THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
 
Mật TôngTây Tạng
 

 
 
.
UỐNG DÒNG SUỐI NÚI
Những Bài Ca của vị Thánh được Mến Yêu của Tây Tạng, Milarepa
Nguyên tác: Drinking the Mountain Stream, Song of Tibet’s Beloved Saint, Milarepa
Translated by Lama Kunga Rinpoche & Brian Cutillo, Wisdom Publications, 1995
Việt dịch: Tha Nhân - Nhà xuất bản Thiện Tri Thức, 2002
 

15
Mila Thăm Viếng Một Trung Tâm Tôn Giáo

Một mùa hè sau khi ở mùa đông tại Lachi, Jetsušn vĩ đại đi khất thực trong vùng thượng Tây Tạng. Du hành qua những cao nguyên của vùng này, ngài đến một trung tâm tôn giáo rộng lớn. Một đám đông người nhóm họp cho một buổi tiệc tôn vinh vị trưởng trung tâm vừa được bổ nhiệm. Đi thẳng vào trong, ngài ngồi xuống nơi hàng những nhà sư và tự mình lấy một ít thức ăn. Một người đàn ông trẻ nói với ngài, “Thiền giả, ngài có vẻ có một điều kiện thể lực tốt như bất kỳ ai sinh ra trong thế giới này – không quá già cũng không quá trẻ. Bây giờ, trong lúc khỏe mạnh nhất, ngài nên kiếm thực phẩm bằng lao động của mình ; ngài không phải xin thức ăn. Tại sao lại chịu mặc những quần áo rách rưới như thế này ?”

Nói thế, anh ta đưa cho Jetsušn, vài hạt với cải chua và để đáp lại Mila hát cho anh bài ca này :

Bậc Pháp vương quý báu mà chỉ nhớ đến là đã đủ
Xin ban cho chúng con ân phước từ trạng thái không biểu lộ của ngài.

Người trẻ tuổi thượng lưu được cha tốt lành nuôi nấng,
Người đàn ông can đảm được mẹ già dưỡng dục –
Dòng dõi của anh được xây trên công đức đã tích tập
Và sự vinh hiển hiện giờ của anh phát sanh từ nhân đức trước kia.

Sở đắc kiến thức nhờ trí thông minh,
Hấp dẫn với y phục được trang sức,
Anh là rường cột của gia đình thân yêu.
Với sức mạnh và can đảm anh thắng vượt những kẻ thù,
Và với tính khí rộng rãi làm vui lòng thân thuộc.

Đi vào Pháp nhờ lòng tin tự nhiên,
Rộng rãi với tôn giáo nhờ ít gắn bó với giàu có,
Anh sùng mộ Pháp từ sâu thẳm lòng mình.
Một đứa con trẻ trung như thế
Ngay ta cũng phải yêu thích.
Nhưng trước mặt cha, anh dữ dằn như một con cọp ;
Trước mặt mẹ, anh dữ dằn như một con báo.
Trước vợ anh, anh chồm lên như một con gấu,
Đối diện với một kẻ thù anh thoát lẹ như một con chồn.

Giữa bạn bè anh đứng như một con sư tử ;
Gặp những người ăn xin, anh gầm lên như sấm
Anh thấy những nhà sư như những kẻ thù,
Và đối xử với người thường như những vị trời.

Anh làm việc từ sự thèm khát rượu bia.
Ban ngày anh đi săn nai và tàn sát thú vật,
Ban đêm buông thả cho tà dâm và ăn trộm,
Cuộc đời anh đầy những lời hứa trống rỗng.

Với mọi thứ trộm cắp và ngoại tình này
Cùng với những người tân hồn ngang cấp
Một ngày nào anh sẽ mất vào tay những kẻ cướp
Hay gây ra sự bất bình của những người đồng hương.

Một ngày nào thân thể anh xem rất thương quý
Sẽ bị giáng cho mọi loại hình phạt.
Do những luật lệ của chính quyền địa phương.
Bị ném vào ngục tối không thể chịu đựng,
Có lẽ anh mất cuộc đời quý báu của anh
Hay máu – hay một con mắt –
Hay bị đi đày với chỉ bộ quần áo trên lưng,
Mọi giàu có sẽ bị tịch thu.
Bấy giờ, trong cơn đói không thể chịu đựng,
Mọi người sẽ khinh anh như một kẻ ăn mày.

Tôi là một thiền giả chỉ cầm thứ gì khi chúng đến –
Tôi có hạnh phúc cả đời này và đời sau.
Tôi chỉ nói với anh điều này, anh bạn trẻ
Vì tôi cảm kích nhiều bởi sự trao tặng của anh.

Người đàn ông trẻ trả lời, “Bài ca của ngài nói rất đúng ! Ngài quả là một thiền giả nhanh trí và hùng biện. Nhưng chẳng phải ngài hơi quá đáng với những cách thức sơ sài và nghiêm ngặt của ngài sao ? Tôi e rằng những vị Độc Giác Phật cũng không nói là không cần mặc áo quần để bảo vệ thân thể. Bởi vì công việc không thích hợp với ngài, ngài có thể ở lại nơi một trung tâm tôn giáo nào thích hợp và làm một người hướng dẫn cho cư sĩ nhờ sự rất thiện xảo về Pháp của ngài – như vị trụ trì của tu viện chúng tôi vậy. Tôi nghĩ ngài sẽ có một tương lai ưng ý trong đời này và đời sau. Ngài nghĩ sao, thiền giả ?”

Để trả lời Mila hát bài này :

Con cầu nguyện đến chân của lama.

Trước hết, cắt đứt sự mê lầm của học hỏi ;
Rồi suy nghĩ ý nghĩa của điều đã được học ;
Và cuối cùng thiền định ý nghĩa của nó như đã được dạy.

Thấm nhuần với đại bi và tánh Không
Bằng thiện xảo trong ba phần của kinh điển(27)
Và trong những mệnh lệnh của ba sự cam kết(28)
Ở nơi gốc của tất cả Phật pháp,
Và kích động bởi lòng từ và bi,
Hãy có được thiện xảo trong chỉ dạy và hướng dẫn người khác.
Giữ gìn tầm nhìn cao thượng trong khi hướng về những quan tâm của anh,
Bằng cách cân đo những lợi lạc của mình và những người khác.

Thế rồi góp nhặt công đức từ cái nhỏ nhất trở lên,
Tránh cái xấu từ cái nhỏ nhất trở xuống,
Cẩn trọng tuân thủ nhân và quả,
Và nắm chắc Bồ đề tâm
Không ngó ngàng gì đến phúc lợi riêng của anh
Và làm cho người khác bất cứ điều gì anh có thể làm.
Một người giữ gìn Phật pháp như thế ấy
Sẽ làm dựng lông tóc trên thân người nào được thấy hay nghe.

Nhưng ban đầu bị điều động bởi tám mối quan tâm thế gian,
Muốn những điều đẹp đẽ trong đời này,
Người ta tự dựng mình vào vị trí làm thầy
Và lấy tên là Geshe Tošnba.(29)

Người ta học cách cử hành những lễ nghi vì thức ăn và đồ uống,
Làm việc nhiều để góp chứa của cải vật chất.
Mọi người đều thích thú – “Xướng tụng tuyệt vời !”
Bởi thế người ấy được bổ nhiệm là trưởng một trung tâm tôn giáo.
Mọi người đều lễ lạy và tôn kính.
Khi mỉm cười người ấy tiếp đón những người con của giới quý tộc.
Nhưng người ấy sẽ không thấy ngay cả một người đói
Và dù duyên dáng khi được cúng những tài sản và thực phẩm,
Không có món cúng nào người ấy có thể được thỏa mãn.
Người ấy quy tụ một số nhà sư bắt chước bao quanh
Và giả vờ cúng những lễ tiệc
Thích thú suốt nhiều ngày với thức ăn đồ uống,
Nhận lời khen vì “công đức lớn” của mình.

Cả hết cuộc đời người ấy bị tiêu phí trên con đường lừa đảo ấy –
Trong giao dịch kinh doanh, cho vay, trồng trọt và dịch vụ
Được dẫn dắt bởi lừa gạt và mưu mô hợp pháp.

Một người lừa gạt và thiếu trung thực như thế
Hoàn toàn dấn thân vào mọi loại hành động xấu
Được gọi là cột trụ của trung tâm tôn giáo !

Một khi thọ giới đi vào Phật pháp,
Người ta cần từ bỏ những gắn bó với sự vật vật chất –
Chỉ lấy cái gì tự nó đến –
Và giữ chắc Bồ đề tâm
Nhắm đến sự lợi lạc cho những người khác.

Nhưng sau khi mang chiếc y vàng,
Họ có nhiều công việc làm ăn còn hơn người thường !
Họ biến cơ hội này của đời làm người
Có được chỉ một lần trong cả trăm lần tái sanh
Thành một cái neo ném vào biển sanh tử !
Một cái chổi để quét sạch sự giải thoát của chính họ !
Một người hướng dẫn tự đưa họ đến những cảnh giới thấp !
Dù họ có tiếc nuối nó khi chết, còn làm được gì ?

Tôi đã thấy một số người như vậy.
Tôi không có quan tâm trong việc điều hành một trung tâm.
Hãy xem đây là sự trả lời cho câu hỏi của anh.

Người đàn ông trẻ đứng lên và mời Jetsušn một vò bia, nói với ngài, “Điều ngài nói là đúng ; làm một lama là một công việc rất tinh tế. Nếu ngài hiến mình cho sự thực hành Pháp, những công việc tu viện sẽ bị bỏ bê, và nếu ngài dấn thân vào công việc tu viện, sự thực hành Pháp của ngài sẽ thiệt thòi. Nhưng sự thiếu thốn áo quần của ngài vẫn còn làm cho tôi bận tâm. Nếu ngài có một sự ủng hộ nào đó, sự thực hành của ngài sẽ được lợi hơn. Ngài sẽ không quá cùng kiệt trong những nhu cầu hàng ngày của mình. Xin ở lại đây, nơi tu viện này và tham dự vào thực hành và cả trợ giúp vật chất. Nếu lúa mạch và các nhu cầu khác không được cung cấp đủ, tôi sẽ phụ thêm phần tôi. Những người khác cũng sẽ trợ giúp ngài. Riêng tôi hôm nay sẽ cúng ngài đủ vải len để làm một cái áo dài. Xin hãy nhận sự dâng cúng của tôi.”

Nhưng Mila lại trả lời bằng một bài ca :

Con cầu nguyện đến chân lama cha con.

Này con – thí chủ có lòng tin – hãy nghe đây ;
Hãy giữ gìn tịnh giới cho phần con,
Đầy đủ từ bi cho những người khác.
Hãy luôn luôn nỗ lực làm việc cho lợi lạc của cả hai.

Hãy đối xử kính trọng và tuân theo lời
Của những vị trụ trì, vị thầy và sư huynh.
Hãy hướng dẫn Pháp cho những người trẻ hơn con
Và thực hành không thiên vị và tôn trọng những người đồng lứa.

Rành rẽ những giới điều chủ chốt của ba cam kết
Và hãy giữ những lời nguyện của con như giữ gìn con ngươi trong mắt.
Hãy thiện xảo trong những yếu tố chính của nghi lễ
Và hãy biến sự thực hành nồng nhiệt thành mối quan tâm tối thắng của con
Mà chẳng ngó ngàng gì đến giàu có hay danh vọng.
Cực kỳ hiếm hoi là sự phụng sự hiến mình
Và hòa nhập với giáo lý –
Khó khăn cho ai thành tựu được.

Ở Tây Tạng này sự thực hành Pháp
Hầu hết là sự kiêu ngạo về đạo đức ;
Oang oang chín giới sâu xa ngoài miệng,
Với lòng chỉ để tâm vào bạc và vàng.

Ghen ghét với người trên, tranh đua với người ngang cấp,
Những tiệc thết đãi chỉ vì lợi,
Từ thiện được làm chỉ vì danh,
Những màn phô diễn lớn được bày ra với ưa thích,
Và những nhu yếu được cung cấp để lấy lợi trở lại –
Những sự việc ấy tiếp tục
Giữa những người theo Pháp kiêu căng và tự phụ.

Những người khác mặc y vàng –
Ngắn trong đức tin và dài trong hiềm ghét,
Với ít nhẫn nhục và nhiều tham muốn –
Phóng dật theo chuyện vật chất suốt ngày,
Bị ám ảnh bởi thức ăn từ bình minh đến hoàng hôn,
Và chìm vào sự hôn mê của giấc ngủ ban đêm.

Bề ngoài họ mặc y vàng,
Nhưng trong nhà đầy tài sản kiếm được từ ý xấu,
Bản ngã họ không hề hấn gì với cối xay bằng đá của Pháp.

Không thấu hiểu thật tánh của tâm thức họ,
Họ tuôn những lời nói về tánh Không khỏi miệng
Và tuyên thuyết giữa những người say
Nhửng bí mật của Pháp Mật thừa sâu xa.

Trước hàng những học giả
Họ ngồi như những con bồ câu câm,
Nhưng khi giảng dạy Pháp sâu xa
Họ tránh chủ đề với sự khéo léo.

Tất cả cuộc đời họ phung phí trong những chuyện trò vô nghĩa.
Khi họ thấy một người đàn bà, họ có nụ cười mời mọc,
Và không bằng lòng với những bạn đồng tu,
Đi lòng vòng những nơi đàn bà hay lui tới.

Tâm thức đặc cứng như một cây khô,
Nhân cách khó quản trị còn hơn một cánh đồng đầy cỏ,
Họ có niềm tin còn nhỏ hơn hột mè
Và quan tâm tùy tiện trôi bập bềnh trên dòng sông Tsang.

Nếu có thực phẩm họ sẽ luẩn quẩn một bên,
Nhưng xin lỗi vì bỏ rơi những bổn phận tôn giáo.
Ở trước mặt người nào họ ca tụng và tán dương,
Nhưng sau lưng quay nhanh đi để nhục mạ.

Những đạo hữu phá hỏng thệ nguyện như vậy
Là một nguyên nhân để tái sanh vào những địa ngục kim cương.
Tôi là một thiền giả lang thang không mục đích
Tâm thức đùa giỡn trong xứ sở của an vui.

Lời khuyên của anh phát từ mối quan tâm khó kham nhẫn
Là ý định tốt và tuyệt diệu.
Nhưng thuở ban đầu tôi đến đây không quần áo và trần truồng
Từ trong bụng mẹ tôi,
Và khi những năng lực của cuộc đời này đã tiêu xài hết,
Tâm thức không có thân của tôi sẽ ra đi trần truồng.
Thế nên tôi để mọi sự như tự chúng.
Tôi không muốn đồ cúng dường của anh.

Người đàn ông trẻ lại nói, “Rất đúng. Tôi muốn hỏi thêm nữa, nhưng tôi sẽ để lại sau. Khi đúc kết những giáo lý của các thừa, vị lama này đã dạy Pháp xâu sa có lợi ích cho đời sau, và đặc biệt lời khuyên tốt đẹp cho đời hiện tại này. Với trí óc tôi – về những nhà lãnh đạo trong đời hiện tại – vị trưởng trung tâm này có vẻ hoàn toàn có lý. Ngài có thể giải thích một số lầm lẫn nào có thể có của vị ấy chăng ?”

Thế rồi Mila lại hát :

Con cầu nguyện đến chân lama cha con.

Hãy đối xử với lòng tôn trọng cộng đồng các hành giả,
Những người mong muốn hạnh phúc cho tất cả
Qua nền tảng của tâm Bồ đề,
Vì họ là tiêu chuẩn cho sự làm thẳng lại điều cong vạy
Trong sự điều hòa những luật lệ xã hội bằng chánh pháp.

Hãy che chở những người tuyệt vọng bằng bi và từ ;
Là một người lãnh đạo của cái đáng tôn trọng và tốt đẹp,
Và là một người sửa sai của cái thấp kém và xấu xa.

Bây giờ trong thời của thời đại suy đồi
Một hệ thống xã hội lành mạnh thực sự như thế
Được điều chỉnh tốt bằng chánh pháp
Là rất, rất đỗi hiếm hoi
Bởi vì sự nghèo nàn tập thể của phước đức con người.

Thời buổi này những nhà cai trị và thầy dạy của Tây Tạng
Đã phá gãy khuôn thước bằng vàng của luật lệ xã hội.
Không được lãnh đạo, không luật lệ và chia manh mún,
Xứ sở đầy kẻ trộm cướp
Họ sống cuộc đời trong những theo đuổi xấu xa,
Tấn công và giết hại chỉ vì một bữa ăn.

Những người chủ trương những đường lối của con người chính trực

Thì yếu ớt như sao lúc gần sáng,
Trong khi những thủ lãnh của đám phá hoại xấu xa
Thì mọc cao như thân cỏ dại,
Và những người bần cùng và kẻ ăn xin thèm khát
Đầy đặc như lá mọc đầu xuân.

Những tâm hồn rộng rãi, đầy ơn ích
Và người hành động với mười điều thiện
Thì hiếm hoi như sao ban ngày,
Trong khi những thái độ phá hại cho chính mình và những người khác
Và người hành động theo nghiệp xấu ác
Mọc đầy như hạt giống tốt.

Trong một thời đại như thế này,
Chớ có quan tâm hay bị hấp dẫn
Bởi những người đang hành động như là người cai trị hay thầy dạy của người ta.

Ngay cả những nhà lãnh đạo của thời hoàng kim
Mang chịu những tội lỗi đáng thương của tất cả
Cũng phải tái sanh vào các cõi thấp.
Bởi thế, những thí chủ có lòng tin,
Chớ phân biệt đối xử đối với cái thấp kém.

“Rất đúng”, anh ta lại đồng ý. “Những thầy dạy Mật thừa này nói họ có những phẩm tính lớn lao để đạt tới Phật quả trong chỉ một đời, hay trong lúc chết hoặc trung ấm, hay sau bảy hay mười sáu đời là tối đa. Họ cũng nói rằng những lạc thú giác quan của cuộc đời này là chính bản thân con đường – rằng hoàn toàn đúng đắn khi gom góp của cải, có những người tình, sanh con cái và buông lỏng cho thức ăn và rượu. Có thật vậy không ? Nếu làm thế là hoàn toàn đúng, thì tôi sẽ làm. Việc ấy thế nào ?”

Mila lại trả lời bằng bài ca :

Con lạy dưới chân lama của con.

Này con và thí chủ, hãy nghe và vui sướng :
Nói chung, anh muốn lìa bỏ sanh tử
Anh cũng phải từ bỏ tám mối quan tâm của thế gian.

Nếu anh muốn đạt được sự tự do của niết bàn,
Anh phải kiên trì giới đức nền tảng của ba cam kết,
Hãy thực hành con đường sáu ba la mật,
Cẩn trọng tuân thủ luật nhân quả của hành động,
Và khai triển sự thanh tịnh của tri kiến.

Bấy giờ anh có thể chứng nghiệm những hình tướng là thân thể bổn tôn,
Thấu hiểu mọi âm thanh là thần chú,
Rõ biết tất cả tư tưởng là pháp thân,
Làm sáng tỏ những bổn tôn của giai đoạn phát sanh,
Ổn cố yoga của giai đoạn thành tựu,
Làm cho những dòng khí và kinh mạch phù hợp cho hoạt động,
Và đưa những lạc thú giác quan vào con đường.
Điều này được dạy vì sự lợi lạc của người tu hành.

Không thích hợp ở đây và lúc này
Để đưa cho những lời chỉ dạy sâu xa và bí mật như thế.
Thật ra, nếu khó giữ gìn chỉ những thệ nguyện sơ học,
Thì những cam kết sâu xa của Mật thừa
Là cực kỳ khó khăn để hộ trì.

Những vị thầy mật thừa của thời bây giờ
Là những thiền giả trên danh nghĩa.
Nếu giải thoát được chỉ bằng có một cái tên,
Thì anh, chắc chắn, cũng có thể đạt giải thoát
Bằng cách gọi chính anh là một vị Phật !

Riêng những vị thầy mật thừa này sống như những người thường,
Được anh chấp nhận như vậy,
Hầu hết lưu tâm tới cuộc đời hiện tại này
Do sức mạnh của những phiền não.

Uống bia độc hại vào
Họ đánh trống khua chiêng một cách vô nghĩa,
Và trước mặt những người không thích hợp để nghe
Thốt ra những mật chú
Như thế sự sa đọa chánh thứ bảy(30) rơi trên đầu họ như mưa.

Bởi vì lạc tối thượng của Bồ đề tâm
Trước hết phải được đánh thức trên đỉnh đầu,
Nếu anh bắt đầu bằng cách kích động những phiền não,
Anh chỉ làm ngược với Pháp mật thừa(31)

Nếu ta nói quá nhiều về loại sự việc này
Nó chỉ làm người khác tức giận,
Nên chính giờ đây ta không nói thêm.

Có một cách ngôn thường nghe :
“Không có cách gì hoàn thiện những môn nhào lộn
Mà không hề té lưng anh trên mặt đất.”
Cũng thế, không có sự thực hành khó khăn
Phật tánh không bao giờ đạt được.
Hãy giữ điều này trong tâm, hỡi thí chủ thanh niên.

Anh ta nắm lấy chân của Jetsušn, và cầu xin ngài, “Lama quý báu, ngài là một người vĩ đại mà tâm thức đã không dính dáng đến những sự việc của đời này. Nếu ngài không chăm sóc cho tôi, mọi điều ngài đã nói đến giờ hóa ra vô ích. Nếu tôi không sở đắc Pháp sau khi gặp một thành tựu giả vĩ đại, thì chết còn tốt hơn – không cách gì khác ngoài việc được chết ngay đây !”

Ngài không ngăn cản. Bỏ sự đi vào cuộc sống gia đình, bạn hữu và của cải, anh theo lama của mình, và bằng sự kiên trì trong thực hành, về sau trở thành thành tựu giả có tên là Repa Sangye Gyap.(32)

Bošn là tôn giáo bản địa của Tây Tạng. Cho đến lúc Phật giáo được đem vào, nó căn bản là một thuật bùa chú giản dị nhấn mạnh vào việc chữa bệnh, những khả năng siêu nhiên, những năng lực phá hủy v.v... Khi Phật giáo có được đất đứng, cả hai tôn giáo ganh đua về niềm tin và sự bảo trợ của dân chúng, sự tác động lẫn nhau đưa đến một mở rộng dần dần phạm vi và sự tha hóa những ý niệm Phật giáo bởi những người theo đạo Bošn. Quá trình này tiến hành mạnh mẽ vào thời Mila, như được chỉ ra trong chuyện này, nhưng Mila rõ ràng dứt khoát phác họa tính vững chắc và những ưu điểm của con đường Phật giáo.

16
Đối mặt với một thầy tu đạo Bošn

Một lần nọ, con người vĩ đại Jetsušn Milarepa đi đến núi tuyết Ti Se với năm đệ tử để thiền định. Một đệ tử bị bệnh và không thể tiếp tục, họ thiền định mùa hè trên một trái núi hoang vu trong miền Lowo Thượng.(33) Vài người thấy họ và tò mò : “Người nào mà có thể sống thời gian lâu trên ngọn núi trơ trọi ấy ?” Biết đó là thiền giả Milarepa, họ đến đảnh lễ và cầu pháp. Mila hát cho họ :

Lowo là xứ tối tăm của ma quỷ.
Những thành phố là nhà giam của ma quỷ.
Kính trọng và địa vị là sợi thừng cột trói của ma quỷ.
Tiêu khiển là sự che ám của ma quỷ.

Ở đây, trong núi non vắng vẻ không người,
Tỉnh giác là thiền định nở hoa.
Ở đây sự chú tâm trưởng thành lớn mạnh.
Các bạn nhóm họp ở đây, hãy nghỉ ngơi đi –
Tôi cầu xin cho sự may mắn và sung túc tâm linh của các bạn.

Nói rồi, ngài bắt đầu ra đi. Họ kêu gọi ngài, nhưng ngài không nghe. “Mùa thu hoạch tới rồi. Tất cả các bạn có việc phải làm. Tôi sắp đi tìm lương thực cho mùa đông.” Khi ngài lên đường những thí chủ nam nữ và con cái họ theo ngài đến đỉnh đèo Kora. Họ lễ lạy, đi nhiễu quanh ngài và nồng nhiệt xin ngài ở lại. Cuối cùng họ nói, “Chúng tôi không thể gặp lại ngài, Jetsušn vĩ đại. Xin ban cho chúng tôi sự che chở bây giờ, trong trung ấm và trong những đời sau.”

Những sự kiện này và những bài ca của Mila được ghi lại trong Một Trăm Ngài Bài Ca.(34)

Những đệ tử cũng đi với ngài đến đèo Kora rồi trở lại Lowo để khất thực. Trong khi đó, Jetsušn tiếp tực đến Ti Se với Seben Repa. Trên cao nguyên trung tâm Drosho có nhiều người chăn gia súc tụ hội ở đó và Mila và Seben đến khất thực. Trước một lều lớn có một người có vẻ là thầy tu Bošn đang nhận đồ cúng dường của những người chăn. Họ đến gần và ngồi xuống. Những đồ thừa từ những cúng dường cho vị thầy tu Bošn được gom lại để cho họ.

Mila và Seben ngồi yên suốt buổi phục vụ cho vị thầy tu Bošn, nhưng khi ông sắp nói lời hồi hướng kết thúc, họ đứng dậy bỏ đi. Người tu sĩ hỏi họ, có vẻ giận dữ, “Tại sao các ông không nghe lời hồi hướng của tôi ?”

“Sự hồi hướng của tôi thì khác với của các bạn. Chúng ta sẽ nói riêng phần mình.”

“Tốt lắm, hãy nói cái của các bạn đi.”

“Ông không cần thiết phải nghe sự hồi hướng của tôi.”

“Nào, tốt lắm, ông không cần phải lưu tâm đến một sự hồi hướng nhân danh cái đuôi và ngực của con trâu yak dành cho tôi.”

“Tôi cũng có quyền nói một lời hồi hướng vì miếng da còn lại này từ những cúng dường cho ông đấy.”

Tu sĩ giận dữ, “Tôi không thán phục sự hồi hướng của bạn, nhưng bạn có thể cầu nguyện vì miếng da thừa của bạn – tôi sẵn sàng nghe bạn nói.”

Thế rồi Mila hát :

Lama từ ái muôn đời
Bổn tôn ban cho những thành tựu,
Tam Bảo đáng tôn kính của mọi người,
Vô số hộ pháp nhiều như biển của giáo lý –
Xin luôn luôn giữ gìn con trong tâm.

Do công đức
Của sự cúng dường thức ăn dư
Cho những thiền giả đi khất thực,
Nguyện cho tất cả chúng sanh, mà đầu hết 
Là những thí chủ và con cái các bạn,
Có được hạnh phúc tốt nhất trong đời này.

Nguyện các bạn không có khổ đau vào lúc chết
Có được một thân người hay trời rỗi rảnh và cơ hội may mắn
Trong mọi hoàn cảnh của tái sanh
Và sau khi hưởng thụ cái tốt nhất của mọi cuộc đời
Cuối cùng đạt được toàn giác.

Nguyện tất cả những thiền giả khất thực,
Vô số hồn linh v.v...
Thỏa mãn với sự cúng dường đồ thừa này
Đạt đến cảnh giới thanh tịnh của thực tại.

Trong thực tế, sự cúng dường, hồi hướng và những người cho,
Người yêu cầu hồi hướng, người hồi hướng v.v...
Đều như một giấc mộng, ảo huyễn và tiếng vang,
Như ảo ảnh và những hoa đốm trong không trung.

Vị lama đạo Bošn bấy giờ nói, “Đây là một thí dụ của câu cách ngôn : “Từ đống rác rưởi một con cọp vươn mình lên.” Ông là ai ? Ông từ đâu đến ? Dòng phái của ông là gì ? Ông đã học hỏi ở đâu ? Sự thực hành của ông là gì ?”

Trả lời, Mila hát bài ca này :

Con lễ lạy chân lama của con.
Ngài chuyển hóa đất thành vàng,
Vàng thành viên ngọc như ý,
Và viên ngọc như ý thành nguồn của mọi phẩm tính tốt đẹp.

Bây giờ con sẽ đưa ra vài câu trả lời
Cho những câu hỏi của vị thầy đạo Bošn này :

Quê hương tôi là Tsa Rošn trên đồng bằng Gungthang.
Tôi đến UŠ và Tsang để học.
Vào thời trẻ tôi đã hủy diệt những kẻ thù đáng ghét của tôi
Với tà lực, nguyền rủa và mưa đá.

Sau đó tôi cảm thấy hối hận vô cùng
Và đi gặp Marpa dịch giả.
Nhận được pháp, tôi lấy thực hành làm mối quan tâm duy nhất.
Và khai quang xuyên qua mê lầm đến trạng thái tự nhiên.
Với sự chứng ngộ trạng thái hiện thực sanh ở bên trong,
Giờ đây tôi không còn sợ ngay cả cái chết.

Cái nhìn của tôi là thấy thực tại ;
Tôi trau dồi những khí, kinh mạch và hạt.
Tôi thực hành trong trạng thái của thực tại hiện tiền –
Ba thân tự nhiên là kết quả của tôi.

Lama của tôi là Marpa Lotsawa,
Dòng của ngài truyền từ Tilopa và Naropa
Cho đến bậc chiến thắng Vajradhara.
Tôi theo sự thực hành những Tantra Nói Thầm Vào Tai(35)
Và như thế đạt được sự làm chủ những khí và kinh mạch.

Vị thầy tu đạo Bošn xúc động mạnh, “Tôi kinh ngạc ! Và những người thực hành Pháp các vị nói gì về tôn giáo Bošn, cái swastika (nghĩa là thực tại) tối hậu ?”

Mila tiếp tục :

Hãy nghe, vị thầy Bošn – tôi sẽ làm an ổn những nghi ngờ,
Lồng cũi mê lầm và suy nghĩ sai của ông.

Trước tiên, về nguồn gốc của Pháp
Ngài được gọi là Phật
Ngài đã khai triển trí huệ sáng soi
Qua sự loại trừ mọi huyễn hoặc.

Phật thì không có bắt đầu hay kết thúc –
Phật nguyên sơ(36) thì không có nguyên nhân –
Điều này thường được nói trong kinh điển.
Chúng sanh vô minh từ khởi thủy,
Thu góp hành động (nghiệp) qua vô minh ấy.
Họ có những thân thể tương ứng,
Và như trước, thu góp những hành động khác nhau
Với cái thân mới này.

Hành động (nghiệp) có ba thứ – tốt, xấu và trộn lẫn.
Hành động bị điều động bởi ba độc
Giận ghét dẫn sanh về địa ngục,
Tham muốn dẫn sanh hồn ma không thỏa mãn,
Và mê lầm dẫn sanh thành thú vật.
Hành động trộn lẫn sanh ra những kết quả khác nhau trong ba trạng thái này.

Hành động tốt dẫn đến những trạng thái cao hơn,
Và hành động tốt tối cao
Làm tăng trưởng hai kho công đức và trí huệ
Bố thí, trì giới và nhẫn nhục
Là nguồn của công đức ;
Và định và huệ,
Trong cuộc sống làm người hay làm trời,
Là nguồn của đại trí huệ.

Tuy nhiên định mà không có trí huệ thấm nhuần,
Dầu có tốt đến bao nhiêu,
Chỉ dẫn sanh bốn thiền và bốn xứ
Ở trên đỉnh của hiện hữu sanh tử.(37)
Khi nghiệp quả đã hết tận,
Người ta lại lang thang trong sanh tử luân hồi.

Tinh tấn tham dự vào tất cả các ba la mật kia :(38)
Và trí huệ được hoàn thiện
Bằng cách hòa hợp định và huệ
Qua sự chứng ngộ trạng thái tự nhiên như nó vốn là.

Những kết quả của việc hoàn thành hai kho
Công đức và trí huệ theo lối này
Gồm pháp thân như hư không cho chính mình,
Do bởi trí huệ thanh tịnh,
Báo thân như một mặt trời giữa hư không
Dành cho sự tu hành của những đệ tử đã phát triển,
Và hóa thân như những tia sáng mặt trời
Dành cho những người tu hành kém phát triển,
Cả hai đều từ kho công đức.

Cấu trúc này được gọi là
“Ba thân tự nhiên là quả” ;
Mẩu nhỏ hấp dẫn của giáo lý như thế
Là một phần nhỏ của giáo pháp.

Những người ngu càn rỡ của thời trước
Nói rằng Bošn và Pháp là anh em.
Lý do của điều này
Được những người đạo Bošn ngày xưa giải thích như sau :

“Vào khởi thủy không có đất hay trời.
Nước, lửa, không khí không hiện hữu.
Từ trạng thái trống không nguyên thủy này
Mẹ Bošn “Kho Tàng-Không Gian” nổi giận
Thở nguyên tố không khí từ miệng bà,
Phát ra nguyên tố nước như là nước tiểu,
Và chớp sáng ra lửa từ hơi nóng của tâm mình.

“Bà ép răng và móng tay thành nền đất
Trên đó cái trứng của hiện hữu được tự sinh,
Và từ sự bể vỏ của cái trứng này
Sáu loại chúng sanh, thế giới hình tướng và cả đạo Bošn khởi sanh.”

Họ tuyên bố Pháp khởi sanh sau đạo Bošn !
Vì lý do đó chúng là anh em của nhau
Theo sự càn rỡ của những người ngu ấy.

Vào khởi thủy trời không hiện hữu.
Trời thì tương đương với không gian.
Không gian thì tự nhiên trống rỗng
Và không thể nói là hiện hữu hay không.

Một “bà mẹ-không gian” trong cái trống không ban sơ này
Cũng là điều xằng bậy của những người ngu –
Hãy bịt tai ông với hai bàn tay
Trước tiếng vang của điều càn rỡ đó.

Theo những nguồn tài liệu mới mẻ hơn
Một pháp sư Phật giáo rất thông tuệ
Ở trong xứ Ấn Độ
Đến thăm nhà một cô gái điếm.

Thức dậy trước bình minh, ông mặc y phục,
Nhưng do lầm lẫn ông mặc vào
Cái váy của người đàn bà thay vì của mình.

Trở về tu viện lúc bình minh
Người ta thấy ông mặc một cái váy xanh
Và ông bị đuổi khỏi cộng đồng.

Sau cùng ông tìm đường đến Tây Tạng
Và với cảm nhận khắc nghiệt trong xứ sở lưu đày này
Đã sáng tạo một tôn giáo sai lầm và đặt tên là Bošn.
Vào lúc đó ở miền Thượng Tây Tạng(39)
Một đứa con trai do một người đàn bà sanh ra
Bởi một con rồng đen vĩ đại và thần lực.

Nó có hai tai rất lớn
Và như thế được biết
Với cái tên Đứa Bé-Lừa.

Dù nó là con của một con rồng thần lực,
Mẹ nó theo đạo Bošn,
Thế nên khi cậu bé lớn lên
Cũng được học đạo Bošn,
Và được gọi là người-Lừa Shenrab.(40)

Bấy giờ nghe danh tiếng
Của vị thầy đạo Bošn là Váy Xanh,
Shenrab đi qua bình nguyên bao la miền Bắc để đến với ông.

Dòng đạo Bošn mới này
Chỉ có từ Váy Xanh và Shenrab.
Như thế nếu ông nghĩ : “Nếu cả hai đều dẫn đến cái tối hậu,
Đâu là sự khác biệt giữa Pháp và đạo Bošn ?”
Tôi sẽ trả lời rằng tổ tiên của đạo Bošn
Là người thoái hóa tôn giáo, rồng thần lực và ma quỷ –
Làm sao nó đưa đến cái tối hậu ?

Như thế đạo Bošn có một dòng dõi tổ tông thấp kém,
Và giống như mọi tôn giáo “ngoại đạo”
Khác với Pháp ở nguồn gốc quy y :
Tam Bảo là nơi quy y cho những người Phật tử,
Trong khi Brahma, Isvara và Visnu cho những người ngoại đạo.

Đức Phật toàn hảo là bậc
Có thể giải thoát cho những người khác
Dù ngài đã giải thoát khỏi sanh tử ;
Nhưng những vị trời thế gian như Isvara,
Họ còn bị trói buộc vào sanh tử,
Chỉ có thể ban cho
Những thành tựu thế gian nhất thời –
Làm sao họ có thể ban cho sự tự do của giải thoát ?
Đó là lý do họ được gọi là “ngoại đạo”.

Quả thực những người thực hành đạo Bošn,
Có thể chữa bệnh, xóa bỏ những ngăn chướng,
Và sở đắc những thành tựu bình thường.
Nhiều thành tựu giả đạo Bošn
Cỡi những cái trống bay qua bầu trời,
Đốt những đám lửa lớn trên nước,
Cắt sắt bằng một lông vũ, vân vân.
Nhưng nếu ông nghĩ đấy là những dấu hiệu của sự phát triển,
Tôi sẽ giải thích nó như vầy :

Thiền định về thế giới rỗng không, như huyễn, hình tướng bên ngoài
Sẽ chuyển thành tương ứng –
Ông đã nghe trở thành một con cọp
Bằng cách quán tưởng thân thể ông là một con cọp ?

Thiền định về đất, không khí, lửa và nước
Cũng tạo ra như những kết quả,
Nhưng gốc rễ của ảo tưởng này
Chỉ một vị Phật mới chặt đứt được –
Không ai khác có thể phá hủy ảo tưởng.

Như thế con đường chân thật được du hành
Khi thực hành những lời dạy của một vị Phật không còn mê lầm –
Phật quả không đạt được bằng bất kỳ con đường nào khác.

Nếu người ta bị hạn cuộc vào những thành tựu thế gian,
Làm sao người ta đạt đến cái tối hậu
Bằng Ấn giáo, Bošn, hay những đường lối khác ?
Và nếu bay trên trời là đủ
Thì mọi con chim phải là những vị Phật !

Bởi thế, mọi thứ này
Chỉ là những dấu hiệu của chứng đắc thế gian
Có một bản chất hình tướng bề ngoài, như huyễn
Không thể đưa người ta đến giác ngộ.
Khi mọi sự được thiền định là hoàn toàn trống không
Để có được sự chứng nghiệm về trống không
Và cắt đứt ảo tưởng của tâm thức
Về huyễn ảo có từ vô thủy,
Nó dẫn đến lý thuyết hư vô khiến sa vào các trạng thái thấp
Và không thể ngăn ngừa sự tăng trưởng của thống khổ.
Hơn nữa, ham muốn có những thành tựu là theo vật chất,
Nó cũng cột trói người ta vào sanh tử.

Như thế nếu ông muốn đi vào con đường không sai lầm,
Hai thực tại cần được biết :
Thế giới giả tạo và cái tuyệt đối.

Cái giả tạo cũng có hai :
Cái giả dối và không thực.
Và cái thực nhưng theo điều kiện mà có.

Cái trước, cái giả tạo hư giả –
Như cái phản chiếu trong nước hay trong gương –
Không được xem là thực thậm chí với con trẻ ở đời.
Cái sau, tất cả mọi hiện tượng bề ngoài –
Cho đến khi đạt đến Niết Bàn
Có vẻ là thực –
Như vậy đều là thực một cách bề ngoài giả tạo.

Để chứng ngộ thực tại tuyệt đối,
Hãy dẹp bỏ những ngăn chướng của hành động và của phiền não
Bằng cách thu góp một kho vĩ đại công đức
Nhờ bố thí, trì giới, nhẫn nhục và tinh tấn.
Và hãy dẹp bỏ sự ngăn chướng với toàn giác
Bằng tập trung thấm nhuần trí huệ.

Bấy giờ bằng cách hòa nhập định tĩnh thuần khiết và quán chiếu,
Thực tại tuyệt đối được giáp mặt.
Đó là con đường chứng ngộ của những thiền giả repa.

Sự giải thích chi tiết của Mila về những điểm này qua trung gian ngôn ngữ hùng biện của ngài gợi ra niềm tin vững chắc nơi những người nghe. Khi tiếp xúc với Jetsušn, tu sĩ đạo Bošn từ bỏ tôn giáo của mình và xin được quán đảnh và dạy dỗ. Ông xoay hướng cái nhìn về mục tiêu thực tại và sau khi hoàn thành giai đoạn phát triển được đời biết đến như một thiền giả lão luyện, tuyệt hảo.


Mila và “giấc mộng” gợi ý


17
Cuộc Du hành của Mila do một 
Giấc Mộng Gợi Ý

Sau khi giáo hóa cho người dân Lowo và những người chăn cừu mùa thu năm đó, chúa tể vĩ đại của các thiền giả quyết định đi về hướng đồng bằng Kuthang. Ngài nói với Seben và các repa khác, “Các ông đi đến vùng dưới và khất thực một vòng. Khi mùa đông đến, hãy tiếp tục thực hành ở Động Răng Ngựa Núi Trắng. Ta đi đến đồng bằng Kuthang theo sự gợi ý của một giấc mộng đêm rồi.”

Họ xin ngài, “Xin đem chúng con theo.”

Ngài trả lời, “Nếu tất cả chúng ta đều đi, sẽ không có lương thực cho mùa đông. Các con hãy đến Núi Trắng – sự thực hành của các con sẽ phát triển ở đó.” Và để khuyên bảo họ, ngài hát bài ca này :

Con cầu nguyện dưới chân lama của con.

Seben thành tín, tôn kính và rất sùng mộ,
Tâm cởi mở, định hướng đúng, hòa hợp với tất cả,
Dũng mãnh và chuyên cần trong thực hành –
Dù con là một repa trẻ
Con là một đứa con đáng yêu ta nuôi nấng.

Con là một đứa con quý báu thân thiết với lòng ta,
Một đứa con giàu có, thừa tự những lời dạy của ta,
Một đứa con có thể mang gánh nặng,
Một đứa con may mắn với một chỗ an toàn trên con đường.
Giờ hãy nghe, kẻ thành tín :

Chúng ta sanh ra một mình ;
Chúng ta sẽ chết một mình – tự chúng ta –
Có ai có thần lực để ở lại mãi mãi ?
Bây giờ khi chúng ta có dịp may,
Mỗi chúng ta hãy tự mình thực hành.

Chúng ta sẽ thấy ai có chứng ngộ lớn hơn,
Ai có kiên nhẫn và trí huệ hơn,
Ai là tốt hơn trong thực hành Pháp.
Tất cả các con, những repa trẻ
Hãy thực hành như Seben chỉ dẫn.
Hãy ngồi nghiêm ngặt trên bồ đoàn của mình.

Rồi họ đi xuống đồng bằng Gungthang trong khi Mila hướng về Kuthang. Sau khi ngang qua Thang và Khum,(41) ngài gặp một thí chủ. Mila hỏi ông, “Ông có thể cho thiền giả này thức ăn chăng ?”

Ông trả lời, “Nhà tôi ở dưới miền thấp. Tôi có ở đây vì công việc. Ngài đến từ đâu, hỡi thiền giả ? Ngài trông không giống như những vị hành giả khác. Sao thế ?”

Mila hát bài ca này để trả lời :

Kính lễ các lama thiêng liêng.

Thí chủ hỏi, hãy nghe :
Tôi là Milarepa
Tôi là một hành khất khổ hạnh,
Một thiền giả lão luyện, kẻ tìm đồ bố thí,
Người chấp nhận những gì đến trên con đường của tôi.

Hãy nghe đây, tôi sẽ giải thích tại sao
Những đường lối của tôi khác với những người khác :

Những người khác chăm lo công việc của đời này ;
Tôi quan tâm đến những đời tương lai của tôi.

Những người khác tìm kiếm một người khác phái vừa lòng ;
Tôi chỉ bị quấy rối bởi một người vợ.

Những người khác tìm kiếm chỗ đứng trong đời này ;
Tôi luôn luôn ở một vị trí tầm thường.

Những người khác trang hoàng mình bằng áo quần, đồ trang sức ;
Tôi mặc một áo rách, không có gì đẹp quý.

Những người khác cố gắng làm cho thân họ hấp dẫn ;
Tôi chỉ hành động thoải mái và tự nhiên.

Những người khác tìm kiếm đồ ăn thức uống ngon ;
Tôi tìm thực phẩm của tôi như một con chim.(42)

Ông hiểu điều này không, hỡi người thắc mắc ?

Thí chủ kêu lên, “Ngài là Mila thiền giả ! Tôi không đã nhận biết ngài !” Ông bày tỏ sự tôn kính và xin ban phước, và rồi nói, “Tên tôi là Gureb Darma Gyel. Sao ngài không đến chỗ tôi ?”

Mila không đến đó, mà đi Naphu. Thí chủ cung cấp cho ngài lương thực cho ba tháng, đáp lại Mila dạy Pháp cho ông rất nhiều. Một hôm Mila nói với ông, “Bây giờ, tôi sắp đến một chỗ vắng vẻ”, và không nghe lời năn nỉ của thí chủ, ngài ra đi. Đến một khúc đèo, ngài gặp một người du mục và hỏi, “Theo hướng này có một hang động nào tốt không ?”

Anh ta trả lời, “Qua đèo này, trên sườn phía bắc của núi, có một hang động gọi là Pong Lung.”

Quyết định đến đó, Mila đi qua một hẻm núi và gặp một thiếu nữ đang trông coi dê và cừu. Khi đến gần, cô nói :

Tôi đang thấy loại người nào đây ?
Tôi thấy một nhà khổ hạnh trần truồng.
Tôi thấy một người không biết hổ thẹn.
Tôi thấy một người không bị đói lạnh ảnh hưởng.
Chớ dừng nơi đây – hãy đi đến Núi Xám –
Chắc chắn ông sẽ thành tựu mục đích của mình.

Nói xong cô và cả đàn cừu biến mất như một mống cầu vồng. Mila đến ở lại tại Pháp Đài Kim Cương Núi Xám. Ở đó ngài dùng hết thức ăn để thiền định, mặc áo choàng dùng cho khổ hạnh, và ngồi dưới vòm của hang như một người đội mũ. Năng lực tâm thức và sự sáng tỏ trong trẻo của ngài khai triển mạnh mẽ, và ngài hát bài ca này :

Kính lễ dưới chân của lama cha tôi.

Tôi, thiền giả Milarepa,
Xin dâng bài ca này trong trạng thái tự nhiên,
Nhảy múa và hát ca trong cõi giới đại lạc.
Hãy nghe đây mẹ và chư dakini.

Sự không sợ hãi nóng và lạnh này
Niềm tin bình thường không thể nào sánh.

Khả năng nhất tâm trong cô quạnh này.
Sự tập trung bình thường không thể ngang bằng.

Cái bình thản không có những phóng chiếu thành đối tượng này
Bất cứ cái thấy bình thường nào cũng không thể nào sánh.

Hậu chứng đắc không thể diễn tả này
Thiền định bình thường không thể ngang bằng.

Tỉnh giác thông suốt này
Sự thực hành bình thường không thể nào sánh.

Sự hợp nhất của tánh Không và lòng bi này
Những thành tựu bình thường không thể ngang bằng.

Áo choàng giải thoát khỏi lạnh này
Những áo dài bình thường không thể nào sánh.

Sự tập trung thoát khỏi đói này
Thịt và bia bình thường không thể sánh bì.

Ngụm này nơi suối nguồn của giác ngộ
Thức uống bình thường không thể sánh bì.

Sự thỏa mãn sanh từ bên trong này
Kho tàng bình thường không thể ngang bằng.

Dịch giả Marpa Lotsawa
Những thành tựu giả bình thường không thể ngang bằng.

Cái thấy tự tâm như là khuôn mặt của bổn tôn
Những bổn tôn dành cho cá nhân không thể ngang bằng.

Thân huyễn này thoát khỏi ốm đau
Thì tốt hơn nhiều so với thuốc thang bình thường.

Thiền giả Milarepa này
Những hành giả tham thiền bình thường không thể ngang bằng.

Ông có hạnh phúc không, hỡi thiền giả ?
Hãy nghe thêm nữa, chư dakini :
Trong Động Pháp Đài Kim Cương Núi Xám
Tôi tìm định-như-kim-cương(43)
Tịnh quang vô sanh này của bản thân tâm thức
Thấm nhuần tánh Không và lòng bi
Bây giờ tôi hiểu rằng nó là sanh tử
Đối với người không chứng ngộ, trong khi với người chứng ngộ
Nó chiếu sáng như là pháp thân.

Bây giờ tôi hiểu sự hiển lộ
Của pháp thân linh thánh cho lợi lạc của riêng tôi
Trong thực tại bất sanh bất diệt,
Rạng rỡ, trong trẻo, không chút dấu vết nhiễm ô.

Thúc đẩy bởi tình thương và lòng bi
Cho những ai chưa chứng ngộ
Một trạng thái tự nhiên như vậy,
Tôi hồi hướng mọi hoạt động cho sự lợi lạc của những người khác
Với sự mong muốn mạnh mẽ họ được giải thoát.
Bây giờ tôi đã biểu lộ sắc thân của tôi
Cung cấp lợi lạc cho những người khác theo nhu cầu của họ.

“Chết” chỉ là một định kiến ;
Tôi đã thấu rõ định kiến cũng là pháp thân
Tự do với sanh, tự do với tử.

Kỳ diệu ! Kỳ diệu ! Những sự vật trong sanh tử
Không hiện hữu, mà chỉ xuất hiện ! Kỳ diệu vĩ đại !

Con dâng cúng bài ca này của lòng tôn kính, lama thiêng liêng !
Hãy chia xẻ buổi tiệc tiếng nói này, chúng hội dakini !
 

Ngài lại dấn thân vào thiền định. Một hôm thí chủ Darma Gyel đến mang theo một bao bột và một lườn thịt, nói rằng, “Con chờ ngài đã lâu. Con mang bột và lương thực đến.” Sau khi nhìn quanh, ông nói, “Không có cả một chậu đựng nước mưa ở phía ngoài hang. Hẳn ngài phải có điều bất tiện.”

Mila hát để trả lời :

Đại dịch giả Marpa,
Lama thiêng liêng, quý báu, đầy đủ khả năng,
Con thường trực cầu nguyện ngài –
Che chở cho con với sự chú ý không dao động.

Hãy nghe, thí chủ tín tâm :
Cái gì không tịnh là thanh tịnh –
Tịnh quang này là giác.

Cái gì không ấm là ấm –
Cái áo vải chật hẹp này là ấm.

Cái gì không lạc phúc là lạc phúc –
Thân huyễn này là lạc phúc.

Cái gì không hoan hỷ là hoan hỷ –
Giấc mộng này là hoan hỷ.

Ngài có hạnh phúc không, thiền giả ?
Hang Kim Cương Núi Xám có cao hay không ?

Nếu Núi Xám không cao
Làm sao chim kên kên có thể vút bay trên đó ?

Nếu bờ đá này không lạnh,
Làm sao những dòng suối và sông có thể đông cứng ?

Nếu tôi không được sưởi ấm bởi cái lạc của nội nhiệt tummo,
Làm sao một cái áo vải có thể giữ cho tôi ấm ?

Nếu tôi không ăn thực phẩm của việc định tâm,
Làm sao tôi có thể chịu đựng cơn đói không có lương thực ?

Nếu tôi không uống dòng giác ngộ,
Làm sao tôi có thể chịu khát không có nước ?

Nếu lời dạy của lama không sâu xa,
Làm sao chúng có thể chiến thắng những ma quỷ và những chướng ngại ?

Nếu thiền giả này không chứng ngộ,
Làm sao nó có thể ở trong núi non hiu quạnh ?

Do lòng tốt của lama khéo léo của tôi
Tôi đã làm cho thực hành thành sự quan tâm thiết yếu của tôi.

Làm sao người xem mọi sự như bạn
Lại tìm thấy cái gì khó chịu, bất tiện ?

Xin sẽ gặp ông lại, Darma Gyel.
Vị thí chủ mang lương thực đến vào một dịp khác, nhưng ông thấy bên trong hang hoàn toàn ngập nước. Nhớ lama của mình, ông khóc và ra đi. Người địa phương nói với ông rằng Mila còn sống ở đó nên ông trở lại kiếm. Ông lại thấy bên trong hang toàn là lửa cháy. Cầu nguyện lama của mình, ông bỏ đi. Người ta lại quả quyết ngài còn ở đó, nên ông trở lại và thấy cái hang biến mất. Ông nghĩ ra rằng ông không thể tìm thấy Mila do nghiệp chướng của ông, thế nên ông ở lại đó và cầu nguyện mãnh liệt trong suốt ba ngày. Rồi vào buổi sáng, một hòm màu trắng đựng toàn thánh tích xuất hiện. Ông đảnh lễ hòm đựng thánh tích và đi vòng quanh cầu nguyện. Rồi ba ngày sau vào sáng sớm ông thấy hòm chứa thánh tích biến thành Jetsušn Milarepa. Vui mừng ông đảnh lễ và sờ chân ngài. “Tại sao con không thể tìm thấy ngài quá lâu như vậy ?” Mila hát :

Lama Vajradhara linh thánh của con,
Kính lễ Lotsawa, ngài phát lộ
Tinh túy của đại ấn vô sanh,
Con cầu nguyện – xin ban cho con những phước lành.

Tôi sẽ trả lời câu hỏi của ông,
Thí chủ tín tâm – hãy chăm chú nghe :

Ở Động Pháo Đài Kim Cương Núi Xám
Tôi, Milarepa Tây Tạng,
Đến để thiền định theo sự hướng dẫn của chư dakini.
Nhiều kinh nghiệm và chứng ngộ đã hiện lên
Và bây giờ tôi đã thấy thật tánh của tâm thức tôi,
Nhưng tôi sẽ không phát lộ những bí mật ấy ngay bây giờ.

Thí chủ, khi ông đến trước đây
Lúc ấy tôi đang tập trung
Vào thiền quán về nước(44)
Ông đã thấy cái hang ngập đầy nước.
Sau đó ông thấy sự thiền quán về lửa
Rồi sự thiền quán về không khí,
Và cuối cùng hòm thánh tích màu trắng