THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
 
Mật TôngTây Tạng
 

 
 
.
UỐNG DÒNG SUỐI NÚI
Những Bài Ca của vị Thánh được Mến Yêu của Tây Tạng, Milarepa
Nguyên tác: Drinking the Mountain Stream, Song of Tibet’s Beloved Saint, Milarepa
Translated by Lama Kunga Rinpoche & Brian Cutillo, Wisdom Publications, 1995
Việt dịch: Tha Nhân - Nhà xuất bản Thiện Tri Thức, 2002

10
Bài ca Cây Gậy Sừng

Jetsušn và Seben Repa cùng đến Nyang Thượng trong tỉnh Tsang. Qua một vùng xa lạ, họ đến ven một làng nơi có một số người tụ tập. Mila nói với họ, “Chúng tôi hai thiền giả có lời nguyện chỉ khất thực ở “cửa nhà đầu tiên”. Có người nào nhiều đức tin xin cho tôi một ít thức ăn.”

Một người đàn ông trẻ, khoảng hơn ba mươi, hỏi, “Các thầy từ đâu tới ?”

“Chúng tôi đến Tsang từ Tây Tạng Thượng.”

“Người ta nói rằng một thiền giả tốt thì có thể rút ra những thí dụ từ bất cứ vật hay việc gì. Hãy hát cho chúng tôi một bài ca về những ý nghĩa tượng trưng của cây gậy sừng sơn dương trong tay thầy ; rồi tôi sẽ cúng thức ăn.”

Bấy giờ Jetsušn hát bài ca này :

Con cầu nguyện dưới chân Marpa, người tốt nhất trong loài người,
Ngài đã nuôi nấng con với đại bi không giới hạn
Khi đắm mình trong tịnh quang của Đại Ấn
Trong cung điện Pháp thân trống không và thoát khỏi mọi tạo tác.
Xin hãy ban phước cho tất cả chúng sanh để hướng họ đến chánh pháp !

Hãy nghe điều này, thí chủ hỏi đạo :
Cái sừng này
Mà tôi, thiền giả cầm trong tay –
Nó từ đâu có ?
Nó đến từ vùng đất phương bắc của chư thiên của sự thịnh vượng.
Nguồn gốc nó từ xứ sở chư thiên của thịnh vượng
Tượng trưng sự thịnh vượng của tôi qua tri túc.

Nó mọc trên đầu một con sơn dương.
Nó lớn trên đầu một chúng sanh
Tượng trưng thực tế quy ước.

Cái sừng thì vô tri, không có sự sống.
Sự vô tri và không có người tri giác này
Tượng trưng thực tế tối hậu.

Cắt nó từ đầu con vật
Tượng trưng sự phân ly của thân và tâm ;
Phần gốc đồ sộ của nó
Tượng trưng về sự hiểu biết về cội gốc ẩn khuất của sanh tử,
Và nhiều sống của nó
Tượng trưng những ngọn sóng chìm ngập của khổ đau
Trên đại dương sanh tử luân hồi.

Ba chỗ cong của cái sừng này
Tượng trưng sự đi lạc vào ba cảnh giới thấp
Qua những việc xấu sanh ra từ ba độc ;

Những đoạn thẳng giữa những chỗ cong
Chỉ rằng dù hiện giờ chúng ta đang lang thang trong sanh tử,
Thì mục đích tối hậu sau cùng sẽ được đạt đến.

Cái sừng này trống rỗng bên trong
Tượng trưng sự trống không của sanh tử ;
Màu sậm của nó,
Là tính bất biến của thực tại ;
Và sự bền chắc và cứng rắn của nó,
Là sự chuyên cần không thối chuyển trong Pháp
Của tôi, thiền giả repa Tây Tạng.

Mũi nhọn này ở dưới cái sừng
Chỉ ra rằng tôi, thiền giả repa Tây Tạng,
Bay như một mũi tên bắn đi
Qua không gian của sáu cõi sanh tử.

Mười cái nút của sợi dây thừng ở phần đuôi sừng
Chỉ ra rằng tôi, thiền giả repa Tây Tạng,
Đã đạt đến cung điện của pháp thân
Bằng cách du hành qua mười địa của bồ tát.

Cắm đầu sừng xuống đất
Tượng trưng sự dẫn dắt cho chúng sanh địa ngục ở bên dưới.
Hay đôi khi tôi để nằm trên mặt đất
Để chỉ sự dẫn dắt cho ma quỷ và thú vật lạc lầm.
Đôi khi tôi chỉ nó lên trời
Để tượng trưng sự thuần hóa chư thiên và bán-thiên,
Và đôi khi tôi cầm lấy nó và dạo chơi các miền
Tượng trưng sự thuần hóa và dẫn dắt loài người.
Lỗ hổng trên cán này được khoan xuyên qua gậy
Chỉ rằng tâm tôi xuyên suốt những hình tướng không chướng ngại 
;
Cái bọc cán da hoẵng mềm mại này
Chỉ ra tính cách nhu nhuyễn của tâm thiền giả.
Cái dây cán gậy bền dai không thể đứt này
Chỉ rằng tôi, thiền giả repa Tây Tạng
Không sợ phải rơi vào những cảnh giới thấp.

Bài ca này diễn tả ý nghĩa hiện thực,
Nhưng không chắc những biểu tượng được thấu hiểu ;
Vậy thì bây giờ hãy nhận một bài ca giải thích :

Mang cây gậy sừng này
Tượng trưng sự chiến đấu của tôi với những con chó dữ của sân hận
Khi lang thang các miền không mục đích.

Bài ca ngắn này từ đôi môi tôi
Chỉ rằng tôi kiếm đồ nuôi dưỡng bằng khất thực ;
Và ngôn ngữ tượng trưng của bài ca
Chỉ ra chuyện tầm phào trẻ con của một thiền giả.

Hãy hiểu ý nghĩa của nó, chư thiên và loài người !
Hãy biến nó thành một nguồn cảm hứng cho đức hạnh !
Hãy dùng nó như một nhắc nhở cho niềm tin !

Mọi người tràn ngập xúc động và xin Mila ban phước, họ nói, “Bây giờ chúng tôi đã được gặp mặt đối mặt với Milarepa mà chúng tôi vẫn thường nghe nói.” Họ cúng dường và thỉnh cầu dạy Pháp, nhưng Mila nhịn ăn ở đó trong ba ngày rồi ra đi.
 

Nhân cách năng động và cuộc đời hoạt động của Mila chứng minh sự kiện rằng thành tựu giác ngộ không phải là một loại “cái chết tình cảm” như một số người tưởng tượng. Phật quả không đạt được chỉ bằng đàn áp những xúc cảm ; thật vậy, Mật thừa dùng những yếu tố thường là quấy nhiễu này như chính nhiên liệu của thực hành. Sự hiểu lầm về phương tiện phát triển cá nhân đã xảy ra ở mọi thời, thế nên Mila giải thích sự chứng đắc Phật quả nghĩa là gì. Ngài bác bỏ những ý tưởng cho rằng trẻ con và thú vật thì giác ngộ một cách tự nhiên, rằng những thần lực siêu nhiên là một dấu hiệu của chứng ngộ và sự thực hành những cấp độ nhập định đầy phúc lạc dẫn về hướng giác ngộ. Rồi ngài tóm lược hành trình của con đường đến giác ngộ và kết thúc với một chuỗi dài những chỉ bảo.


11
Trừ sạch ham muốn

Một hôm khi Jetsušn đang ở trong thung lũng Dược Liệu vùng Chu Bar dạy Pháp cho vài đệ tử, Thiền giả Ortošn Gendun đến gần ngài và hỏi, “Lama quý báu, trong những lời giáo huấn của vài geshe (pháp sư), ngài nổi danh như một vị Phật. Họ nói ngài đã hoàn toàn diệt trừ ham muốn. Có thật vậy không ?”

Jetsušn trả lời : “Họ nói vậy đó. Nhưng có nhiều cách để loại trừ ham muốn. Không có ai trong họ chắc chắn đạt được Phật tánh. Ông có thể hiểu ý nghĩa của danh từ “Phật” khi nghe bài ca của lão già này.”

Con lạy dưới chân Marpa vĩ đại,
Lotsawa nói hai thứ tiếng,
Người với cái nhìn thấu suốt ba thời
Đã chứng ngộ thực tại của cái nhiều như là một.

Đặc biệt, người nào đã tẩy sạch và hoàn toàn loại bỏ
Khối chồng chất những định kiến và dấu vết in tiêu cực
Và những che ám của phiền não và hành động
Gây ra bởi sức mạnh của vô minh ;
Người nào đã làm tan sự lầm lạc tối tăm
Che ám sự hiểu biết về thế giới khách quan
Và đạt được những sức mạnh, niềm tin và những tài sản độc nhất(18)
Qua sự thấu suốt của trí huệ về trạng thái bổn nhiên –
Với người đã phát triển
Mọi phẩm tính của toàn giác như vậy
Danh từ “Phật” được đặt tên cho.
Một vị Phật hoàn hảo như thế
Hoàn toàn thoát khỏi mọi ham muốn.

Nói rằng ngay những con rệp trên cây
Và trẻ nhỏ thiếu nhận thức rõ ràng
Là những vị Phật là lời nói của kẻ ngu.
Vì thiếu những ý niệm rạch ròi
Như sở hữu và bạn bè,
Chúng còn bị khổ sở vì những phản ứng
Với nóng và lạnh, đói và khát.
Những liên kết gốc rễ này dần dần phát triển
Thành những ý niệm đã nở trọn của ham muốn.

Người ngoại đạo, hiền triết và tà giáo
Cũng có nhiều sở đắc
Như bay ngang qua bầu trời,
Cái biết thiên nhãn không chướng ngại
Nhiều sự biến hóa huyền thuật
Và thoát khỏi những khao khát những đối tượng của ham muốn.
Nhưng họ xoay tròn trong sanh tử hoài hoài
Vì lỗi lầm trong nguồn gốc quy y sai
Và không có cái thấy
Của trí huệ phân tích và thiện xảo trong phương tiện.

Cũng thế, với những hành giả Phật giáo
Dầu họ đã du hành qua bốn thiền
Và bốn thiền vô sắc giới
Đạt đến đỉnh cao nhất của sanh tử nơi không có ham muốn
Nhưng nếu họ không đầy đủ trí huệ và phương tiện,
Họ cũng sẽ xoay tròn trong sanh tử như trước.

Bởi thế, Phật quả không bao giờ đạt được
Chỉ bằng sự ngưng dứt ham muốn mà không có hợp nhất
Của phương tiện và trí huệ qua sự thiện xảo trong phương tiện.

Vậy điều ấy tiến hành như thế nào ?
Nghiên cứu những con đường của ba loại nhân cách :(19)
Sáu cái siêu việt là bố thí, trì giới vân vân
Bốn phương tiện xã hội và bốn tâm vô lượng,
Ba thừa và ba căn bản của thực hành,
Và sự hòa nhập của đại bi và tánh Không.

Rồi nỗ lực tích tập một kho lớn công đức
Bởi bố thí, trì giới và nhẫn nhục siêu việt.
Xây dựng nên kho trí huệ rốt ráo
Bằng cách thực hành những siêu việt định và huệ.
Nghị lực hỗ trợ cho cả hai
Bằng cách tăng cường nỗ lực của tâm thức.

Dù cho mọi sự là tánh Không hiện tiền,
Thì sự khăng khít chỉ với danh xưng “tánh Không”
Mà không có sự chứng ngộ thực sự
Chỉ dẫn đến sự chối bỏ hành động và kết quả,
Là nguyên nhân lớn của địa ngục và mất hết tự do.
Bởi thế, đối với hành động tốt, xấu và kết quả của chúng,
Phải tránh tội lỗi trong một mức độ nhỏ nhất,
Và trau dồi đức hạnh đến một phạm vi lớn nhất.

Cũng cố gắng trau dồi sự kết hợp không thể phân chia
Của trí huệ và thiền định,
Vì với định tâm thức được an định,
Và với huệ những đi lạc được nhận biết.

Cũng như thế, với tánh Không và đại bi,
Trau dồi sự hòa nhập của trí huệ và phương tiện,
Vì nhờ vào phương tiện cao cả của lòng đại bi này
Lợi lạc của chúng sanh trong vòng sanh tử được thành tựu,
Và nhờ vào cái thấy của trí huệ tánh Không
Pháp thân cho chính mình được thực hiện.
Từ hạt giống cầu nguyện được trồng
Thấm nhuần với phương tiện thiêng liêng của lòng bi
Sắc thân có hai cái được khởi ra từ đó.
Và bởi những hóa hiện không thể nghĩ bàn của sắc thân.
Những hy vọng, mong muốn và nhu cầu của chúng sanh
Được đáp ứng theo những cách phù hợp với lợi lạc của họ,
Như một viên ngọc ban cho mọi ước muốn,
Hay một cây thỏa nguyện, hay một cây thiêng liêng để tôn sùng.

Và toàn giác, thoát khỏi định kiến, ý niệm,
Đáp ứng những hy vọng của mọi người tu hành
Như những tia sáng mặt trời tuôn chảy và không thể nghĩ bàn
Làm tan sương mù của mọi thế giới.

Những cấp bậc của sự tu hành ấy
Chan chứa trong tâm của Marpa,
Vị vua của mọi nhà dịch giả.
Là phạm vi chứng ngộ của Mila.
Ta đã giải thích cho con, Ortošn,
Sự thấu hiểu này của thiền giả khất thực –
Hãy mang nó trong lòng, hỡi con người cao quý.

Cho đến khi nào trạng thái bổn nhiên hiện tiền được giáp mặt
Qua sự kết hợp của Pháp và tâm tinh túy của con,
Chớ chểnh mảng với nhân và quả.

Cho đến khi nào con đã đạt được thiện xảo
Trong mọi kinh, tantra và luận,
Chớ dạy Pháp một cách vu vơ.

Cho đến khi nào thân, ngữ và tâm được hướng tới lợi lạc của người khác
Bằng cách chặt đứt sự dính vướng với tham muốn của riêng con,
Chớ cư xử với mong đòi và mánh lới.

Cho đến khi nào con đã chặt đứt sự dính vướng với tham muốn của riêng con
Và có thể hy sinh cuộc đời để làm lợi lạc cho người khác
Chớ có nói, “Tôi là một bồ tát.”

Cho đến khi nào tham dự vào sự lợi lạc của người khác với bốn phương tiện xã hội
Qua sự khởi đầu của từ bi hỷ xả trong tâm
Chớ có nói, “Tôi làm việc cho lợi ích của người khác.”

Cho đến khi nào lòng con là một với lama của con
Và con cầu nguyện ngài bốn thời trong mỗi ngày,
Chớ có nói, “Tôi có lòng kính ngưỡng.”

Cho đến khi nào chúng sanh và thế giới chiếu sáng như thần linh, không luyến chấp,
Và thân huyễn được tịnh hóa vào tịnh quang,
Chớ có nói, “Tôi là một hành giả của thừa thần chú.”

Cho đến khi nào những dakini tụ lại ở bữa tiệc của con
Và những đồ cúng thiêng liêng biến thành cam lồ
Chớ có nói, “Tôi cử hành lễ tiệc tôn giáo.”

Cho đến khi nào làm chủ được hạt trắng, khí và kinh mạch,
Và những đại có thể bỏ hay giữ,
Chớ có cử hành karmamudra.

Cho đến khi nào sức mạnh của tánh Giác trong sáng khởi hiện
Trong tĩnh lặng rực rỡ, thoát khỏi tư tưởng,
Chớ có nói, “Tôi thiền định về tám cấp bậc định.”

Cho đến khi nào thực tại chân thực được sinh ra trên trán
Qua khảo xét bằng trí huệ phân tích, bổn nguyên,
Chớ có nói, “Chứng ngộ đã mọc lên.”

Con có hiểu nghĩa ta nói không, thiền giả ?

Xúc động bởi niềm tin mạnh mẽ, thiền giả hát :

Eh ma ! Đại thiền giả repa !
Eh ma ! Người bảo vệ chúng sanh trong ba cõi !
Eh ma ! Phật với hình tướng con người !
Con lạy dưới chân ngài, cha Jetsušn vĩ đại.

Mây của tình thương và bi mẫn
Nhóm tụ trong bầu trời vô biên của tâm ngài,
Và với sấm sét vang rền của lời ngài
Một trận mưa giảng Pháp rơi xuống.

Ngài đã gieo hạt giống của những giáo huấn sâu xa
Trong đất cằn khô, không canh tác của tâm con,
Được tưới với những sự phát giác rõ ràng,
Tránh khỏi trận mưa đá của tư tưởng sai lầm,
Và được chăm sóc với sự thiện xảo đúng thời, bi mẫn trong phương tiện.

Dù quả toàn giác chưa chín
Do căn cơ thấp kém của con,
Cũng không có ai hơn được ngài trong phương tiện.

Từ bây giờ đến lúc đạt được giác ngộ
Nguyện con theo cùng ngài, vua của những thiền giả,
Luôn luôn không rời như bóng với hình.

Cùng sống với ngài nguyện con chứng được
Tinh túy của trạng thái bổn nhiên, và đạt giác ngộ vô thượng.
Nguyện rằng bấy giờ con làm việc cho lợi lạc của những người khác
Và do đó giải thoát cho tất cả chúng sanh.


12
Mila thu nhận một nữ đệ tử trẻ 
tại buổi tiệc làng

Một lần nọ Jetsušn Milarepa vĩ đại du hành trong vùng Yard-rog và khất thực. Ngài đi trên con đường làng Bay Nyošn và đến một nhà nơi đó có nhiều người đàn bà vào ra. Ngài ngồi ngay ngoài cửa. Một người đàn ông đến nói với ngài, “Chúng tôi đang uống bia ở bên trong. Thầy có muốn vào với chúng tôi không, thiền giả ?” Mila trả lời, “Tôi vui lòng, nhưng họ không phiền trách chứ ?”

“Họ chẳng nói gì đâu.” Người ấy cột con chó lại, báo ngài biết, và đi vào.

Đám đông nhóm họp cho một buổi tiệc mừng đứa bé trai của một người đàn bà giàu mới sinh. Người đàn ông gọi từ phía trong, “Này thiền giả ngoài cửa, tôi mời thầy vào ! Đến với phần của thầy đây !”

Nhiều người đàn bà có mặt ở đó, nói chuyện líu lo. Vài người bình phẩm đại loại : “Này thiền giả, ông đã từng có vợ chưa ?” “Ai lấy cắp mất áo quần của thầy ?” “Hôm nay chúng tôi tốn tiền cũng xứng – chúng tôi được xem màn biểu diễn da thịt.” “Đây là một thiền giả vô liêm sỉ ! Nếu ông biết mặc quần áo, tôi sẽ cho ông một bộ đồ cũ.”

Họ giễu cợt và chọc ghẹo ngài như vậy, cho đến lúc một cô cháu hai mươi mốt tuổi của chủ nhà cúng dường ngài một cái bánh lúa mạch và một miếng thịt với một ly lớn bia. Cô có cảm tưởng vị thiền giả này là một người rất tốt và nói với ngài, “Đại thiền giả, những hành động thấp kém đè nặng lên những người đàn bà này. Bia đã đến tay họ, và họ đã tích thêm một mớ nghiệp xấu. Sao ngài không hát về những lỗi lầm của những người đàn bà ấy ?”

Mila trả lời, “Tôi không biết gì về chuyện đó.”

Nhưng cô gái kiên trì, “Con có thể nói qua cách ăn mặc ít ỏi của ngài rằng ngài chắc đã thực hành cao trong thiền định. Với thái độ cởi mở, bộc trực ngài chắc đã chứng ngộ tánh Không nền tảng của thế giới huyễn mộng. Với sự chịu đựng và nhẫn nhục với chọc ghẹo này, ngài phải có nhẫn nhục để thực hành Pháp. Với một ánh sáng rạng rỡ như thế chiếu sáng qua màu da xanh như cây sậy của thân thể ngài, không bị sự mất quân bình của bốn đại của ba yếu tố tính khí(20) làm phiền nhiễu, ngài chắc chắn là một hành giả chứng đắc của Pháp khó làm. Với đôi chân trần không bị sỏi đá và gai góc đe dọa và không ngại gió lạnh và tuyết, ngài phải đạt được sự làm chủ khí và kinh mạch. Tâm thức mạnh mẽ của ngài, lưỡi dài, mềm mại của ngài đẹp như một cánh hoa sen, và cổ họng cao rộng của ngài chỉ ra rằng ngài phải hiện thân một kho tàng bài ca kim cương. Hơn nữa, ngài là một người hảo tâm vĩ đại. Tất cả mọi thứ ấy đã chứng tỏ như vậy. Tại sao ngài không hát một bài ?”

Cha người đàn bà trẻ ngắt lời, “Tôi đã hy vọng con gái tôi phải tốt hơn thế ! Con không tự tỏ ra hảo tâm tí nào. Chớ có yêu cầu ngài hát cho chúng ta, những người thô lỗ – hãy để ngài nghỉ.”

Mẹ cô thêm vào, “Tôi chỉ thấy một người xin ăn bình thường, và ông ta có thể nói một cách trần trụi như vậy thôi ! Chỉ có con mới ca ngợi một người như thế. Nếu con quá xúc động như thế, hãy theo ông ta đi !” Nói xong, bà ném một nắm đồ dơ bẩn vào cô.

Những người khác tiếp tục giễu cợt và cười đùa, Jetsušn nghĩ, “Nếu ta không hát, người đàn bà trẻ này sẽ nghĩ ta là một người ngu, và những người khác sẽ lại tạo thêm nghiệp xấu. Và thiền giả nào về sau đến đây khất thực sẽ được đón tiếp rẻ rúng.” Thế rồi thình lình đứng lên, đặt tay phải lên má và cắm đầu cứng của cây gậy dài vào đất với bàn tay trái, ngài hát bài ca này :

Hãy nghe đây, các thí chủ có lòng tin,
Thường khinh người như các vị thần,
Và xúc phạm tôi một cách đặc biệt –
Hãy nghe, các bà trẻ và già :

Tôi sanh từ hạt giống của vị lama – cha độc nhất của tôi,
Thường được nuôi dưỡng bởi người mẹ cái thấy trí huệ.
Tôi ôm ấp bầu sữa của sự tuân thủ nhân quả
Và thường sưởi ấm bởi hơi nóng của những giáo huấn sâu xa.

Tôi ăn đi ăn lại thực phẩm của định tâm
Và uống dòng nước của tâm giác ngộ.
Tôi mặc áo quần sức nóng phúc lạc đẹp đẽ của tummo
Buộc khăn thắt lưng của tỉnh giác chánh niệm.

Tôi mang đôi giày nâng cao cái nhìn vào chân
Cột với quai của trí huệ soi thấu,
Vai khoác tấm da hươu của khiêm nhường,
Và mặc tấm da cừu của nhẫn nhục kiên trì đàng sau.

Tôi buộc cái gương của nội quán sáng tỏ bên hông
Và trang sức thân bằng đồ trang sức đẹp của đạo đức,
Ngồi thư giãn trong định tĩnh vững chắc,
Miệng và thân được kiểm soát bởi lương tâm và hổ thẹn.

Trí huệ tôi chói sáng với chánh niệm,
Mặt được làm tôn lên với nội quán,
Và trí thức gồm cả năm khoa học (ngũ minh).(21)

Phu nhân tịnh quang xinh đẹp của sự kết hợp phương tiện và trí huệ,
Là đủ cho một người vợ để giúp đỡ chúng sanh ;
Pháp thân tự nhiên là đủ cho tôn giáo.

Mọi người có mặt ở đây trong căn nhà đông đúc này,
Nhất là các “bà cao quý” trẻ và già,
Và đặc biệt người đàn bà trẻ liếng thoắng này,
Hãy dừng sự ồn ào và lắng nghe bài ca :

Chẳng lẽ tôi không thể
Trụ vững trước những trò vô nghĩa của các người –
Đó chỉ là tính khí riêng của các người.
Hãy giữ điều này trong tâm, hỡi những người tầm thường :

Bám chấp vào thân thể các người, đống thịt máu này,
Là lẽ tự nhiên.
Thân thể các người bị điều khiển bởi những quy định, xu hướng tâm thức xấu,
Và bị thổi tung bởi những ngọn gió vô thường.
Khi các người bị kích động không thể kiềm chế,
Thì cũng giống như một bãi đất của heo và chồn trong mùa hè.
Chớ canh chừng kẻ lang thang này,
Đầu các người xoay trên vai
Như những con dê nhiễm độc vì cỏ ba lá.
Mắt các người phóng đi khắp chốn, không thể kiểm soát,
Như lé đi khi nhìn vào ánh mặt trời làm đui mắt
Lúc nhìn thấy một người đàn ông đẹp trai.

Miệng các người líu lo những điều vô nghĩa
Như một kẻ lên đồng bị ma ám.
Tâm và thân các người búng nhảy
Như những con cá mắc cạn trên đất liền.
Mọi nẻo đường đầy tiếng ồn ào của các người,
Mọi đường lộ trong xứ đầy sự tới lui của các người.
Các người treo cái giỏ len từ đầu với một cái quai
Và giữ xương sống như một cái giáo.

Khi các người cùng nhau khâu vải vụn, nó là một cái bị để ăn cắp.
Và khi hàng xóm các người than phiền về việc đó, các người tranh cãi –
Nếu có cơ hội các người còn lấy luôn cái quần lót của mẹ mình !
Nếu các người thấy cái gì đẹp, cái mặt như khỉ của các người cười như miệng một cái chuông ;
Còn nếu không thích, mặt các người như một con lạc đà cáu kỉnh
Khi làm công việc nhà
Các người giữ con nhỏ trong lòng như một món nợ chưa trả.

Khi xay ba lon lúa mạch,
Các người ăn hết một lon,
Làm đổ một nửa lon trên đất,
Và kiêu căng với vài nắm còn lại.
Các người nói chuyện với cái miệng tọng đầy thức ăn,
Kẹp ống thổi lửa bằng đùi,
Ngồi ngay trên những bao bột,
Và làm đổ dầu lung tung khắp lò.

Các người ném những cái nhìn dữ tợn vào chồng mình
Và hung dữ như một con cọp đối với mẹ chồng.
Những đứa con dòng dõi của các người ngồi quanh đám lửa,
Và các người thường đánh chúng bằng que khơi than.

Bắp chân các người đáng nên cứng chắc nhưng lại thõng xuống ;
Tóc đáng ra chảy xuống, nhưng chĩa ngược lên,
Sự ăn uống nghèo nàn đã làm hư làn da các người,
Và thiếu quần áo tốt thật là tồi tệ.

Các người làm trò phù thủy ngày đêm để xua đuổi kẻ thù.
Với sự có mặt của một xác chết được sống lại như vậy
Lò sưởi của các người chôn vùi trong một đống tro
Tích góp qua tháng này năm nọ
Từ sậy được đốt như trong thời nạn đói.

Những người đàn bà sa đọa, ích kỷ !
Khi các người chết, các người sẽ đi về xứ quỷ đói !

Nếu ta phê bình, ta sẽ phê bình thế ;
Các người không có chút cảm giác hay thận trọng gì
Với ta, người hành thiền, kim cương tự sanh.

Tuy nhiên hãy nghe nữa, hỡi các bà ;
Tôi sẽ diễn tả một người đàn bà như hoàng hậu để noi theo :
Đôi tay và tư thế bà thư giãn và bình an,
Miệng và thân được kiểm soát tốt đẹp.
Thông minh và khéo léo trong thủ công,
Bà hành động cẩn trọng nhờ tỉnh giác chánh niệm và phê phán.

Bà ưa sạch sẽ, lễ phép kính cẩn và cương quyết,
Thờ phụng Tam Bảo như cái tối cao,
Và giúp đỡ cho những người nghèo thấp kém.

Bà đối xử với gia đình mình như cái gì quý báu,
Kính trọng người già,
Che chở tôi tớ như con cái mình,
Và cư xử với mọi người theo phẩm chất của họ.

Bà làm thế nào để tích tập công đức bố thí
Và giữ những lời nguyện giới cấm(22) vào lúc đúng thời.
Bà thực hành Pháp của cư sĩ với lòng nhiệt thành,
Và khi một thực hành thích hợp, bà đảm nhận nó.

Nguyện tất cả những người thích thú
Hay không thích thú khi tiếp xúc với tôi
Được chia phần trong giác ngộ.

Mọi người vui vẻ đồng tình và đầy cảm hứng về Pháp. Cha của người đàn bà trẻ nói, “Rốt cuộc, con gái tôi thật khôn ngoan ! Ngài quả đúng như nó nói.” Ông đảnh lễ Jetsušn và xin quy y với ngài.

Bấy giờ, người đàn bà trẻ hỏi cô có thể thực hành Pháp được không. Mẹ cô trả lời, “Quả thật nó luôn luôn nói nó muốn thực hành Pháp, nhưng còn có một vấn đề. Nó đã được hứa gả cho một người con trai xứng đáng của một người giàu có vừa mới ngày hôm qua. Chúng ta phải làm cho hợp cách.”

Nhưng cha cô nói, “Đứa con gái của ta thông minh. Nó thích hợp với việc thực hành Pháp. Chớ có ngăn cản nó – những kết quả xấu của việc ngăn chặn sự thực hành Pháp là rất lớn. Nếu con muốn thực hành Pháp, cha sẽ có em gái con để tròn lời hứa nhận. Thế là tốt đẹp rồi. Con hãy làm điều con muốn.”

Lúc ấy nhiều người đàn bà khác thúc dục cô, “Hãy tiến lên đi, hãy thực hành Pháp.”

Cô cầu xin Jetsušn. Thấy cô quyết tâm, ngài ban cho cô lời dạy Pháp và những truyền pháp quán đảnh. Cô thực hành ở Semodo và về sau trở thành một đại thành tựu giả, sau đó giúp đỡ được nhiều người. Jetsušn vĩ đại rất hài lòng.


13
Mila giải thoát cho một bà lão

Bấy giờ Jetsušn vĩ đại trở lại Hang Răng Ngựa Đá Trắng và chỉ dạy những repa trẻ, cầm đầu bởi Seban Repa, về tummo yoga. Ngài bảo họ, “Tất cả các con hãy hiến mình cho sự thực hành.” Rồi ngài đi với Rechung Dorje Drakpa đến cao nguyên Pelmo để khất thực.

Đến Ber Tser trên cao nguyên Pelmo, họ khất thực ở một nơi cắm trại lớn. Một người đàn bà già la lên, “Các thiền giả ! Các người làm hư hại ! Các kẻ giết người ! Các người đang tìm cách dối gạt và cướp bóc ta ư ? Các người nghĩ rằng ta không thể quản lý tài sản, nhà cửa, đàn ngựa và đàn cừu của ta sao ? Những lều này bên phải thuộc về các con trai và các cháu trai ta. Những cái bên trái là lều các con rể ta. Tốt nhất là chớ đi quanh đây !”

Như thế Jetsušn hát cho bà bài ca này :

Con cầu nguyện bậc bảo vệ thiêng liêng của chúng sanh –
Xin giữ gìn con trong sự chú ý không xao động.

Tóc đã ngả trắng, nhưng không nhớ gì về Pháp,
Mặt đầy nếp nhăn, nhưng không để ý gì đến cái chết,
Mắt thụt vào trong thịt, nhưng chiếu tia giận dữ,

Miệng không còn răng, nhưng còn thốt lời nguyền rủa,
Thân thì còng, nhưng cố gắng làm cho hấp dẫn.
Hãy nghe đây, hỡi bà giàu có,
Ích kỷ và đầy ngạo mạn :

Bà đang cỡi con ngựa tham dục mãnh liệt,
Cầm trên tay ngọn thương thù ghét,
Với dải đen của mê mờ cột quanh trên đầu.

Bị cái roi của lòng tham lam ghen tỵ dẫn dắt,
Bà làm cho vùng quê đầy tiếng la kiêu hãnh.
Bà mang sức nặng của sự keo kiệt sau lưng
Và dương cao khối nặng của tội lỗi.
Bà vây quanh mình với mười nghiệp ác
Và quay lưng với Tam Bảo.
Bà đã ném đi mười nghiệp thiện
Và có mối thù địch thường trực với Pháp.

Mang theo sự giàu có những tội lỗi chín muồi này,
Bà sẽ có chỗ nào đó trong cõi thú,
Dừng một lát trong cõi ngạ quỷ,
Và làm nhà trong những cõi địa ngục.

Sự khốn khổ của u mê thú vật thì còn ít ;
Còn tệ hơn là khốn khổ của đói và khát,
Và tệ nhất là sự đớn đau của hành hạ địa ngục.

Ôi người đàn bà luôn luôn tìm kiếm điều lợi,
Khi những khó khăn ấy rơi xuống trên đầu bà,
Chớ có kêu la lớn tiếng !

Trong cơn điên cuồng cùng cực bà rống lên, “Thiền giả, nếu ông có những chỉ trích xấu xa như vậy với người ta, tại sao ông đi khất thực vòng quanh làm gì ?” Và cầm lấy một cây sào bên cạnh lều, bà đánh Jetsušn nhiều cái.

Jetsušn nói, “Hỡi Rechungpa, khi phiền não khởi lên, hãy áp dụng đối trị. Hãy tham thiền nhẫn nhục.” Và ngài hát bài ca này :

Con cầu nguyện đến lama bi mẫn.

Tôi đã phát sanh tâm hướng đến giác ngộ tối thượng ;
Và chứng ngộ rằng tất cả chúng sanh là cha mẹ của tôi,
Tôi đáp lại sự làm hại của họ bằng sự giúp đỡ –
Làm sao tôi bao giờ có thể có một cảm giác giận dữ ?

Người đàn bà già lão vướng mắc trong những hành động xấu,
Nguyện điều hại này bà đã gây cho tôi
Được là một nguồn giúp đỡ cho bà
Trong mọi đời tới của tương lai.

Toàn bộ những quán đảnh tôi đã nhận
Chuyển hóa thế giới hiện tượng bề ngoài thành thân thể bổn tôn,
Khiến tôi nghe tất cả âm thanh là thần chú,
Và soi sáng những hình tướng tư tưởng là pháp thân –
Làm sao có bao giờ tôi nổi giận được với bà ?

Mọi sự vật vốn như hư không.
Bản thân hư không không có tính chất –
Tự bản chất, nó không hiện hữu.
Cũng không phải là không hiện hữu –
Nó siêu việt tư tưởng có-không nhị nguyên.

Tôi, thiền giả như hư không,
Đã thấy bản tánh của hư không.

Nằm xuống bên bờ một khoảng đất cát, ngài ngủ. Khi vừa thức dậy lúc sáng sớm, ngài nghe tiếng khóc. Một lát sau, một người đàn ông đi đến, và sau khi làm lễ, nói rằng, “Lama tôn quý, người đàn bà đã già, mẹ tôi, đã chết tối hôm qua. Xin ngài tới giúp cho làm lễ tang.”

Rechungpa nói, “Đây chắc là sự kết án của những dakini.”

Thế rồi thầy và trò đi đến, và sau khi ban phước cho cái xác, Mila hát :

Đảnh lễ các lama cha của con –
Xin ban phước cho chúng con được chánh niệm về vô thường và cái chết.

Nhìn lại quê hương nơi tôi đã sinh ra,
Chốn vô thường như một đô thị của hồn ma,
Nó xuất hiện như một đô thị, nhưng không có gì cả – như thế tôi buồn rầu ;

Nhưng xem đó, tâm tôi trở nên vui vẻ.
Chớ có xem quê hương là thường còn, hỡi những người phước đức.

Nhìn lại những bạn bè tôi đã có,
Vòng quay vô thường như quán trọ ngoài chợ
Nơi người ta nhóm lại vào ban đêm và bỏ đi buổi sáng,
Họ là một vòng nhóm không tan vỡ, nhưng rồi tan tác – như thế tôi buồn rầu.
Chớ có xem bạn bè là thường còn, hỡi những người phước đức.

Nhìn lại những tài sản tôi đã thu góp
Sự giàu có vô thường như một con ong,
Tôi gom góp, nhưng người khác hưởng – như thế tôi buồn rầu.
Chớ có xem giàu có là thường còn, hỡi những người phước đức.

Nhìn lại thế giới bề ngoài,
Những hình tướng vô thường như một cầu vồng trong bầu trời,
Như một cầu vồng biến mất – như thế tôi buồn rầu.
Chớ có xem những hình tướng là thường còn, hỡi những người phước đức.

Nhìn lại sự tự thức giác của tâm thức tôi,
Ý thức vô thường như một con chim non trên ngọn cây,
Nó không thể giữ yên chỗ đậu – như thế tôi buồn rầu.
Chớ có xem tâm thức là thường còn, hỡi những người phước đức.

Nhìn lại thân thể tôi đã được sinh ra này,
Thân vô thường như đêm vừa qua của người đàn bà già,
Và như người đàn bà già ấy, nó sẽ chết – như thế tôi buồn rầu
Nhưng xem đó, tâm tôi trở nên vui vẻ.
Chớ có xem thân thể là thường còn, hỡi những người phước đức.

Mọi người hiện diện đều cảm xúc và cúng dường sự phục vụ của mình. Họ nói, “Bà lão không ý thức đã lăng mạ một vị Phật đến trước cửa bà. Bà tự đem tới hình phạt này.”

Họ khiêng xác đến bìa của cao nguyên. Jetsušn ngồi nhập định và đưa tâm thức bà trở lại thân thể.

Rồi ngài dạy họ về cái chết với bài ca này :

Kính lễ thân kim cương –
Tâm thức đã thanh tịnh trong trạng thái của trí huệ,
Hoàn thiện trong tịnh quang của thực tại
Lưu xuất các thân để đem lại sự giúp đỡ không thiên vị cho chúng sanh.

Với móc sắt của tập trung sâu xa
Tôi kéo cái thức đã mất thân
Của người đàn bà già này
Trở lại khỏi lang thang trong trung ấm.

Với đại ấn trí huệ siêu việt của mahamudra
Bây giờ tôi đã đóng dấu nó vào trong thân thể bà,
Và bằng trì tụng những thần chú sâu xa
Tẩy sạch những che ám và tập khí thiên về ác hạnh của nó.

Hãy để việc này là một cảm hứng cho các bạn ;
Hãy tin nghe bài ca của ta :

Sự thay đổi của cuộc đời gọi là cái chết :
Da dẻ biến đổi ; mặt trở thành xanh ;
Mũi khô và ọp ẹp ; răng phủ vàng xỉn.
Mắt lồi lên từ ổ mắt
Nhìn chằm chằm đáng sợ vào mặt những người khác.

Khi sự chấm dứt đến gần, hơi thở trở nên
Hổn hển khò khè trong cổ họng.
Người ta biết tất cả rồi sẽ bị bỏ lại –
Tài sản cất giữ và những người bạn mến thương.

Dầu không muốn, đã đến thời để ra đi.
Không có gì sẽ đi theo
Trừ đức hạnh và tội lỗi.
Thiêu hủy bởi buồn rầu như thế
Những hấp hối của cái chết được cảm nghiệm.

Trong đời này nó được kinh nghiệm chỉ một lần,
Nhưng cái kinh nghiệm đời có một lần này
Không là sự chấm dứt một lần cho tất cả.
Trong những đời sau sẽ lại như thế,
Như vòng quay của một bánh xe quay nước.

Để phá vỡ chu kỳ này,
Hãy đạt đến trạng thái pháp thân.
Như thế an định vào thực tại tự nhiên
Những khốn khó của vô minh
Được chấm dứt, mê mờ không còn.

Họ đứng đó, mắt mở lớn khi một cái cầu vồng chiếu sáng từ thân người đàn bà. Jetsušn lại hát :
Con cầu nguyện đến những lama cha của con.

Người đàn bà già cả ích kỷ này
Lang thang trong trung ấm dẫn đến tái sanh
Được chuyển hóa thành thân thể cầu vồng của bổn tôn
Bằng giai đoạn phát sanh của thừa mật chú sâu xa
Qua những cố gắng của chính Milarepa.

Thức bị tội lỗi đè nặng của bà được kéo lên
Bằng móc sắt của tập trung với ấn,
Vết bẩn che chướng của tội lỗi tức thời được tẩy sạch
Bằng dòng chảy của trì tụng thần chú.

Bà được đặt mặt đối mặt với trạng thái hiện thực
Bằng tinh túy của con đường phương tiện sâu xa của tâm,(23)
Và chuyên chở đến cung điện pháp thân
Trên con ngựa của Đại Ấn.

Nguyện tôi cung cấp sự giúp đỡ tự phát cho chúng sanh
Đến khi nào sanh tử chấm dứt.

Mọi người có mặt ở đó đều tràn ngập cảm xúc và thỉnh cầu Pháp, quán đảnh và những ban phước. Họ cúng dường nhiều thứ, nhưng Mila từ chối, hát rằng :

Trong sở hữu sung túc tiện nghi
Tôi thấy những tài sản thế gian có nhiều rắc rối.
Tôi không muốn chúng – hãy giữ chúng cho các bạn.
Tuy nhiên, qua công đức hồi hướng chúng cho tôi
Những che chướng phiền não và sở tri
Sẽ được thải ra khỏi tâm thức các bạn.

Và sau khi các bạn đi vào trung đạo
Hướng đến giải thoát khỏi sự tạo tác của bốn biên kiến(24)
Qua sự hoàn thành kho công đức và trí huệ,
Nguyện cho các người đạt đến trí toàn giác.

Trong trạng thái của thực tại, mọi sự –
Đức hạnh và tội lỗi – đều như huyễn.
Trong tịnh quang tự giác của pháp thân
Mọi sự đều tan biến hoàn toàn vào bất nhị.

Jetsušn ở lại đó vài ngày, và tất cả mọi người đều mãn nguyện bởi mối liên hệ trong Pháp với ngài.
 
 

Nhóm có tiêu đề “Sáu Bài Ca Kim Cương” ghi chép những sự kiện của một hành trình dài ngày của Milarepa và Rechungpa. Nó cung cấp thêm những kiểu mẫu gặp gỡ và đối xử của Mila với dân chúng Tây Tạng. Nó tạo thành một sưu tập nhỏ, độc lập trong Những Câu Chuyện và Bài Ca từ Truyền Thống Khẩu Truyền của Jetsušn Milarepa, với câu nói trong lời mở đầu của vị thí chủ đã chép và in :

Dù “Sáu Bài Ca Kim Cương” là rất thiêng liêng và bí mật, Lhe Tsušnpa Rinchen Namgyel đã vừa cho in chúng chỉ với ý định giúp đỡ những người khác. Mong chư vị lama và chư dakini tha thứ cho tôi.


14
Từ “Sáu Bài Ca Kim Cương”

Một lần nọ, Jetsušn và Rechungpa đi cùng với nhau một cuộc du hành lâu dài. Tới phía bắc của dòng sông Tsangpo, họ đến một nơi gọi là So. Ở đó có nhiều người chăn gia súc ; thế nên các ngài đi khất thực. Một người đàn ông nói với họ, “Khất thực mỗi ngày là một vấn đề khó khăn. Tôi sẽ cho các vị một cái bao để các vị có thể cất thức ăn từ những người ở đây. Các vị còn không có áo quần thích hợp để ở lại đây dù ít lâu.”

Như thế Jetsušn hát cho ông ta bài ca này :

Bậc cứu độ quý giá, vô thượng của chúng sanh
Xin hãy đến ngự trên đỉnh đầu của chúng tôi,
Và hướng dẫn chúng tôi với sự chú tâm không lay động
Xin hãy để những ân phước cho thành tựu rơi xuống như mưa.

Này các thí chủ đầy đủ đức tin,
Do món quà cái bao để mang của các bạn
Và lời khuyên chu đáo
Mong rằng những kho của các bạn được hoàn thành
Và những che chướng được xóa sạch.

Chỉ có một hơi thở mong manh
Trên biên giới của đời này và đời tới.
Không biết tôi có còn ở đây đến sáng mai hay không,
Vậy tại sao cố gắng đánh lừa cái chết
Bằng những chương trình của cuộc đời cho một tương lai trường tồn ?
Tôi ăn thứ gì tôi có được ;
Dùng sự nuôi dưỡng như những nhà khổ hạnh vẫn dùng.
Tôi đã làm thế suốt cuộc đời làm người của mình,
Và bây giờ sẽ tiếp tục cách bình thường của tôi.
Tôi không muốn cái bao của những thí chủ.

Xúc động bởi niềm tin mạnh mẽ, người chăn đàn gia súc đảnh lễ, nói, “Tôi không có áo bông lành lặn. Xin hãy chấp nhận cái áo nỉ này.”

Để trả lời Mila hát một bài khác :

Bị dẫn dắt bởi phiền não và hành động do mê lầm gây nên,
Tâm thức trần truồng, không bản chất này
Lang thang trong thành phố của sáu cõi huyễn mộng
Và ngủ trên những đại lộ của sanh, chết và trung ấm.

Nó bị dẫn dắt bởi những cơn sóng của tham dục ám ảnh,
Đốt cháy bởi những ngọn lửa của thù hận bừng bừng,
Và bọc kín trong đám mây tối tăm của vô minh.

Lung lay trên vực thẳm từ chót đỉnh của lòng kiêu mạn,
Bị quất giật bởi ngọn gió lạnh buốt của ghen ghét,
Nó chìm trong bãi lầy của thèm thuồng sanh tử.

Leo nơi vách đá của trung ấm và giấc mộng,
Nó rơi vào vực thẳm của phiền muộn và bản năng,
Bị cuốn trôi bởi dòng hành động xấu xa, mê tối.

Cháy bừng với những ý niệm mê vọng về cái bên ngoài giả dối,
Nó chỉ nghỉ ngơi trong bóng tối của vô thức.
Chiến đấu qua trung ấm vực thẳm đến sự tái sanh
Nó bị thổi tung bởi những ngọn gió nghiệp mạnh mẽ đi khắp mười phương.

Bốn đại trong thân của nó trở lại chống chính nó ;
Địa đại bão hòa với nước,
Không đại hoàn toàn cháy tiêu trong lửa.
Bóng tối thăm thẳm của nghiệp phủ xuống
Khi nó chìm vào bãi lầy của những cảm thọ dữ dội, sợ khiếp.

Nhưng từ một lama có năng lực để ban phước
Hãy cầu xin những giáo huấn sâu xa cho con đường
Nó dẫn dắt đến nơi giải thoát
Khỏi những biến cố đáng sợ do những hành động như thế mang lại.

Hãy phát giác trạng thái chân thực của sanh, chết và trung ấm !
Hãy xé rách toang cái bao những lừa dối của trung ấm và giấc mộng !
Hãy phá bung bày lộ bản tánh chân thật của trung ấm tái sanh !
Hãy dẹp tắt mọi huyễn hoặc bên trong !
Hãy nhìn thấy tinh túy thực sự của tâm.

Hãy để sự chứng ngộ trạng thái tự nhiên được chiếu sáng.
Vứt đi sự luyến bám của chấp ngã.
Hãy giải thoát sự chấp trụ gắn vào sự vật.

Với hơi nóng phúc lạc của tummo cháy trong thân tôi
Cái áo vải đơn giản này là đã đủ.
Tôi ăn thức ăn làm sẵn của định,
Rút vào tinh túy của tầm ma và đá.(25)
Giải cơn khát của tôi ở dòng giác ngộ.
Ngay cả nếm một ít nước tiểu và phân của chính tôi.(26)

Tôi nương tựa sự sung túc thường trực của sự bằng lòng,
Và buồn bã cho những người bạn trong sáu cõi sanh tử.
Đôi khi tôi đi khất thực không chọn lựa chỗ nào,
Luôn luôn lang thang ở nơi hoang vu không mục đích.

Mùa đông tôi ngủ trong những chốn ẩn cư núi non,
Áo vải bông cháy như đám lửa
Mùa hè tôi ngủ trong những thung lũng nóng và khô,
Áo vải bông mát lạnh như ngọn gió.

Vào xuân tôi ở trên những hẻm núi,
Áo vải bông như len.
Vào thu tôi ra ngoài khất thực,
Áo vải bông nhẹ như một lông chim.
Bạn thật sự hạnh phúc, phải thế không, thiền giả ?
Có ai khác hạnh phúc như tôi ?

Với bài ca này ngài từ chối áo nỉ. Mọi người đều cảm xúc mạnh mẽ và cầu xin đi vào giáo pháp với ngài. Vị thí chủ đặc biệt ấy bỏ tất cả công việc của mình và theo Jetsušn, cuối cùng trở thành một thiền giả với một vị trí vững chắc trên đường đạo.

Sau khi vượt sông Tsangpo, họ du hành về phía Nam, xuống những cánh đồng và trang trại xứ Mar. Ở một góc làng, một đám đông đang tụ hội và Jetsušn kêu lên, “Người nào có lòng tin – hãy cho hai thiền giả chúng tôi thực phẩm ngày hôm nay !”

Một người trẻ trả lời, “Tôi đã thấy những người ăn mày, nhưng không ai tồi tàn bằng hai người ! Các ông không có áo để che thân hay một cái bao đựng thức ăn hay ngay cả một thái độ khiêm tốn. Các ông khỏi phải xin tôi – các ông đã cho tôi một màn trình diễn chính cống !”

Một người đàn bà trẻ sửa soạn bột lúa mạch và đưa cho cùng với bơ và một chén ya-ua, nói rằng, “Bây giờ các vị có thể thu nhận đồ ăn từ những người khác nữa.”

Jetsušn trả lời, “Đủ cho hôm nay rồi. Chúng tôi giữ lời nguyện chỉ khất thực ở “cửa nhà đầu tiên”. Dù nếu chúng tôi khất thực ở những người khác, chúng tôi cũng không có đồ đựng hay bao bị để mang chúng.”

Người trẻ tuổi lại nói, “Các ông không có bài ca, khúc hát, không trống, không ban phước, không cầu nguyện, không cảm kích, không cám ơn, không áo quần và không biết hổ thẹn.”

Người đàn ông khác thêm vào, “Nếu các ông có bài ca nào, hãy hát đi.”

Thế nên Jetsušn hát bài ca này :

Lama quý báu, người hướng dẫn con đường chân chánh,
Con cầu nguyện ngài – cho con ân phước.

Giờ hãy nghe, người đàn ông trẻ hùng biện :
Bằng lòng tốt của lama-cha độc nhất của tôi
Tôi được nuôi nấng với phương tiện và tình thương thuộc cha,
Dưỡng dục nơi vú trí huệ tánh Không thuộc mẹ,
Và sống bằng thực phẩm của sự hợp nhất sâu xa.

Giờ tôi đã hoàn thiện kinh nghiệm và thiện xảo.
Sự chuyển hóa do quán tưởng thành cái thiêng liêng,
Với tỉnh giác đầy thần lực về trạng thái tự nhiên,
Sức mạnh bên trong của cái thấy, thiền định và thực hành,
Và hơi nóng phúc lạc của AH của tummo ngời sáng trong thân.

Cỡi con ngựa huyễn của tâm và khí.
Tôi phóng xa khỏi tầm với của Thần Chết.
Và đi qua thành phố của giải thoát đầy phúc lạc.
Nhờ công đức của tặng vật của người đàn bà này
Nguyện cho tất cả chúng sanh, dẫn đầu là bà,
Có cuộc đời mạnh khỏe, dài lâu và hạnh phúc –
Và cuối cùng đạt đến Phật tánh hoàn hảo.
Hỡi người đàn ông trẻ, vào thời điểm chết của ông,
Mong ông được vào tịnh quang của pháp thân
Với tâm thức và trí nhớ không bị che ám,
Trải nghiệm những giai đoạn của cái chết đến khi tịnh quang mọc lên.

Mọi người kính lễ và bao quanh ngài. Người đàn ông trẻ tạ lỗi, và trong sự tin tưởng lớn lao người đàn bà trẻ thỉnh cầu chỉ dạy, cởi một viên ngọc bích từ cổ làm vật cúng dường. Jetsušn, từ chối bằng bài ca :

Con cầu nguyện những lama của con –
Xin các ngài ban phước cho những người tín mộ này.

Viên ngọc quý này của tịnh quang
Của nhất thiết trí thanh tịnh bổn nhiên
Được giữ chặt trong cái móc gài của đại bi và tánh Không,
Được đánh bóng bởi sự sáng tỏ của nội quán,
Và xâu trên xâu chuỗi của trạng thái tự nhiên.

Đây là hòn đá nơi sanh ra của tôi, người hành thiền.
Tôi không muốn vật quý giá của bà ;
Nhưng do công đức cúng dường nó cho tôi
Với lòng tin và sùng mộ,
Nguyện bà hoàn thành hai kho công đức và trí huệ.
Và may mắn có được sắc thân tuyệt hảo
Trang hoàng với tất cả tướng tốt.

Mong bà có may mắn được cuộc đời sống lâu sung túc.
Mong bà có may mắn được hạnh phúc bây giờ
Mong bà có may mắn được niết bàn vào lúc cuối
Mong bà có may mắn được pháp thân cho chính bà,
Và sắc thân vì lợi lạc của những người khác.

Được dân chúng mời, họ ở lại vài ngày để dạy đạo, sau đó họ đi du hành một ngày qua Tra Rum. Họ ở trong một căn nhà bỏ hoang đêm ấy và bỏ đi sáng sớm hôm sau. Trên đường họ gặp một người đàn bà xách nước. Mila cầm gấu áo bà và nói, “Nào, cho những thiền giả chúng tôi chút đồ ăn sáng !”

“Các thiền giả tham ăn !”, bà trả lời, giật gấu áo lại, “Các vị đến từ đâu, mà chộp lấy tôi và hỏi tôi có gì cung cấp cho cái bụng của các vị ? Các vị cần để ý đến cái bao tử của tôi ! Tôi chắc chắn các vị có một chỗ cho riêng các vị – hãy đi canh tác nó mà ăn. Các vị cũng có một thân thể như tôi vậy.”

Như thế Mila hát cho bà bài ca này về sự phân biệt cái tương tự :

Tâm đích thực, trong sáng và trống không,
Giống như hư không –
Nhưng sự so sánh tâm với hư không sẽ không vững,
Vì tâm thì biết, dù trống không,
Trong khi hư không thì trống không, không có thức giác.
Chúng tương tự trong sự trống không của chúng,
Nhưng thực tế rất khác nhau.

Tâm đích thực, trong sáng và trống không,
Giống như mặt trời và mặt trăng –
Nhưng sự so sánh tâm với mặt trời và mặt trăng sẽ không vững,
Vì tâm thì trong sáng và không chất thể ;
Trong khi mặt trời và mặt trăng thì trong sáng nhưng cứng đặc.
Chúng tương tự trong sự trong sáng của chúng,
Nhưng thực tế rất khác nhau.

Tâm hiện thực này, trong sáng và trống không,
Giống như trái núi trụ vững ở đây –
Nhưng sự so sánh tâm với trái núi sẽ không vững,
Vì tâm thì không hợp tạo
Trong khi trái núi kia tạo thành bởi các nguyên tử.
Chúng tương tự trong sự không biến động của chúng,
Nhưng thực tế rất khác nhau.

Tâm hiện thực này, trong sáng và trống không,
Giống như dòng sông chảy xuống ở đây –
Nhưng sự so sánh tâm với dòng sông sẽ không vững,
Vì tâm thì không hợp tạo
Trong khi dòng sông kia là sự tụ hội của nhiều dòng suối.
Chúng tương tự trong sự trôi chảy thường trực của chúng
Nhưng thực tế rất khác nhau.

Tâm hiện thực này, trong sáng và trống không,
Giống như nhau giữa tôi và bà –
Nhưng sự so sánh giữa tôi với bà sẽ không vững.
Bà đắm mình trong những công việc thế gian :
Phóng dật với lao nhọc buồn chán suốt ngày,</