cái bàn yên tịnh, nhưng khoa học chứng tỏ cái bàn
này đang động; cái bàn có 2 thứ động: theo quả đất xoay
chuyển mà động và các vật chất do nhiều nguyên tử tựu
lại thành. Mỗi hạt nguyên tử ở chính giữa có trung tử,
chu vi có nhiều điện tử, ngày đêm xoay không ngừng xung quanh
trung tử, nó chuyển động nhưng mình không thấy; con mắt
nhìn không thấy, nhưng dùng kính hiển vi sẽ thấy. Nếu tin
con mắt thấy cho là thật, làm sao đúng với sự thật! Nhiều
cái biết của bộ óc không thể đúng.
Hỏi:
Muốn
tu thiền thì tâm phải tịnh, không màng thế sự, suy nghĩ,
tính toán, bon chen. Nhưng mới ban đầu tu làm sao được như
thế, dù rằng nhu cầu tối thiểu như ăn, mặc, ở cũng phải
lo. Kính xin Thiền sư chỉ giáo được chu toàn?
Đáp:
Vua
kiến tánh vẫn làm vua, thừa tướng kiến vẫn làm thừa tướng,
thượng thư kiến tánh vẫn làm thượng thư… nghề nào cũng
theo nghề đó, chứ không phải bỏ nghề mà đi tu mới được
kiến tánh. Pháp môn Tổ sư thiền do Phật Thích Ca đích thân
truyền, chỉ là 4 chữ “từ nghi đến ngộ”. Nghi là nhân,
ngộ là quả; có nghi sẽ có ngộ, mình chỉ nhờ câu thoại
đầu khởi nghi tình thì đi đứng nằm ngồi đều là thì
giờ để mình tham, không phải bỏ nghề hay tìm một chỗ
vắng lặng ngồi tham.
Nhưng
mình phải tập lần lần, không phải bước đầu tiên tham
không gián đoạn. Ngày đêm có 24 tiếng đồng hồ, bắt đầu
tập nhiều nhất là một tiếng, 23 tiếng bị gián đoạn;
nhưng tập được một thời gian giảm bớt sự gián đoạn
còn lại 22 tiếng, tập thời gian nữa còn 21 tiếng, cứ như
thế đến 24 tiếng tham được liên tục, chỉ có nghi tình,
lúc đó gọi là thoại đầu.
Bây
giờ nói tham thoại đầu nhưng chưa đến thoại đầu, đến
thoại đầu là câu thoại tự mất là sắp kiến tánh; lúc
ấy muốn bỏ nghi tình cũng không bỏ được và muốn không
kiến tánh cũng không được, gặp cơ duyên thì nghi tình tan
rã được kiến tánh. Mình cần phải đi, có đi mới có đến;
nếu không đi thì không đến, đi nhanh đến mau, đi chậm đến
lâu.
Hỏi:
Người
tu pháp môn Tịnh độ khi chết vãng sanh Tây Phương Cực Lạc,
còn pháp môn Tổ sư thiền tham chưa ngộ, chết rồi gặp lại
pháp môn Tổ sư thiền không?
Đáp:
Ở
Việt Nam tôi thường lấy Chợ Lớn đi Sài Gòn để thí dụ,
mục đích kiến tánh như Chợ Lớn đi Sài Gòn. Chợ Lớn đến
Sài gòn là 100 bước, nếu kiếp này mình đi 5 bước thì kiếp
sau đi thêm 95 bước; kiếp này đi 50 bước thì kiếp sau đi
thêm 50 bước, kiếp này đi 99 bước thì kiếp sau đi thêm
một bước; tức là có nhân sẽ có quả, tham thiền là gieo
chánh nhân nên chánh quả sẽ đến. Vì pháp môn tham thiền
này là do Phật Thích Ca đích thân truyền, thuộc về chánh
nhân.
Hỏi:
Trợ
niệm có giúp ích gì cho người lâm chung tu Tịnh độ?
Đáp:
Muốn
giải quyết vấn đề sanh tử thì phải giải quyết trước
khi chết, nếu tới lâm chung mà nhờ người khác giúp mình
thì rất khó hy vọng. Bất cứ tu pháp môn nào cũng phải trước
khi chết giải quyết trước. Những người còn sống có lục
căn lanh lợi, mà thuyết pháp họ còn không nghe, giải thích
cũng còn không tin, huống là người chết. Người sống thường
tụng kinh, nhưng không thực hành theo lời Phật dạy; đến
khi chết, mình giúp cũng không được.
Chết
rồi thường thường đi đầu thai liền, người thường cho
chết biến thành ma quỷ, đó là không đúng. Chết là đi đầu
thai, tạo nghiệp cõi trời sanh cõi trời, tạo nghiệp người
sanh cõi người, tạo nghiệp tu la sanh cõi tu la, tạo nghiệp
súc sanh sanh cõi súc sanh, tạo nghiệp quỷ sanh cõi ngạ quỷ,
chứ không phải chết rồi thành quỷ, tạo nghiệp địa ngục
sanh cõi địa ngục, là theo nghiệp đã tạo mà đi đầu thai;
tức là chết cũng là lúc đó đi đầu thai, thường thường
không có thân trung ấm.
Thân
trung ấm là đặc biệt, có nghiệp thiện và nghiệp ác bằng
nhau, chưa có thể phân biệt được sanh thiện đạo hay ác
đạo. Lục đạo có tam thiện đạo (cõi trời, cõi người,
cõi a tu la), có tam ác đạo (súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục).
Nếu thiện nhiều hơn ác một chút thì sanh thiện đạo, ác
nhiều hơn thiện một chút thì sanh ác đạo. Như tôi kể chuyện
Ung Bá Huy có thân trung ấm, ông nổi niệm ác một chút là
ăn cắp nên đầu thai thành heo, nổi niệm không ăn cắp một
chút thì sanh con người.
Con
cháu muốn cứu người thân của mình đã chết, đừng sát
sanh để cúng thì có ích cho người chết; không đốt vàng
mã, vì những thứ này người ta quan niệm xuống âm phủ dùng.
Nếu sanh tam thiện đạo không có dùng vàng mã, mà đốt vàng
mã là muốn cho người thân mình ở âm phủ dùng để chịu
khổ; chuyện này thật ngu si nhưng người ta không biết, cứ
làm theo truyền thống của thần giáo ngày xưa, chứ Phật
giáo không có những thứ này.