Hỏi:
Thế
nào là Tổ sư thiền?
Đáp:
Từ
Tổ từ Tổ truyền xuống nên gọi là Tổ sư thiền, Đạt
Ma từ Ấn Độ truyền sang Trung Quốc, người ta gọi là Đạt
Ma thiền. Thiền này do đức Phật Thích Ca đích thân truyền,
không qua văn tự lời nói, tất cả Phật nói trong kinh điển
đều qua văn tự lời nói. Trong hội Linh sơn, Phật đưa cành
hoa lên, Ca Diếp ngộ chỉ mỉm cười, Phật không nói gì nên
pháp môn này là “giáo ngoại biệt truyền bất lập văn tự”.
Trong
Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền có 5 câu thoại đầu,
tự mình chọn một câu nào thấy khó hiểu nhất để tham,
cuối cùng Phật tánh hiện lên gọi là kiến tánh thành Phật.
Vì trực tiếp từ địa vị phàm phu thẳng chứng quả Phật
còn gọi là pháp thiền trực tiếp.
Cái
biết bộ óc không cùng khắp không gian thời gian, về không
gian thì biết chỗ này không biết chỗ kia, về thời gian có
lúc biết có lúc không biết. Cái biết Phật tánh là chánh
biến tri (chánh là đúng với thực tế, biến là phổ biến
không gian và thời gian, tri là biết) cùng khắp không gian thời
gian, không có lúc nào không biết, không có chỗ nào không
biết.
Cái
biết Phật tánh không bao giờ mất, nhưng bị cái biết bộ
óc che khuất nên không hiện ra. Phật dạy mình tham thiền
dẹp cái biết của bộ óc để cái biết Phật tánh hiện
lên. Cái biết bộ óc về thời gian thì ngủ mê không biết,
chết giấc không biết, chết rồi không biết. Cái biết Phật
tánh thì ngủ mê vẫn biết, chết rồi cũng biết; nếu chết
rồi không biết thì có gián đoạn, nên không cùng khắp thời
gian, không phải cái biết Phật tánh, không được gọi là
chánh biến tri.
Cái
biết bộ óc dụ cho tướng bệnh, cái biết Phật tánh là
tướng mạnh; nếu tướng bệnh kéo dài thì tướng mạnh không
thể hiện ra. Tại sao? Vì tướng bệnh là xanh vàng ốm yếu,
tướng mạnh là hồng hào; bây giờ mặt mũi này xanh vàng
ốm yếu, làm sao hiện ra hồng hào được? Phải hết xanh
vàng ốm yếu thì hồng hào mới hiện ra. Cho nên, nhờ câu
thoại đầu khởi lên nghi tình để quét sạch cái biết của
bộ óc, đặng cho cái biết Phật tánh hiện lên.
-Ông
chọn câu thoại đầu nào để tham?
-Chọn
câu: Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng vật là cái
gì?
-Bây
giờ tôi thử hỏi ông có tham đúng hay không, như tôi nói
muốn dẹp cái biết của bộ óc thì phải không cho bộ óc
suy nghĩ, không cho bộ óc tìm hiểu, không cho bộ óc giải
thích câu thoại đầu, chỉ đêm ngày giữ nghi tình (không
biết), mặc áo, ăn cơm, đi cầu, làm việc… đều hỏi thầm
trong bụng để khởi lên không biết.
Tôi
vừa hỏi dứt thì trả lời ngay, nếu chậm một chút là bộ
óc suy nghĩ có ý trả lời câu hỏi của tôi là không được,
đó là hồ nghi, không phải chánh nghi. Chánh nghi cho tâm nghi
chứ không cho tâm tìm hiểu, không cho bộ óc suy nghĩ.
Tôi
hỏi ông hãy trả lời liền: Chẳng phải tâm, chẳng phải
Phật, chẳng phải vật là cái gì?
Không
trả lời liền là qua bộ óc suy nghĩ rồi, muốn tìm
để trả lời thì không được. Ông hỏi lại tôi đi!
Ông
ấy hỏi: Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải
vật là cái gì?
-Không
biết.
Không
biết là tham thiền, chỉ cần không biết chứ không được
suy nghĩ tìm hiểu. Nếu tìm hiểu được là cái biết bộ
óc, không phải cái biết Phật tánh. Cái biết Phật tánh thình
lình biết gọi là ngộ. Nghĩa chữ Phật là giác ngộ, giác
ngộ là hiện Phật tánh của mình. Tham thiền là muốn hiện
cái biết của Phật tánh thì phải diệt cái biết của bộ
óc. Người ta nói “nếu dẹp cái biết bộ óc làm sao để
làm việc?” Cũng làm việc bình thường.
Như
cô Hằng Thiền là thợ may, khi tham thiền bộ óc không biết,
cô cũng cắt xong cái áo vậy, cho đến người em hỏi mấy
phân mấy tấc? Cô trả lời không biết. Vô lý! Không biết
làm sao cắt? Nhưng sự thật người ta lại may, cô đo thước
tấc ghi vào sổ, bắt đầu cắt thì khởi lên nghi tình nhưng
cô vẫn cắt xong cái áo, khỏi cần qua bộ óc; tức là dùng
cái biết của Phật tánh để làm việc.
Chứng
tỏ bộ óc không biết vẫn làm xong công việc, mà lại làm
tốt hơn nữa. Như các kiểu quần áo mới phát minh, người
khác cắt không được hay cắt được rất khó; còn đem lại
cô khỏi cần nghiên cứu, chỉ coi liền cắt vì không cần
phải qua bộ óc. Chứng tỏ bản năng của mình cùng khắp
không gian thời gian, cái gì cũng làm được.
Con
dơi không có mắt mà bay không đụng các vật, vì nó có ra
đa; nhà khoa học học cái ra đa của con dơi rồi làm ra cái
ra đa. Hôm trước, tôi coi đài số 50 có nhà khoa học thử
cái ra đa con dơi rất hay, dở sách nó cũng biết, đếm tiền
nó cũng biết, trong nhà người ta ca hát ồn ào không bị ảnh
hưởng công việc nó chụp con muỗi. Con dơi không có học
và không có nghiên cứu, vì tạo nghiệp con dơi thì con nào
cũng đều có ra đa.
Con
ong có kiến trúc học, con chim ăn cá ở trên hư không, cá
lội dưới biển có sóng lớn, mà ở trên hư không chụp ngay
con cá. Con nào cũng như con nấy, không phải học mà biết,
bản năng nó sẵn có. Bản năng sẵn có là chỉ theo cái nghiệp
một chút xíu, ở trong Phật tánh của mình hiện ra vô lượng
vô biên, không có cái nào không làm được.
Tham
thiền là phát hiện bản năng của mình đem ra dùng, không
phải thành một vị thần linh. Tham thiền cứ hỏi thầm câu
thoại đầu trong bụng cảm thấy không biết là tham được
rồi. Con nít 6, 7 tuổi cũng thực hành được, bà già 8, 9
chục tuổi đều tham thiền được. Bởi vì việc thế gian
muốn biết rất khó, việc không biết ai cũng làm được.
Nhưng tin tự tâm rất khó, phải tin tự tâm là tất cả năng
lực thần thông trí huệ bằng như Phật Thích Ca, không có
kém hơn một chút.
Nếu
tham thiền đến kiến tánh, dứt hết tập khí phiền não từ
từ cái dụng hiện ra, cuối cùng bằng như Phật Thích Ca.
Lúc đó không có cái gì không biết, không lúc nào mà không
biết, chứ không phải cái biết của bộ óc có hạn chế
và không chân thật.
Hỏi:
Hỏi
câu thoại đầu muốn hiểu, giải đáp ra thì như thế nào?
Đáp:
Tham
thiền không dùng bộ óc tìm hiểu, cứ hỏi thầm trong bụng,
có hỏi phải có đáp, hỏi không hiểu thì đáp không ra, tức
lắm, hỏi nữa, khi nào thình lình đáp ra là kiến tánh. Đáp
ra được không phải do bộ óc tìm hiểu mà đáp ra, đáp ra
là thình lình bừng sáng khắp không gian thời gian, tức là
hiện lên bản thể, không phải do lời nói mà đáp.
Hỏi:
Thiết
nghĩ, con đã trôi lăn trong biển sanh tử nhiều kiếp tạo
nghiệp sâu dầy, nay tuy gặp chánh pháp, nếu chỉ có câu tham
thoại đầu trừ vọng tưởng thì đủ giải thoát không? Lại
nữa, chư Tổ dạy tụng kinh, niệm Phật, trì chú để chúng
sanh bớt nghiệp chướng, tạo thêm phúc đức trợ duyên trên
đường tu hành. Vậy con có nên cùng tham thiền và tụng kinh,
niệm Phật, trì chú được không?
Đáp:
Nói
tham thiền để trừ vọng là sai lầm, vì vọng tưởng là
vô minh mới có; chứ không phải Phật tánh có vọng tưởng,
Phật tánh là bất nhị, siêu việt số lượng. Bản thể Phật
tánh cùng khắp không gian thời gian. Nếu nổi vọng tưởng
là có số lượng, có nổi tâm trừ vọng tưởng là hai lớp
vọng. Cho nên tu hành trừ vọng tưởng là sai lầm lớn. Tụng
kinh là mục đích để biết ý của Phật dạy, mình theo đó
để tu, chứ không phải tụng kinh để cho Phật nghe, mà nói
là có công đức. Kinh là lời Phật dạy nên Phật đâu cần
nghe!
Dùng
niệm Phật, niệm chú để trừ vọng tưởng sẽ phát lên
nguy hiểm, vọng tưởng được trừ, có sức định cao thì
sẽ bị tẩu hỏa nhập ma, phát điên, ói máu. Sự thật tôi
gặp người tu ở Việt Nam rất nhiều trong những trường
hợp này. Những người không biết ý của Phật dạy, tưởng
là tu để trừ vọng tưởng, đó là sai lầm rất lớn; mà
bây giờ rất phổ biến trong giới Phật tử, ấy rất nguy
hiểm. Tu hành uổng công, có quả không tốt.
Phật
dạy mình tin tự tâm, tất cả thần thông trí huệ bằng như
Phật, không kém hơn Phật một chút nào. Tham thiền là phát
hiện cái mình sẵn có cùng khắp không gian thời gian, không
có cái nào mà làm không được. Con dơi có ra đa là bản năng
đầu thai thành con dơi phải có ra đa, con ong có kiến trúc,
nhà kiến trúc học kiến trúc của con ong. Kiến trúc của
con ong không phải do học mà có, nó theo nghiệp mà có.
Tham
thiền không phải để tiêu nghiệp, nghiệp vốn không có,
vì tâm mình tạo mới có. Ngưng tâm không tạo nữa thì nghiệp
ở đâu? Khỏi cần tiêu mà nó tự tiêu. Tâm tạo rồi tiêu,
tiêu rồi tạo nữa, khi nào mới tiêu hết! Tu hành không phải
để tiêu nghiệp, nghiệp khỏi cần tiêu, vọng tưởng khỏi
cần trừ. Tự tánh mình là bất nhị, không có vọng tưởng,
không có nghiệp chướng. Thiền tông nói “nghiệp chướng
bổn lai không” (nghiệp chướng vốn là không). Kệ truyền
pháp của 7 Phật trước Phật Thích Ca nói “không có nghiệp
chướng”.
Trong
Thiền tông có công án:
Tăng
hỏi Tổ kiến tánh: muốn trừ nghiệp chướng phải làm sao?
Tổ
nói: nghiệp chướng bổn lai không.
Tăng
hỏi: thế nào là bổn lai không?
Tổ
nói: nghiệp chướng.
Tăng
hỏi: thế nào là nghiệp chướng?
Tổ
nói: bổn lai không.
Nếu
thật có nghiệp chướng, mình từ vô thỉ đến bây giờ đã
tạo biết bao nhiêu nghiệp chướng, làm sao trừ cho hết! Nhưng
khỏi cần trừ, ngộ là xong. Nghiệp chướng ở trong chiêm
bao, thức tỉnh chiêm bao thì nghiệp chướng đi đâu tìm! Người
ta thật sự không tu hành nên không hiểu được nghĩa này;
tự mình không biết rồi lấy cái sai lầm dạy người khác,
thành ra vĩnh viễn ở trong biển khổ không ra được. Vì vọng
tưởng làm sao trừ, nghiệp chướng làm sao tiêu?
Tham
thiền là phát hiện nghiệp chướng, vọng tưởng vốn không
có. Không tạo nghiệp chướng, vọng tưởng thì không có nghiệp
chướng, vọng tưởng. Do mình tạo nghiệp chướng, vọng tưởng
nên mới có cái để trừ. Không có vọng tưởng để trừ
và không có nghiệp chướng để tiêu. Cho nên chư Tổ nói
“không cần phí sức”. Nếu đạt đến chỗ ít phí sức
là được, có còn trừ vọng tưởng và tiêu nghiệp chướng
là sai lầm lớn.
Tham
câu thoại đầu mặc dù không tiêu nghiệp chướng và không
trừ vọng tưởng, nhưng tự nhiên automatic trừ vọng tưởng
và tiêu nghiệp chướng. Tại sao? Vì nghiệp chướng và vọng
tưởng đều do bộ óc biết mới có, giữ không biết của
bộ óc thì tự tiêu. Những người tụng kinh, niệm Phật cứ
suy nghĩ hoài, tạo hoài, làm sao tiêu trừ được! Giữ được
nghi tình là không tạo nữa, khi nào ngộ thì vọng tưởng
nghiệp chướng hết.
Bát
Nhã Tâm Kinh nói “vô vô minh diệc vô minh tận” (không có
vô minh cũng không có hết vô minh), không có vô minh làm sao
có vọng tưởng? Có vô minh nên có vọng tưởng, có vô minh
nên có nghiệp chướng. Không có hết vô minh, nếu có vô minh
mới có hết vô minh; tức là không có hết vọng tưởng nghiệp
chướng, vì vọng tưởng nghiệp chướng vốn không có. “Vô
lão tử diệc vô lão tử tận” (không có già chết cũng không
có hết già chết), sanh tử là chúng sanh, hết sanh tử là
Phật.
Kinh
nói rõ ràng không chịu tin, cứ tạo nghịch lại cho là đúng!
Mình đã sai, mà lại trách người đúng. Tại sao Giáo môn
tụng kinh rồi tụng Bát Nhã? Vì sợ người ta tụng kinh xong
chấp kinh đó. Cho nên sau cùng một thời kinh, tụng Bát Nhã
để quét sạch vừa rồi tụng. Nhưng người tụng chỉ biết
nhắm mắt tụng, chứ không biết kinh nói gì; cho là tụng
kinh để tiêu nghiệp chướng. Tại sao tụng kinh rồi không
y theo mà làm, lại nghịch với kinh? Nghịch với kinh đã có
tội, lại trách người đúng. Người ta y theo kinh cho là sai,
nghịch với kinh cho là đúng. Rất điên đảo!
Hỏi:
Người
chứng ngộ thì trí tuệ đến trước hay niềm tin đến trước?
Đáp:
Không
có thể nói là trí huệ hay không trí huệ, dùng bộ óc phân
biệt thì có ngu si và trí huệ để đối đãi; bản thể Phật
tánh không có đối đãi, nên không phải ngu si và trí huệ;
toàn thể hiện ra không có trước sau, nếu có trước sau là
có đối đãi còn trong số lượng thời gian.
Hỏi:
Khi
mình đọc thoại đầu, bổng nhiên không còn nghi tình, mà
nó giống như qua đi qua đi và trở thành trạng thái niệm
thoại đầu. Như trong trường hợp đó phải như thế nào?
Đáp:
Niệm
thoại đầu chỉ có thể trừ vọng tưởng, không đạt đến
kiến tánh. Tham thiền không phải trừ vọng tưởng, vọng
tưởng khỏi cần trừ. Niệm thoại đầu để trừ vọng tưởng
là sai lầm. Nếu không phát khởi nghi tình, nhưng cũng phải
hỏi hoài thì sẽ phát khởi nghi tình. Bởi vì câu thoại đầu
là có dấu hỏi. Như câu “khi chưa có trời đất ta là cái
gì?” Có trời có đất thì mình ngồi đây, chưa có trời
đất mình ở đâu không biết? Cái không biết là nghi tình
tức tham thiền rồi, rất giản dị chỉ cần không biết,
việc thế gian muốn biết rất khó, không biết thì dễ. Cho
nên con nít 6, 7 tuổi cũng biết tham thiền.
Hỏi
câu thoại chứ không phải niệm câu thoại, hỏi đến khi
nào thình lình đáp ra được, gọi là kiến tánh (chứng ngộ).
Nhưng khi đáp ra không phải có gì đáp ra, tức là bùng nổ
phát hiện bản thể mình cùng khắp không gian thời gian, không
có chỗ nào không biết, không có lúc nào không biết. Bộ
óc ngủ mê không biết, chết giấc không biết, chết rồi
không biết; cái biết Phật tánh gọi là chánh biến tri thì
ngủ mê vẫn biết, chết rồi vẫn biết, chết giấc vẫn
biết. Nếu chết rồi không biết thì không phải cái biết
của Phật tánh.
Cái
biết Phật tánh khắp không gian thời gian, khắp không gian
không có chỗ nào không biết. Nếu có một chỗ không biết,
không phải cái biết của Phật tánh. Tham thiền là phát hiện
cái biết Phật tánh thì phải dẹp cái biết của bộ óc.
Vì cái biết Phật tánh bị cái biết bộ óc che khuất nên
không hiện lên được. Kinh Viên Giác thí dụ “vàng thật
đã thành sẵn trong quặng, nhưng lộn với đất cát tạp chất,
nên vàng thật không hiện ra; vì vậy phải luyện bỏ đất
cát tạp chất, vàng thật mới hiện ra”. Nếu trong quặng
không có vàng thật, luyện cách mấy cũng không có vàng thật
hiện ra. Phật tánh của mình lộn với tham sân si, nên Phật
tánh không hiện lên. Tham sân si là cái biết của bộ óc,
dẹp hết tham sân si thì Phật tánh hiện lên.
Hỏi:
Tham
thoại đầu thường hay tìm ra giải pháp để trả lời câu
thoại, làm sao để tránh trường hợp đó xẩy ra?
Đáp:
Phải
thống thiết việc sanh tử, giải quyết việc sanh tử là cần
nhất. Cái năng biết của bộ óc sau khi chết đem thiêu thành
tro, đi chôn thành đất. Như vậy còn biết để làm chi? Biết
bao nhiêu cũng hết. Cái biết Phật tánh không thể biến thành
tro thành đất, vĩnh viễn như vậy gọi là như như bất động,
luôn luôn cùng khắp không gian thời gian, không có biến đổi,
không có tiêu diệt.
Hỏi:
Bảo
rằng tìm Phật tánh thì không học, mà không học là mù; vậy
liệu rằng trong trạng thái ngu dốt đó, có cơ hội học hỏi
Phật pháp không hay chỉ để gặp pháp thiền này rồi tu?
Đáp:
“Không
học là ngu”, cái ngu đó là do người ấy tạo. Phật tánh
không có ngu dốt và trí huệ để đối đãi, vì cái gì cũng
sẵn sàng. Như kinh Pháp Hoa nói “có hạt châu như ý mà không
biết, tự cho mình nghèo khổ rồi đi ăn xin”. Chỉ cần gặp
người trí chỉ cho biết thì không còn đi ăn xin nữa. Mình
đã có đầy đủ sẵn có thần thông trí huệ thì đâu cần
học! Như con dơi không cần học, mà lại có ra đa. Con chim
từ trên hư không bắt cá ở dưới biển, có bản năng đó,
đâu phải do học!
Nếu
trừ hết tập khí phiền não của mình thì có bản năng vô
lượng vô biên, không có cái nào không biết, không có cái
nào mà không làm được. Còn cái học thì có cái học được,
có cái học không được. Bởi vì không phải cái của mình
sẵn có, nếu phát hiện cái của mình sẵn có thì không cần
học. Sự thật tôi chứng tỏ cô thợ may Trì Hằng Thiền,
bây giờ người ta phát minh kiểu mới, cô đâu cần học,
kiểu mới đem lại cô cắt liền mà không cần nghiên cứu;
đem đến người khác không cắt được, chứng tỏ là hơn
học rồi.
Hỏi:
Con
chim nhỏ đang đậu trên tảng đá, có con chim lớn đến đuổi
con chim nhỏ để đậu, rồi một làn sóng phủ lên tảng đá
làm cho chim lớn sợ bay đi. Lực lớn trùm lên lực nhỏ, hiện
tượng đó có mang ý nghĩa nào không?
Đáp:
Tất
cả hiện tượng thế giới đều do cái ngã tạo ra, bởi vì
có ngã mới đuổi con chim kia. Nhưng con chim không có nhân chiếm
được tảng đá thì không thể chiếm được tảng đá, nếu
con chim lớn tạo nhân chết trên tảng đá, sóng biển có thể
làm nó chết trên tảng đá.
Không
có ngã làm sao tạo ra nhân quả? Có nhân quả là do cái ngã
tạo ra, hiện tượng thế giới không có ngoài luật nhân quả.
Gần đây bị bảo làm chết bao nhiêu người là do cộng nghiệp.
Trong
hoàng cung, Thái hậu mất một hạt châu rất quý, nhà vua bắt
những người trong cung xét để tìm hạt châu.
Thái
hậu nói: khỏi cần, ít bữa sẽ trở về.
Vua
nói: sao Thái hậu biết?
Thái
hậu (có tu, lại biết mấy chục kiếp trước) nói: tôi từ
mấy chục kiếp trước đến nay không có ăn cắp đồ của
người ta, nên đồ của tôi không thể mất, ít bữa sẽ trở
về.
Ít
bữa sau, Tôn giả A Nan lượm được đem lại trả cho vua,
vua đưa cho Thái hậu.
Thái
hậu nói: phải không!
Vua
cười và nói: Do Tôn giả A Nan lượm được mới đem lại
trả, nếu người khác lượm thì đâu có đem lại trả, mà
nói trở về.
Thái
hậu nói: nếu không tin thì muốn bỏ chỗ nào cũng được,
rồi sẽ trở về.
Vua
bỏ hạt châu nơi ngã tư người ta thường đi qua lại, cho
người mặc đồ thường thay phiên giữ coi có ai lượm không;
qua ba bốn ngày không có ai lượm, vua lấy về tự tay bỏ
xuống biển để coi có trở về được không? Mấy bữa sau
nhà bếp hoàng cung làm một con cá có hạt châu trong bụng.
Chứng tỏ nhân quả không thể sai lầm, vì không tạo nhân
mất đồ thì không mất đồ.
Có
một vị chứng quả Bích chi phật ở trên núi phơi chiếc
y đỏ, dưới núi có người mất con bò, thấy trên núi có
người đốt lửa hơ chiếc y màu đỏ cho là da bò; rồi lên
bắt ông ấy ở tù 12 năm, các đệ tử của ông tưởng ông
mất tích. Qua 12 năm, có một đệ tử có dịp vô trong khám
gặp thầy.
Đệ
tử hỏi: sao Thầy không nói là không ăn cắp bò, mà phải
bị tù 12 năm?
Thầy
nói: không có bị oan.
Đệ
tử hỏi: vậy ăn cắp bò của người ta sao?
Thầy
nói: không có ăn cắp bò, vì kiếp trước tôi có làm oan người
ta, làm cho người bị tù 12 năm. Bây giờ tôi phải ở tù
12 năm trả lại.
Hỏi:
Muốn
báo ân cha mẹ, trong Phật pháp chúng con phải làm thế nào?
Đáp:
Trong
Phật pháp có nói “nhứt thiết duy tâm tạo”, tâm lực mình
mạnh có ảnh hưởng đến cha mẹ được sửa đổi tâm, mới
là báo ân. Nếu tâm tham thiền, không những báo ân cha mẹ
đời nay, mà báo ân cha mẹ nhiều kiếp trước. Tâm lực của
mình yếu thì không thể báo ân, tụng kinh để báo ân thấy
rất khó, ở thời Phật không có tụng kinh. Ngày xưa Phật
bảo Mục Kiền Liên muốn báo ân mẹ, nên thiết trai cúng
dường trai tăng 1.000 vị Tỳ kheo chứng quả A la hán. Việc
ấy, Phật muốn người ta cúng dường chư Tăng để có thì
giờ tu hành độ chúng sanh giải thoát khổ, nên sức đó mới
lớn.
Trong
nhà Phật có báo tứ ân: ân Phật, ân chúng sanh, ân sư trưởng,
ân cha mẹ. Tại sao chúng sanh là ân? Vì tất cả chúng sanh
đều là cha mẹ, vô lượng kiếp chúng sanh đều làm cha mẹ
mình; chứ không phải chỉ có cha mẹ kiếp này. Sư trưởng
dạy mình biết tu giải thoát. Phật cũng vậy, dạy cho mình
biết tu giải thoát, cho nên gọi là tứ ân. Quyết tâm tham
thiền thì tứ ân đều báo hết, nếu tụng kinh để báo ân
là do người tụng kinh ấy có thật chân tu cảm ứng tâm người
đó có thể sửa đổi.
Hỏi:
Trước
nhà cô bạn có một cây lớn, con quỷ ở trên cây đó; ông
chồng cưa cây làm cho con quỷ về báo không có chỗ ở, làm
cho vợ chồng cải nhau ly dị; người chồng phải đến chỗ
khác ở, chỉ có người vợ mới ở được. Một hôm cô ấy
thấy một tay có lông thò vào cửa sổ. Vậy hiện tượng
đó như thế nào?
Đáp:
Hiện
tượng đó có thể có thật, trong Hư Vân Niên Phổ nói cây
lâu năm có quỷ thần ở. Nhưng cũng ở trong nhân quả, chứ
không ở ngoài nhân quả. Nếu tham thiền thì giải quyết tất
cả vấn đề, không có vấn đề nào mà không giải quyết.
Vì tất cả đều do tâm tạo, tham thiền làm tâm lực mạnh,
việc sanh tử cũng sửa đổi được.
Như
Kim Bích Phong đáng lẽ phải chết, Diêm La vương sai quỷ sứ
lại bắt.
Bích
Phong nói với quỷ sứ rằng: cho tôi thêm 7 ngày nữa.
Quỷ
sứ nói: tôi không dám quyết định, tôi về báo lại, nếu
cho thì 7 ngày tôi đến.
Bích
Phong lúc trước vì bận việc chùa nên không tu được, trong
7 ngày Ngài vẫn ở chùa ra sức tinh tấn tham thiền có hào
quang rực sáng.
Qua
7 ngày, quỷ sứ đến không thấy Bích Phong, thành ra sự chết
có thể thay đổi được.
Hào
quang cũng có người thấy được, ở Trung Hoa Dân Quốc, đời
Duyên Thế Khải có một bộ trưởng ngoại giao Ngũ Đình Phương
thấy hào quang của mọi người, ông thấy các hào quang của
những người trong nội các rất yếu, biết nội các này không
bao lâu sẽ sụp. Đúng như vậy, nội các này không bao lâu
bị người ta lật đổ.
Ở
chùa Nam Hoa có một cư sĩ thấy được hào quang của ngài
Hư Vân. Mỗi lần ngài đi về chùa chưa vô cửa ngỏ còn cách
vách tường, nhưng ông ấy nói “Hòa thượng về rồi”.
Một lần, ông thấy đội binh sắp ra trận có hào quang đen
giống như quỷ, một tiếng sau đội quân này tử trận hết.
Ông ấy gặp người ta đều biết người nào có tu hay không
tu, hào quang có tu là hào quang trắng. Cho nên, tham thiền thì
tất cả đều giải quyết, nhưng mình phải có lòng tin tự
tâm.
Hỏi:
Có
cách nào để dứt trừ tập khí?
Đáp:
Nghi
tình là cây chổi automatic, không có tác ý quét nhưng tự động
quét.
Hỏi:
Tại
sao tham thiền thay đổi nhân quả?
Đáp:
Tất
cả do tâm tạo, tâm tạo ra nhân phải chịu quả; nhưng tâm
lực yếu thì nhân yếu, tâm lực mạnh thì nhân mạnh; nhân
mạnh quả đến trước, nhân yếu quả đến sau. Ở Việt
Nam, người ta đi vượt biên, người ở trên biển bị chết
đói rất nhiều, đó là những người có tiền. Có tiền đâu
có sợ chết đói! Nhưng họ tạo nghiệp chết đói nên phải
bị chết đói. Kiếp này họ có tiền do có tạo nhân thiện,
còn họ bị chết đó là do tạo người ta chết đói nên phải
bị chết đói, hai việc này không thể trừ với nhau.
Kiếp
trước không tu thì tâm lực yếu, ví dụ người thường 1
độ, thành Phật 1 triệu độ. Nhân 1 độ làm cho người ta
chết đói, kiếp này không tu thì tâm lực vẫn 1 độ phải
chịu quả chết đói. Nhưng biết tham thiền thì tâm lực từ
1 độ lên đến 10 độ được mạnh tuy nhân mới làm, cái
quả sẽ đến trước; nhân 1 độ của kiếp trước sẽ kéo
lại sau. Như người thiếu nợ phải trả nợ cho chủ nợ
có thế lực mạnh, trả nợ sau cho chủ nợ có thế lực yếu.
Nhân quả cũng vậy, nhân mạnh thì quả đến trước, nhân
yếu nên quả đến sau.
Như
bây giờ tâm lực mình mạnh mặc dù mới tạo, nhưng cái quả
đến trước. Kiếp trước làm cho người ta chết đói, nhưng
cái nhân yếu nên cái quả đến sau. Giả tỷ mình tham đến
10 độ, rồi ngưng tham thì cái quả của nhân 10 độ hết
tới 9 độ, 9 độ hết đến 8 độ… đến 1 độ cũng phải
chịu quả chết đói.
Tham
thiền từ 10 độ tiếp tục tham đến 1 triệu độ là thành
Phật, nhưng nhân chết đói vẫn còn, nên phải trở lại độ
người đó. Người đó được thoát khổ, nhân đó được
tiêu. Sửa đổi nhân quả là vậy, không phải khi không mà
được.
Hỏi:
Thế
nào là đọc tụng thọ trì kinh?
Đáp:
Đọc
tụng kinh là để hiểu lời Phật dạy, nên đọc tụng phải
hiểu nghĩa; nếu đọc tụng không hiểu nghĩa giống như không
có đọc tụng, hiểu nghĩa là hiểu ý Phật dạy mình thực
hành. Hiểu được rồi mới lãnh thọ thực hành gọi là trì.
Sau cùng của mỗi cuốn kinh đều có “thọ trì phụng hành”.
Bây giờ người ta thường hiểu lầm tụng kinh cho là trì
kinh, đó là sai lầm; tụng chỉ là đọc tụng chứ không phải
trì, thực hành mới gọi là trì. Như trì giới là theo giới
luật thực hành gọi là trì giới, nếu chỉ tụng giới thì
không phải trì giới. Tụng giới cho là trì giới thì người
ta phạm giới đâu có sao! Vì tụng là trì rồi.
Giáo
môn ngày xưa tụng kinh là tùy duyên quán tưởng, tụng đến
chỗ nào thì hiểu ý của Phật dạy mình cách tu như thế
nào, rồi theo đó thực hành, nên gọi là tùy duyên khởi quán.
Quán tưởng là pháp thiền của Giáo môn, dù qua văn tự trong
kinh cũng là pháp thiền do Phật Thích Ca dạy gọi là thiền
quán tưởng.
Ở
Trung Quốc, thiền Giáo môn có 4 tông phái:
1-Tông
Thiên thai có chỉ quán thiền, căn cứ kinh Pháp Hoa gọi là
tông Pháp Hoa, Tổ thứ 3 của tông Thiên thai ở núi Thiên thai
nên gọi là tông Thiên thai. Bây giờ Việt Nam cũng có tông
Thiên thai.
2-
Tông Hiền thủ có Pháp giới quán thiền.
3-
Tông Duy thức có Duy thức quán thiền.
4-
Tông Tam luận có Tánh không quán thiền.
Mỗi
tông phái đều có thiền riêng của tông phái đó, nếu muốn
tu tông phái nào phải đúng tông chỉ của tông phái đó, sẽ
có kết quả mới phát hiện công đức của tự tánh.
Tổ
Đạt Ma nói “công đức ở nơi tự tánh”, tụng kinh để
hiểu nghĩa tu hành phát hiện công đức của tự tánh sẵn
có, chứ không phải tụng kinh có công đức.
Trì
chú thuộc về Mật tông. Bát Nhã Tâm Kinh nói “vô ngũ uẩn”,
nhưng người ta vì cuộc sống hằng ngày chấp ngũ uẩn là
ta, chứ không phá chấp ngũ uẩn. “Vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân, ý” là phá chấp lục căn; nhưng người tụng kinh không
phá chấp lục căn, mà còn muốn thỏa mãn lục căn để tăng
cường ngã chấp. Như mắt thích sắc đẹp, tai ưa khen ngợi,
mũi ham ngửi mùi thơm…
Như
vậy nói tụng kinh có công đức làm sao được! Phải thực
hành theo kinh được phát hiện công đức, chứ không phải
có công đức ngay đó. Lại nghịch với kinh làm sao có công
đức?
Hỏi:
Niệm
Phật có thể tiêu trừ nghiệp chướng tội lỗi đã làm từ
trước hay không?
Đáp:
Theo
kinh bất liễu nghĩa cho là có nghiệp chướng thật đi! Nhưng
cũng phải tu đúng theo tông chỉ Tịnh độ, rồi phát hiện
công đức của tự tánh được tiêu trừ nghiệp chướng.
Nếu niệm Phật mà tiêu trừ nghiệp chướng là phá hoại
nhân quả (không có nhân quả), tức là mình làm bao nhiêu ác
không sao. Tại sao? Vì niệm một tiếng Phật là tiêu trừ
hết. Còn nói niệm một tiếng Phật là tiêu trừ 80 kiếp
tội ác, vậy làm ác không có sao, thì không có nhân quả và
mình cũng không cần tu hành.
Tự
tánh vốn không có nghiệp chướng để tiêu trừ. Bát Nhã
Tâm Kinh nói “vô vô minh diệc vô vô minh tận”, tất cả
phiền não nghiệp chướng đều từ vô minh tạo ra. Vô minh
vốn không có, nếu tiêu trừ nghiệp chướng tức là vô minh
hết. Vô minh vốn không có làm sao có vô minh hết! Kinh đã
nói rõ ràng không có nghiệp chướng để cho mình trừ. Vô
minh còn không có, vậy nghiệp chướng từ đâu ra? Phật đã
dạy 84.000 pháp môn tu là để phát hiện công đức của tự
tánh thì nghiệp chướng vọng tưởng vốn là không có, đâu
cần tiêu trừ.
Ngài
Nguyệt Khê lúc 22 tuổi thuyết pháp rằng “trừ một phần
vọng tưởng, chứng một phần pháp thân”, bị Tăng nghe pháp
chê cười.
Giảng
xong, Ngài hỏi Tăng cười vừa rồi: Thầy thấy chỗ nào tôi
giảng không đúng?
Tăng
nói: Pháp sư giảng “trừ một phần vọng tưởng, chứng
một phần pháp thân” là không đúng. Tại sao? Nếu vọng
tưởng từ ngoài đến đâu có dính dáng với mình, vậy trừ
làm chi! Nếu vọng tưởng từ bên trong ra giống như nguồn
suối cứ ra hoài, biết bao giờ trừ cho hết.
Hỏi:
Thiền
Phật giáo từ Ấn Độ sang Trung Hoa đã bị nhướm màu sắc
của đạo Lão Trang. Kính xin Thầy cho biết quan điểm về
vấn đề này?
Đáp:
Lão
Trang phủ nhận hiện thực (cho là không có thật), giống như
Phật pháp nhưng chỉ là giống mà thôi, phải thì không phải.
Phật pháp lấy Phật tánh làm chủ, Phật tánh siêu việt số
lượng, bộ óc không có thể biết tới cái biết của Phật
tánh, cho nên suy nghĩ không đến được và lời nói văn tự
cũng không thể diễn tả. Những người dùng bộ óc để tìm
hiểu vì không biết căn bản của Phật pháp. Cái hiểu được
đều là tương đối, thuộc về phạm vi nhứt niệm vô minh.
Vậy Lão Trang lọt vào không chấp.
Phật
pháp là vô sở trụ, luôn cái không cũng phải quét; nhưng
tác giả không hiểu căn bản Phật pháp rồi đem vũ trụ vạn
vật phân tích cái gì cũng thành không.
Như
con sâu dép cỏ rất nhỏ chỉ là đơn tế bào, nó cách một
ngày một đêm thì nứt thành 2 con, 2 con cách một ngày một
đêm nứt ra thành 4 con, như vậy cứ nứt ra hoài tới 90 đời,
tất cả con sâu bằng 1 thước khối, đến 130 đời thì thể
tích bằng 1 quả đất.
Theo
quả đất này đem xẻ 2, rồi đem xẻ 2 nữa, cứ xẻ đến
130 lần thì trở thành một con sâu dép cỏ. Đem con sâu dép
cỏ xẻ thêm 130 lần, vật chất đã không còn; nhưng con số
vẫn còn, số lượng đó là vô thỉ vô minh. Đó là vật chất
chiếm không gian.
Nói
về gian, một ngày đêm là 24 tiếng đồng hồ, 1 tiếng đồng
hồ chia làm 60 phút, 1 phút chia làm 60 giây, 1 giây nhà Phật
chia 60 sát na. Tôi chia 1 sát na bằng 60 A, 1 A chia bằng 60 B,
1 B chia bằng 60 C. Nếu chia 60 C thì thời gian mà bộ óc không
nhận biết được, nhưng con số vẫn còn; 1 giây thì bộ còn
có khái niệm tưởng tượng. Thời gian mà bộ óc không nhận
biết được là vô thỉ vô minh, còn có số lượng. Nhưng
bộ óc chỉ nhận biết số lượng không gian và số lượng
của thời gian. Sự thật không gian thời gian tìm không ra.
Học thuyết của Lão Trang cao nhất là đến vô thỉ vô minh,
cũng không ngoài phạm vi tác dụng của bộ óc.
Phật
tánh không có con số, nên bộ óc không thể nhận biết. Phật
tánh biết được tác dụng của bộ óc, tác dụng bộ óc
không biết tác dụng Phật tánh. Những học giả chỉ biết
bộ óc, không biết Phật tánh, mà cho Phật tánh là bộ óc,
thật điên đảo! Tại sao? Vì những người đó không có tu,
chỉ là dùng bộ óc nghiên cứu theo danh từ lời nói của
Phật cho là cao nhất, nói thì giống, nhưng thật thì chẳng
phải.
Như
ban đầu Phật Thích Ca thuyết phục Ấn Độ giáo và Ba la
môn giáo quy y Phật, sau này họ đem giáo lý của Phật vào
giáo lý Bà la môn; những danh từ giống như danh từ của Phật,
người ta cho là cao bằng như Phật. Kỳ thật giáo lý của
họ không được, tại sao? Vì Phật thuyết chỉ là tạm thời
mượn để làm công cụ phá chấp của chúng sanh.
Phật
có thí dụ: chúng sanh có bệnh giả thì dùng thuốc giả để
trị bệnh giả, bệnh giả hết thì thuốc giả bỏ. Các vị
ấy không biết Phật pháp lấy cái đã bỏ cho là quý coi là
chân lý. Những lời của Lão Trang thì bộ óc hiểu được,
bộ óc không thể hiểu Phật tánh. Đem Phật tánh vào học
thuyết của Lão Trang là sai lầm lớn.
Hỏi:
Con
chim có bản năng bắt cá rất giỏi, con dơi có ra đa bắt
muỗi rất chính xác; còn con người có Phật tánh nhưng cần
phải luyện tập thì Phật tánh mới phát hiện. Tại sao con
dơi không có luyện tập mà có ra đa?
Đáp:
Mình
tạo nghiệp con dơi thì đầu thai thành con dơi có ra đa, bất
cứ con dơi nào cũng bằng nhau; tức là theo cái nghiệp hiện
ra, chứ không phải luyện tập. Nghiệp của con người có
bộ óc, bộ óc khác hơn các sinh vật khác, biết suy nghĩ,
biết so đo tính toán; các con vật không bằng bộ óc con người,
nên nhà khoa học bắt chước bộ óc con người làm ra máy
điện toán. Cấu tạo tinh vi bộ óc của con người không phải
học mà làm được. Vì có nghiệp con người nên có bộ óc
của con người. Cấu tạo tinh vi của bộ óc do cha mẹ sanh
là sẵn có, như con dơi sanh ra có ra đa.
Nhưng
cái nghiệp của con người có thể tu hành phát hiện tất
cả bản năng, con dơi con chim không thể tu phát hiện tất
cả bản năng, nó chỉ theo nghiệp của bản năng đó thôi.
Con người hơn 5 đạo kia, đạo cõi trời mặc dù có phước
cao hơn con người, nhưng chỉ hưởng vui không có khổ, vì
vậy họ không chịu tu để hiện tất cả bản năng của Phật
tánh. Mấy đạo kia thì khổ cũng không tu được. Các con thú
không có bộ óc như con người nên không tu được. Chỉ có
con người có bộ óc con người mới tu được.
Tham
thiền cũng dùng cái không biết của bộ óc để tu, tôi thuyết
pháp cho các vị nghe để tu cũng phải dùng bộ óc. Nếu không
có bộ óc thì tôi không dạy cho quý vị được, quý vị không
thể nhận biết lời tôi dạy.
Hỏi:
Sư
Phụ nói con vật không thể tu, nhưng con thấy con chó lúc trước
không ăn chay được, mà bây giờ nó lại ăn chay?
Đáp:
Do
mình tập cho nó thành thói quen, thực vật cũng thành thói
quen mà nhà khoa học chứng tỏ. Thói quen của con người cho
sáng là ban ngày, tối là ban đêm; cây thực vật cũng vậy,
cho sáng là ban ngày, tối là ban đêm. Nhà khoa học muốn thí
nghiệm thực vật phải làm sao? Ví như cây thực vật phải
trải qua 30 ngày có hoa kết trái. Nhà khoa học đào hầm ở
dưới đất không có ánh sáng, rồi nửa tiếng rọi ánh sáng
thì thực vật cho ánh sáng đó là ban ngày, khi tắt đèn thì
thực vật cho tối là ban đêm. Qua 30 tiếng đồng hồ, thực
vật tưởng là trải qua 30 ngày nên có hoa kết trái.
Vì
do thói quen, Phật pháp gọi là tập khí. Do tập khí biến
hiện sự thật, nhà khoa học có thể rút 30 ngày thành 30 tiếng,
thực vật cũng có trái. Có trái đó là do thói quen sáng là
ban ngày, tối là ban đêm. Động vật cũng vậy, như con thỏ
con chuột… phải 90 ngày có con, nhà khoa học cũng có thể
rút lại 90 tiếng đồng hồ có con.
Hỏi:
Kính
xin Sư Phụ khai thị thêm “trừ một phần vọng tưởng, chứng
một phần pháp thân”?
Đáp:
Lúc
22 tuổi, Nguyệt Khê nói “trừ một phần vọng tưởng, chứng
một phần pháp thân”. Vậy pháp thân có chia xẻ từng phần
thì đâu phải là Pháp thân! Pháp thân là Phật tánh bất nhị
làm sao chia xẻ? Nguyệt Khê giảng có danh tiếng, nhưng bị
Tăng hỏi không trả lời được, rồi xin Tăng ấy chỉ giáo,
Tăng ấy giới thiệu đến gặp Hòa thượng Thiết Nghiêm đã
kiến tánh ở núi Ngưu Đầu. Lúc đó trời tối, Nguyệt Khê
không đợi trời sáng liền đi gặp Thiết Nghiêm, Ngài dạy
tham thoại đầu, sau này được kiến tánh. Lúc trước, cứ
ăn đàm giải của người khác cho là tốt, rồi dạy lại
người ta.
Hỏi:
Căn
cơ của mình thấp kém, không bằng chư Tổ; vậy đối với
pháp môn tham thiền này làm sao tu?
Đáp:
Phật
tánh làm sao có cao thấp! Phật tánh có thấp kém thì không
phải Phật tánh. Có cao thấp là nhị, Phật tánh là bất nhị.
Bất nhị làm sao có thấp kém? Thấp kém là do bệnh chấp
của con người mới có. Nếu mình chấp thấp kém thì phải
chịu thấp kém. Kinh Pháp Hoa thí dụ “có hạt châu như ý
trong áo mà không biết, cho mình nghèo rồi đi ăn xin; người
trí chỉ cho biết hạt châu thì giàu sang, đâu cần phải đi
ăn xin nữa”. Vì không tin cái của mình sẵn có, cứ cho mình
thấp kém, nghiệp chướng nặng. Cũng có người nghe nói “tu
để thành Phật”, người ấy liền nói “sao dám nói tu thành
Phật!”
Kỳ
thật, mục đích đức Phật muốn mọi chúng sanh đều thành
Phật, vì thành Phật mới được làm chủ chính mình, đạt
đến tự do tự tại. Lại nghịch ý Phật, không cho người
ta thành Phật; làm sao Phật độ chúng sanh? Mà cho mình nghiệp
chướng nặng, thấp kém, không dám tu để thành Phật. Vậy
đã phủ nhận Phật pháp của Phật Thích Ca. Lời nói trong
kinh không chịu nghe theo, không chịu làm theo, cứ tự mình
đặt ra ý của mình, lại phỉ báng kinh. Mặc dù mình chưa
kiến tánh, nếu mình quyết tâm tham thiền thì tâm lực mạnh,
hào quang sáng.
Hỏi:
Thay
vì nhớ những lời, mà tưởng tượng như một bức tranh,
đối với pháp Tổ sư thiền có được không?
Đáp:
Công
án là một chuyện tích không có ý nghĩa, để cho mình phát
nghi chấm dứt suy nghĩ của bộ óc; tức là không phải muốn
cho mình hiểu, mà muốn cho mình không hiểu.
Có
người hỏi Tổ: thế nào là Phật?
Tổ
đáp: cục cứt khô.
Là
không để cho mình giải thích.
Hỏi:
Tu
đến Niết bàn từng phần có được không?
Đáp:
Niết
bàn là bản thể của Phật tánh cùng khắp không gian thời
gian, không thể chia xẻ thành từng bộ phận được. Vì ngoài
không gian không có không gian, ngoài thời gian không có thời
gian; nói là một còn không được, nên gọi là bất nhị;
vì không sanh không diệt, đặt tên là Niết bàn; không có
sự bắt đầu và không có sự cuối cùng, siêu việt số lượng,
không cho bộ óc nghĩ tới.
Hỏi:
Công
án đề ra là để giữ cân bằng giữa năng và sở, vậy làm
sao đạt đến không còn năng sở?
Đáp:
Công
án là một chuyện tích để khởi nghi tình, chính nghi tình
là không có năng sở. Nếu dùng bộ óc tìm hiểu, không bao
giờ đạt đến chỗ đó được. Giữ Nghi tình là không tác
ý lấy hay bỏ, sẽ đưa mình đến chỗ Niết bàn.
Thực
hành tham thiền là tối ngày sáng đêm, đi đứng nằm ngồi,
mặc áo ăn cơm, đi cầu ngủ nghĩ, làm công việc… hỏi thầm
câu thoại đầu, giữ nghi tình; ngoài nghi tình không suy nghĩ
cái gì khác nữa, chính câu thoại đầu cũng không cho tìm
hiểu.
Hỏi:
Thế
nào là yếu chỉ của Thiền tông và sự ích lợi dự đả
thiền thất như ngày hôm nay?
Đáp:
Yếu
chỉ của Thiền tông có 2 cơ bản: tin tự tâm và phát nghi
tình.
Thế
nào là tin tự tâm? Tin tâm mình đầy đủ tất cả thần thông
biến hóa, trí huệ năng lực, bằng Phật Thích Ca, không có
kém hơn Phật Thích Ca một chút nào. Mục đích tham thiền
là muốn phát hiện năng lực của mình, để dùng như Phật
Thích Ca vậy; mà tự giải quyết sự sanh tử, giải thoát
tất cả khổ, làm chủ cho mình đạt đến tự do tự tại.
Muốn
đạt đến tự do tự tại phải có phương pháp, phương pháp
đó là phát nghi tình thì phải nhờ câu thoại đầu hoặc
công án. Bây giờ tôi chỉ dạy người ta tham thoại đầu,
rất đơn giản. Trong Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền
có 5 câu thoại đầu: Câu thứ nhất là “chưa có trời đất
ta là cái gì?” Có trời đất thì ngồi đây, chưa có trời
đất không biết mình ở đâu? Cũng không biết mình là cái
gì? Không biết đó là tham thiền. Nhờ câu thoại đầu làm
cho bộ óc cảm thấy không biết, không biết đó Thiền tông
gọi là nghi tình. Ngày đêm mình giữ nghi tình, rồi sẽ đến
thoại đầu.
Thoại
là một lời nói, đầu là trước kia chưa có muốn nói; chưa
khởi niệm muốn nói, gọi là thoại đầu. Hai chữ thoại
đầu là một niệm chưa sanh khởi, cũng gọi là vô thỉ vô
minh.
Như
đầu trên cây viết là thoại đầu, đầu dưới cây viết
là thoại vỉ (đuôi). Nhờ câu thoại đầu khởi lên nghi tình,
từ thoại vỉ đến thoại đầu là đường đi ý thức; khởi
nghi tình là rời khỏi thoại vỉ, đang đi giữa đường ý
thức đến thoại đầu. Đến thoại đầu là đường đi ý
thức đã hết, nhưng chỗ này là nguồn gốc của ý thức,
còn dính líu tác dụng của bộ não; phía trước chỗ này
không còn đường đi, thấy thanh thanh tịnh tịnh; ngoại đạo
hay Tiểu thừa tưởng là cuối cùng, nhưng Thiền tông phải
ở chỗ này (đầu sào trăm thước) tiến lên một bước,
rời khỏi ý thức, sát na rời khỏi ý thức là kiến tánh.
Ngài
Lai Quả nói “từ đầu sào trăm thước tiến lên một bước
lọt vào hư không, té xuống cho chết rồi sống lại”, Thiền
tông có danh từ là tuyệt hậu tái tô. Nhưng cái chết đó
có 2 thứ: tiểu tử tiểu hoạt và đại tử đại hoạt.
Tiểu
tử là ngộ chưa triệt để, tức là chết rồi sống lại,
nhưng còn cái xác; đại tử đại hoạt là ngộ triệt để,
tức là chết rồi sống lại, không còn cái xác. Tại sao còn
cái xác? Cái xác dụ cho chấp vào cảnh giới ngộ, không buông
nên bị cái ngộ làm chướng ngại, cái dụng không thể dùng
ra hết. Đại tử đại hoạt là cái ngộ tan rã, nên Tổ sư
nói “ngộ rồi đồng như chưa ngộ”. Tại sao? Vì đã ngộ
rồi hết mê, do mê mới có ngộ; vậy còn ngộ thì còn mê.
Ngộ là đối với mê, mê là chúng sanh, ngộ là Phật. Nếu
đã ngộ mà còn ôm cảnh giới cho mình ngộ, tức là trụ
nơi Niết bàn.
Cái
dụng Phật tánh vô lượng vô biên, gọi là hoạt bát vạn
năng; nếu có sở trụ thì hoạt bát vạn năng bị mất. Tham
thiền khởi lên nghi tình là cây chổi automatic quét ra, khôi
phục lại hoạt bát vạn năng. Trụ nơi không thì hoạt bát
vạn năng cũng bị mất, nên cái không cũng phải quét, để
khôi phục lại hoạt bát vạn năng của bản thể. Cho nên
trụ nơi Niết bàn thì cái dụng bị chướng ngại. Đại ngộ
là luôn cái ngộ cũng tan rã, hoạt bát vạn năng không chướng
ngại, nên nói đại ngộ là cái xác tan rã vậy.
Tham
thiền là phải tin tự tâm, nếu không tin tự tâm; mặc dù
ngày đêm giữ được nghi tình không thể kiến tánh. Tại
sao? Vì không tin tự tâm làm sao phát hiện tự tâm! Bởi tham
thiền là muốn phát hiện tự tâm, không tin tự tâm làm sao
tự tâm hiện ra. Cho nên, tin tự tâm và phát nghi tình là 2
cái cơ bản của tham Tổ sư thiền.
Hỏi:
Cư
sĩ thực hành thế nào đúng tông chỉ Thiền tông?
Đáp:
Trong
Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền, điều thứ nhất
phá ngã chấp là “vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ”.
Tham thiền thực hành được 9 chữ này là đúng tông chỉ
Tổ sư thiền; nếu còn muốn đắc, muốn cầu, có sợ thì
không đúng tông chỉ. Tin tự tâm đầy đủ cùng khắp không
gian thời gian, tất cả tài sản đều của mình thì tự nhiên
mình không muốn đắc, muốn cầu, có sợ nữa. Cho nên tin
tự tâm là cần nhất, tin tự tâm được thì thực hành được
9 chữ đó. Nếu không tin tự tâm, muốn thực hành 9 chữ đó
rất khó. Còn 9 điều kia quý vị tự xem.
Hỏi:
Khả
năng như thế nào để thành một tu sĩ?
Đáp:
Muốn
xuất gia làm một tu sĩ Phật giáo thì phải có chánh nhân.
Chánh nhân là sao? Là phải vì mình giải quyết vấn đề sanh
tử, rồi giải quyết sanh tử cho tất cả chúng sanh; đó mới
là chánh nhân. Nếu chỉ vì sự nghiệp thất bại hoặc gia
đình lộn xộn xuất gia thì không phải là chánh nhân, trong
Phật giáo không có hoan nghinh những thứ đó. Xuất gia là
việc đại trượng phu, rất tích cực vì mình, vì tất cả
chúng sanh. Nhiều người hiểu lầm bỏ nhà cửa đi xuất gia
là tiêu cực, đó là sai lầm. Nếu có chánh nhân thì những
việc khác không thành vấn đề.
Hỏi:
Thần
thức người chết đi về đâu? Trong thời gian 49 ngày, đồng
tham đến nhà tham thiền trợ duyên, cần lập nguyện trước
khi tham thiền không?
Đáp:
Bản
thể của tâm cùng khắp không gian thời gian, đã cùng khắp
thì không thể nói đi về đâu. Nhưng chấp thần thức đó
rồi thì có một chỗ, mới nói là đi về đâu. Vì chấp thần
thức nên đi đầu thai trong vòng sanh tử luân hồi. Thần thức
đi về đâu là theo cái nghiệp, nếu tạo nghiệp cõi trời
thì sanh cõi trời, tạo nghiệp cõi người thì sanh cõi người,
tạo nghiệp súc sanh thì sanh súc sanh, tạo nghiệp quỷ thì
sanh loài quỷ. Người ta thường hiểu lầm người chết biến
thành quỷ, ấy là không đúng; tạo nghiệp quỷ đầu thai
thành quỷ, chứ không phải chết rồi biến thành quỷ.
Người
tham thiền có người thân khi lâm chung, chỉ tựu lại tham
thiền tọa hương đi hương. Hồi hướng là phá ngã chấp,
nếu muốn cha mẹ giải thoát phải làm cho cha mẹ phá ngã
chấp. Trái lại làm cho ngã chấp lớn thêm, giống như lấy
dây buộc nhiều thêm cho chặt cứng; vậy làm sao giải thoát
được? Ở Việt Nam có người chết hay mời các thầy tụng
kinh thành thói quen, tham thiền vì người chết cũng có người
không chịu; cho nên thuyết pháp trước linh cửu, do cái nhân
người chết mà người sống được lợi ích.
Đầu
tiên tôi thuyết pháp tại nhà xác Quảng Đông, những người
làm việc ở đây lại nghe; có người nghe rồi, hôm sau đến
chùa Từ Ân tìm tôi học thiền. Mặc dù không có tu cũng được
gieo chánh nhân, sau này do chánh nhân ấy tu được giải thoát.
Vì người chết mà người sống được nghe pháp. Chính gia
quyến người chết không khi nào đi nghe pháp, nhưng vì người
chết nên họ phải làm đám, nên họ cũng có dịp nghe được
chánh pháp. Người chết có nhân đó, nếu nói có công đức
thì cũng có công đức vậy.
Hỏi:
Làm
tuần thất cho người chết, người tham thiền phải làm như
thế nào?
Đáp:
Người
tham thiền làm tuần thất cho người thân, mời Pháp sư thuyết
pháp thay thế cho tụng kinh. Làm tuần từ tuần thứ nhất
đến lần thứ bảy, vì người chết có thân trung ấm. Người
ta thường cho rằng người chết biến thành quỷ, nhưng không
phải vậy. Nếu chưa đi đầu thai là có thân trung ấm, thông
thường ngày giờ chết đi đầu thai liền; lục đạo luân
hồi có tam thiện đạo (cõi trời, cõi người, cõi a tu la)
và tam ác đạo (súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục).
Nếu
làm thiện nhiều hơn ác một chút thì sanh thiện đạo, làm
ác nhiều hơn thiện một chút thì sanh ác đạo. Đã phân biệt
rõ ràng là giây phút chết đi đầu thai liền, không còn thân
trung ấm. Nếu thiện và ác bằng nhau, chưa biết sanh thiện
đạo hay ác đạo mới có thân trung ấm. Tại sao gọi là thân
trung ấm? Ấm là ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức),
thân ngũ uẩn này đã chết rồi, thân ngũ uẩn sau chưa sanh,
ở giữa trước với sau gọi là trung ấm.
Hỏi:
Khi
tham thiền, câu thoại vừa khởi lên thì hình ảnh cũng hiện
lên, chẳng hạn như câu “khi chưa có trời đất” thì hình
ảnh của trời đất hiện ra, như vậy có đúng không? Khi
sự việc đó xẩy ra, ta điều chỉnh bằng cách nào?
Đáp:
Tham
thoại đầu là mục đích phát khởi nghi tình, tức làm cho
bộ óc chỉ có cái không biết, dùng cái không biết của bộ
óc cắt đứt cái biết bộ óc. Nếu hiện ra cảnh, bộ óc
biết cảnh, đó là sai, bất cứ biết cái gì đều sai là
vọng tưởng; chỉ cần cái không biết, ngài Nguyệt Khê nói
là hầm sâu vô minh, không biết chỗ đen tối là cái gì. Vì
minh là sáng, vô minh là đen tối; tức là mình phải nhìn thẳng
chỗ đen tối mịt mù, không biết chỗ mịt mù đen tối là
cái gì? Không biết là cái gì? Tức là nghi tình.
Hỏi:
Ngài
Nguyệt Khê luôn luôn khai thị phải nhìn sâu vào chỗ vô minh
đen tối mịt mù phá tan, nhưng chúng con không biết nhìn sâu
bằng cách nào?
Đáp:
Theo
nhìn là dùng con mắt, con mắt gọi là nhãn căn; nhưng không
phải là dùng phù trần căn, dùng tịnh sắc căn. Con mắt như
trái nho tươi gọi là phù trần căn (phù nổi lên bên ngoài,
trần là bụi tức là có vật chất nổi bên ngoài), tịnh
sắc căn (sắc là vật chất, tịnh là không có; là thể tinh
thần của nhãn căn). Nếu phân tích rõ là tịnh sắc căn của
nhãn căn. Dùng tâm nhìn chứ không phải dùng con mắt nhìn,
vì đó là tịnh sắc căn của nhãn căn.
Hỏi:
Ngồi
một chỗ nhắm mắt lại thấy màn đen tối, có thể nói là
hầm sâu đen tối; hoặc nhìn xuống cái chiếu, mở mắt lim
dim không nhìn thấy cái chiếu, cảnh ngoài không vào con mắt,
gọi là hầm sâu vô minh, vì không thâu chủng tử. Nhưng nhìn
việc làm thì phải làm sao?
Đáp:
Nếu
có đối tượng để nhìn là sai, một niệm chưa sanh khởi
gọi là thoại đầu (vô thỉ vô minh); một niệm chưa sanh
khởi thì không có nhứt niệm vô minh để biết đối tượng
đó. Có lấy cái gì để làm đối tượng cũng là sai, không
có đối tượng. Cho nên chỉ nhìn không biết đó là cái gì,
vì phối hợp với nghĩa vô minh cho là đen tối; chứ không
có cảnh đen tối, nhưng vì lời nói không thể diễn tả.
Vì vậy phải mượn văn tự lời nói để diễn tả chỗ mình
không thể biết chỗ một niệm chưa sanh khởi.
Bởi
vì một niệm sanh khởi rồi, mới lấy cái niệm này để
biết. Còn cái này là một niệm chưa sanh khởi, phải nhìn
chỗ một niệm chưa sanh khởi gọi là thoại đầu. Chỗ thoại
đầu là vô thỉ vô minh, vô minh là đen tối, đen tối có
cái nghĩa không biết là cái gì. Mịt mù đen tối là hình
dung vô minh, nhưng không phải có cảnh đen tối.
Kỳ
thật, cảnh đen tối không có ánh sáng là đen tối, chứ không
phải hư không có sáng và tối (kinh Lăng Nghiêm có giải thích).
Mặt trời chiếu sáng, hư không chưa từng sáng; không có mặt
trời chiếu (đen tối), hư không chưa từng tối. Sáng và tối
không có dính dáng với hư không, nhưng người thường cho
hư không sáng, hư không tối là sai lầm. Sáng tối là pháp
sanh diệt, còn hư không chưa từng sanh diệt; không có dính
líu với sáng tối, nhưng sáng tối phải ở trong hư không.
Bây
giờ mình ở trong Phật tánh sanh tử, luôn cả hư không cũng
ở trong Phật tánh. Nhưng mình không biết, mà còn phải đi
tìm. Như mình đang ngồi trong thiền viện Minh Đăng Quang, lại
còn muốn đi tìm thiền viện Minh Đăng Quang. Vậy làm sao tìm?
Hỏi:
Người
mới tham Tổ sư thiền dùng lục căn làm việc, nhưng không
nhìn được thoại đầu, chỉ niệm câu thoại có được không?
Đáp:
Lúc
công phu chưa đến mức, mình cứ dùng lục căn; lúc dùng lục
căn mà không giữ được nghi tình, giữ cái niệm cũng được.
Rồi tập lần lần đến chừng thiệt nghi tình giữ được
thì cũng làm xong công việc vậy. Như Trương Quốc Anh, bác
sĩ Thuận, cô Hằng Thiền, họ giữ được nghi tình thì cũng
hoàn thành tác dụng của bộ óc; khỏi cần qua bộ óc nhưng
làm xong công việc xài óc. Nếu công phu chưa đến mức đó,
khi làm việc thì nghi tình phải tạm ngưng; chừng nào công
phu đến mức thì nghi tình tự động khởi lên. Bộ óc không
biết nhưng vẫn làm việc bình thường, lại nhanh hơn tốt
hơn.
Hỏi:
Khi
tham thoại đầu có niệm không hiểu thì chỉ giữ niệm không
hiểu không biết hay ta giữ thêm niệm không biết nào đó
nữa?
Đáp:
Cái
không biết làm sao có hai! Một không biết đã đủ rồi. Hai
không biết là biết, biết có hai là biết.
Hỏi:
Tham
thoại đầu là cảm thấy không biết, mình tham tiếp hay tham
câu thoại đầu rồi trả lời tiếp sau đó mình không biết?
Đáp:
Không
cần trả lời. Tôi hỏi thử người ấy có tham đúng hay không?
Thì người ấy mới trả lời. Nếu tự mình hỏi cảm thấy
không biết, tức là trả lời không được. Có hỏi thì phải
có đáp, đáp là trả lời; nhưng không biết làm sao trả lời,
không biết thì trả lời không ra; thình lình trả lời ra là
kiến tánh. Nói thình lình trả lời là không phải trả lời,
phát hiện bản thể cùng khắp không gian thời gian. Đó là
thay cho trả lời.
Nói
dùng lục căn (nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân
căn, ý căn) để tham đều là dùng tịnh sắc căn, chứ không
phải dùng phù trần căn. Như lỗ tai giống như lá cuống,
đó là phù trần căn. Tịnh sắc căn là nhĩ thức, nhãn thức…
Hỏi:
Con
bị đau cổ, người ta nói “cô sao không đi tụng kinh cầu
an cho hết bệnh!” Con nghĩ rằng “nếu tụng kinh cầu an
hết bệnh thì các Tăng Ni trong chùa thường tụng kinh đã
hết bệnh rồi, hay những người giàu mời các Tăng Ni tụng
kinh cũng hết bệnh”, con đến đây cùng các bạn tọa hương
đi hương. Kính xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
Nếu
tạo nhân gì thì phải chịu quả nấy, kinh Pháp Hoa nói “như
thị nhân như thị quả”. Cầu an cho khỏi bệnh, mà ai cũng
biết cầu an! Nhưng những người cầu an cho người ta cũng
bệnh vậy. Bây giờ mình bệnh là do kiếp trước tạo nhân
bệnh, nên phải chịu cái khổ của bệnh. Phật Thích Ca xuất
gia cũng vì cái khổ sanh lão bệnh tử của con người cần
phải giải quyết. Nếu cầu an được thì không cần xuất
gia làm chi nữa, sự thật có cầu an được là phá hoại nhân
quả; không có nhân quả nên mình không cần tin Phật, không
cần tu.
Hỏi:
Kinh
Dược Sư là phương tiện an ủi gieo tín tâm cho người ta
trong lúc đó phải không?
Đáp:
Kinh
Dược Sư là kinh bất liễu nghĩa, trong đó cũng có pháp tu
để cầu sanh cõi Đông Phương. Đời nhà Minh ở Trung Quốc
có người hoằng dương Dược Sư Tịnh Độ. Ngài Thái Hư
nói “người hiện tại đời thế kỷ hai mươi phần nhiều
thích hợp Tịnh độ Dược Sư, không thích hợp Tịnh độ
A Di Đà. Bởi vì người nào cũng sợ chết, mà ham kiếp sau
làm phú quý; nên Tịnh độ Dược Sư mới thích hợp, Tịnh
độ A Di Đà không thích hợp. Do người hoằng dương Tịnh
độ Dược Sư rất ít, thành ra Tịnh độ A Di Đà thịnh hành.
Nhưng
người ta hoằng không đúng tông chỉ Tịnh độ A Di Đà, không
bằng hoằng Dược Sư Tịnh Độ; để kiếp này hưởng ngũ
dục của thế gian, kiếp sau đầu thai cũng hưởng phú quý
nữa, rồi từ từ sanh đến Tịnh độ Đông Phương. Có người
hoằng dương 3 thứ Tịnh độ: Tịnh độ A Di Đà, Tịnh độ
Đâu Suất, Tịnh độ Dược Sư. Người ta không biết, chỉ
biết Tịnh độ A Di Đà, lại không biết cách tu của Tịnh
độ A Di Đà, cho nên tạo ra nhiều nạn nhân chịu oan.