2
Bài ca cho
các thí chủ nghèo
Một
lần, khi Jetsušn ở tại Núi Khối Đỏ, một thí chủ tên
là Vận May đến gặp ngài. Sau khi lễ chào Mila, ông nói :
“Hỡi Cha, Jetsušn quý báu, ngài đã sống trong những chốn
ẩn cư núi non hoang vắng mà không hối tiếc gì. Giờ đây,
khi đêm ngày dấn thân vào sự triển khai sức mạnh tâm linh
sâu xa để đem lại thịnh vượng và hạnh phúc cho chúng sanh,
xin ngài hãy ngó đến chúng tôi, những người dân Thung Lũng
Dam, với lòng đại bi. Chúng tôi nghèo nàn niềm tin và không
có cơ hội thực hành. Chúng tôi đã hoàn toàn đi vào trong
những công việc của cuộc đời này. Chúng tôi nghèo túng
đến nỗi không đủ bột để làm lễ dâng cúng torma. Xin
ngài hãy hướng sức mạnh tâm linh sâu xa nhắm vào chúng tôi,
và dù chúng tôi không có cách nào cúng dường thích hợp,
xin hãy nói cho chúng tôi một thời Pháp để gieo hạt giống
giải thoát qua cái thấy bi mẫn của ngài.”
Jetsušn
bèn dạy họ Pháp về tương quan nhân quả của hành động
và sau đó hát bài ca này :
Con
cầu nguyện dịch giả nổi danh
Tên
là Marpa Lotsawa
Con
người tuyệt vời họ Lhodrag
Với
năng lực quý báu nói hai thứ tiếng.
Tôi,
Milarepa, được nuôi dưỡng tốt đẹp
Do
lòng tốt của lama thiêng liêng của tôi,
Không
biết gì nhiều về những chuyện đời ;
Nhưng
khi tôi ở trong núi non vắng hẳn bóng người –
Không
góp nhặt thức ăn và sự sung túc –
Những
thí chủ, đàn ông và đàn bà sùng tín,
Tụ
tập lại như một đàn ong
Trên
đóa hoa sen thơm ngát ngọt ngào.
Mọi
thứ đó là do lòng tốt vị lama của tôi –
Xin
ban cho con ân phước thường trực của ngài.
Tôi,
Mila của những chốn ẩn cư trên núi,
Không
đi vào công chuyện hay bán buôn ;
Nhưng
khi tôi sống trong núi non hoang vắng,
Không
nhờ vào của bố thí để sống còn,
Những
thí chủ, đàn ông và đàn bà sùng tín,
Đem
cho tôi đồ ăn thức uống ngon lành.
Mọi
thứ đó là do lòng tốt vị lama của tôi.
Con
dâng cúng lòng tôn kính để trả ơn lòng tốt ấy –
Xin
ban cho con ân phước thường trực của ngài.
Tôi,
Mila của những chốn ẩn cư trên núi,
Không
nương dựa vào thức ăn của những lễ cúng
Hay
vào những tinh chất của những viên thuốc của thiền giả
;(12)
Nhưng
khi tôi trong những chốn ẩn cư núi non hoang vắng
Những
thí chủ, đàn ông và đàn bà sùng tín,
Cung
cấp cho tôi thức uống cao lương mỹ vị.
Mọi
thứ đó là do lòng tốt vị lama của tôi.
Con
dâng cúng lòng tôn kính để trả ơn lòng tốt ấy –
Xin
ban cho con ân phước thường trực của ngài.
Tôi,
thiền giả repa của núi non,
Không
muốn áo quần lụa mềm xinh tốt
Do
lòng ham thích sự hào nhoáng hay đẹp đẽ ;
Nhưng
khi tôi sống trong núi non vắng hẳn bóng người
Những
thí chủ, đàn ông và đàn bà sùng tín,
Cung
cấp cho tôi những áo dài bằng len bền chắc.
Mọi
thứ đó là do lòng tốt vị lama của tôi.
Con
dâng cúng lòng tôn kính để đáp đền lòng tốt ấy –
Xin
ban cho con ân phước thường trực của ngài.
Đây
là tất cả những thứ bên ngoài,
Bây
giờ tôi sẽ nói câu chuyện bên trong của tôi :
Khi
tôi thực hành như đã được chỉ dạy
Bởi
lama chân thật và thiêng liêng của tôi,
Dâng
cúng ngài thân, khẩu và ý,
Những
ân phước và thành tựu rơi xuống như mưa,
Và
hơi ấm phúc lạc của kinh nghiệm nóng rực trong thân.
Đây
là cách tốt nhất để phụng sự một nhà cai trị –
Tôi
đã bỏ mọi nhà cai trị thế gian lại đàng sau.
Khi
tôi lưu tâm đến những việc gần cạnh
Và
gánh vác gánh nặng của khổ hạnh,
Những
việc thế gian hoàn toàn bị quên lãng.
Sự
ảnh hưởng trực tiếp như vậy vào bốn đại
Và
sự bổ dưỡng bằng thức ăn của định
Là
cái tốt nhất trong mọi phương tiện dinh dưỡng –
Tôi
đã bỏ thức ăn và đồ uống thế gian lại đàng sau.
Khi
tôi uống dòng suối của giác ngộ,
Hay
nước xanh mát của thác núi ;
Đó
là quyền sở hữu không người nào khác có,
Trà
và bia đậm cả hai đều bị bỏ đi.
Sự
làm dịu khổ đau của phiền não như vậy
Là
cách tốt nhất để giải khát –
Tôi
đã bỏ trà và bia lại đàng sau.
Khi
tôi phát triển khí, kinh mạch v.v...
Chỉ
mặc một áo vải dài của những repa,
Áo
quần sang trọng, lụa là trưởng giả,
Và
đồ len mềm đẹp đều bị bỏ đi.
Cái
lạc nóng cháy ấy của tummo
Là
cách tốt nhất để mặc y phục –
Tôi
đã bỏ áo quần lụa đẹp ở lại đàng sau.
Khi
tôi làm nhà tôi trong hang núi,
Những
tòa nhà và ngoại ô lộn xộn
Của
quê hương đã bị bỏ đi.
Một
ngôi nhà tốt đẹp của định như thế
Và
quê nhà của tâm an trụ
Là
cách tốt nhất để trú ngụ –
Tôi
đã bỏ quê hương và nhà đẹp ở lại đàng sau.
Khi
tôi vun bồi tình bạn với trí huệ,
Tôi
bỏ đi những vấn đề
Của
một gã đàn ông luôn luôn rắc rối.
Sự
phối hợp như vậy giữa phương tiện và trí huệ
Đặt
nền vững chắc trên từ bi
Là
loại tốt nhất của kết hợp lứa đôi –
Tôi
đã bỏ những vấn đề của hôn nhân ở lại đàng sau.
Khi
tôi nuôi dưỡng đứa con của tịnh quang,
Tôi
bỏ đi những phàn nàn của những đứa con không thân thiện
Chúng
ngược lại với sự chăm sóc thương yêu
Là
điều rắc rối chính của cha mẹ chúng lúc tuổi già.
Mối
tương quan đó giữa thực tại mẹ và con
Được
đặt an nghỉ trong cái nôi của trạng thái bổn nhiên.
Là
cách tốt nhất để nuôi dưỡng con ruột –
Tôi
đã bỏ sự bất hạnh về những đứa con thân yêu lại đàng
sau.
Khi
tôi dựa vào bảy kho tàng cao cả(13)
Tôi
bỏ đi ưa thích, ghét bỏ và xung đột
Những
thứ làm nên sự sung túc trói buộc vào sanh tử.
Còn
sự sung túc này của sự thấu hiểu mọi pháp là như huyễn
Và
của sự biết đủ
Là
cách tốt nhất để gom góp kho tàng –
Tôi
đã bỏ mọi sung túc thế gian lại đàng sau.
Khi
tôi hàng phục kẻ thù chấp ngã
Và
gắn bó với sự khiêm nhường,
Tôi
bỏ đi đất đai cho ba độc sanh ra.
Sự
giải thoát khỏi những phiền não thù nghịch
Qua
sự thấu hiểu rằng mọi chúng sanh là cha mẹ
Là
cách tốt nhất để thuần hóa những kẻ thù –
Tôi
đã bỏ sự chiến đấu với địch thủ thuộc thế gian lại
đàng sau.
Khi
tôi hối thúc người ta tiến đến mục đích là thực tại,
Tôi
đọc con đường sáu siêu việt
Và
hướng dẫn với bốn phương tiện xã hội
Đó
là những thân thuộc đã từ ái nuôi nấng tôi
Khắp
hết không gian của sanh tử.
Đây
là mối tương quan thân thuộc tốt nhất –
Tôi
đã bỏ những tương quan thân thuộc thế gian lại đàng sau.
Khi
tôi làm việc cho sự tự do của tất cả chúng sanh, những
bà mẹ của chúng ta,
Với
ý định tốt đẹp của tâm Bồ đề,
Công
việc đa dạng ấy cho lợi lạc của chúng sanh
Bằng
cách chỉ bày cho họ những cấp bậc của các thừa
Hợp
với nhu cầu tâm linh của từng người
Là
cái tốt nhất trong mọi loại tình bạn –
Tôi
đã bỏ những tình bạn thế gian lại đàng sau.
Đó
là câu chuyện bên trong của tôi,
Giờ
tôi sẽ kể câu chuyện bí mật của tôi :
Mặc
dù sự giác ngộ về thực tại
Trong
đó không có ta không có người,
Không
nhị nguyên, không phân chia – không hình tướng
Nhưng
không phải trống không,
Cũng
chẳng phải không phải trống không,
Rốt
ráo không có mảy may người nhận biết.
Eh
ma ! Cho đến khi một thiền giả núi non
Thấu
rõ suốt ý nghĩa của điều này,
Nó
chớ làm hư hoại nhân quả !
Mong
rằng các bạn thí chủ, đàn ông đàn bà tụ tập nơi đây,
Có
may mắn sống lâu, không bệnh tật,
Với
sự thọ hưởng nguồn an lạc miên trường.
Mong
các bạn có cái may mắn Pháp thân mặc dù cái chết,
Và
cái may mắn chứng ngộ Thân Phật trong thân các bạn,
Lời
Phật trong lời các bạn.
Và
Tâm Phật trong tâm các bạn.
Mong
rằng các bạn có cái may mắn của ba thân
Tự
nhiên thành tựu với thân, khẩu và ý.
Hát
lên bài ca tốt lành về kinh nghiệm này,
Trong
chốn ẩn cư núi non tốt lành này,
Hãy
chiêm ngưỡng Cái May Mắn Tốt Lành, vô số dakini.
Tụ
hội tốt lành nơi đây
Và
đám đông những người may mắn
Tôn
vinh họ bằng bài ca tốt lành.
Tràn
ngập bởi xúc cảm mạnh mẽ, những thí chủ phục vụ ngài
và cầu xin ngài ở lại. Bài ca này thuộc vào nhóm đầu tiên
những bài ca được hát khi ngài ở Núi Khối Đỏ.
Một
nữ thí chủ trẻ cúng dường bơ
3
Bài ca trong
mưa của Mila
Một
lần khi Jetsušn đang ở trong động Pelma Gel, ngài đi khất
thực tại một chỗ đóng trại rộng lớn. Một nữ thí chủ
trẻ lễ bái và cho một mẩu bơ nhỏ. Nhớ ra mình đã nhận
phần thức ăn hàng ngày, ngài nói : “Ta không có ngay cả
một thùng chứa để cất giữ món bơ này, hãy giữ nó cho
con.”
Người
đàn bà lấy làm lạ và xin ngài ở lại một buổi. Ngài nhận
lời, ngồi ở ngoài xa. Một trận mưa như thác đổ rơi xuống,
và bà nói với ngài : “Ô, hãy để tôi dựng tấm bạt che
đầu.”
Mila
trả lời với bài ca này :
Con
đảnh lễ dưới chân viên ngọc quý trang sức cho đầu con,
Người
đáp ứng mọi ước mong và nhu yếu.
Người
đàn bà duyên dáng được ban ơn với con cái và sung túc,
Quản
lý một kho dồi dào những tặng vật,
Mặc
chiếc áo len của phước đức –
Hãy
nghe đây, phu nhân sùng đạo.
Nếu
bà không biết tên tôi,
Tôi
là Milarepa của bình nguyên Gungthang –
Một
người khất thực tự ý lang thang.
Xúc
động bởi sự khốn khó của tôi vì gió và mưa,
Bà
trao cho sự giúp đỡ này trong tinh thần nhân từ chân thật.
Những
ý định tốt đẹp như vầy thật đáng ngạc nhiên.
Tôi
đã du hành qua những đồng bằng của sáu cõi huyễn
Nơi
cơn mưa của thống khổ rơi không ngừng nghỉ
Và
sương mù tối tăm của vọng tưởng đầy đặc quanh tôi.
Tôi
đã không có cái mũ rộng của chánh kiến,
Áo
mưa của niềm tin không nao núng,
Và
hang động khô ấm của sự quy y tốt đẹp.
Bị
cuốn trôi bởi dòng sông tâm thức khát khao.
Bị
sưng phồng vì những cơn mưa quất của nghiệp xấu,
Tôi
đã bị đem tới chân trời xa của đại dương thống khổ,
Đẩy
đưa trên những ngọn sóng của ba cõi thấp,
Và
va vào những tảng đá của nghiệp dữ.
Sợ
hãi những khổ đau không thể chịu nổi như thế
Trong
những đời tương lai không thể tính đếm,
Tôi
dựng lên chiếc lều trắng của chánh kiến
Trên
bình nguyên bao la của niền tin không nao núng.
Tôi
siết chặt những sợi thừng cột lều của kinh nghiệm thiền
định.
Đóng
chắc những cọc lều của sự thực hành không lầm lỗi
Dựng
thẳng những cây chống của ba thân có được,
Và
dương lên ngọn cờ của tịnh hạnh.
Tôi
truyền bá tiếng trống thánh pháp đi mọi hướng,
Và
trên ngai của thế giới bên ngoài đa dạng
Uống
nước cốt của mọi giáo lý thâm sâu.
Trên
cao nguyên rộng lớn của tình thương và bi mẫn,
Tôi
chăn dắt đàn cừu của sáu cõi ra khỏi bờ vực
Và
gom góp cam lồ của toàn trí
Không
chướng ngại đối với mọi sự vật.
An
lạc bên trong, tôi không ấp ủ
Cái
ý niệm “Tôi đang khổ đau”
Khi
cơn mưa không dứt đổ xuống bên ngoài.
Ngay
cả trên những đỉnh núi tuyết trắng xóa
Ở
giữa cơn mưa tuyết xoáy cuộn
Theo
những ngọn gió đông đầu năm
Cái
áo vải này cũng rực lên như lửa.
Người
đàn bà trẻ xúc động với lòng tin mạnh mẽ. Chiều hôm
đó bà bà cầu xin ban phước và lễ nhập môn, cúng dường
một lễ cúng. Mọi người khác của chỗ đóng trại ấy cũng
đến để kết duyên với Jetsušn. Họ dâng nhiều thứ cúng
dường, nhưng ngài không nhận, hát bài ca này :
Con
cầu nguyện dưới chân lama từ ái của con.
Mọi
đồ ăn thức uống các bạn đã dùng
Qua
suốt sanh tử từ vô thủy
Cho
đến đời hiện nay
Đã
không cho các bạn sự thỏa mãn hay hài lòng.
Bởi
thế hãy ăn thức ăn này
Của
chánh định, hỡi những người có phước.
Mọi
sự thịnh vượng các bạn đã sở đắc
Từ
thời vô thủy đến nay
Đã
thất bại không thể đáp ứng mọi ham muốn của các bạn.
Bởi
thế hãy trau dồi viên ngọc như ý này
Của
sự điều độ, hỡi những người có phước.
Mọi
bạn bè của bạn đã biết
Từ
thời vô thủy đến nay
Đã
không bao giờ ở lại bên cạnh bạn.
Bởi
thế hãy giữ sự bầu bạn trường cửu
Với
Đại Ấn bổn nguyên, hỡi những người có phước.
Biết
rằng tài sản tích trữ rồi cũng bị bỏ lại đàng sau,
Tôi
không khao khát sự thịnh vượng của một người giàu,
Và
vì thế tôi không muốn các đồ cúng dường của các bạn.
Mong
các bạn sống lâu, hạnh phúc và sức khỏe,
Thoát
khỏi khổ đau và cái chết bất ngờ,
Và
tái sanh trong một cõi thanh tịnh của Phật.
Rồi
Mila bỏ đi đến Núi Khối Đỏ đồng bằng Gungthang.
Một
thiền giả đến để khám phá về con người mà danh tiếng
đã lan truyền khắp Tây Tạng. Như thế, bài ca đầu tiên
của Mila nhằm vào bản chất lừa dối của tên tuổi và tiếng
tăm. Thiền giả bối rối khi thấy hoàn cảnh đơn độc, khổ
hạnh mà Mila thích ở để tu hành – cực kỳ nhàm chán đối
với những hành giả đương thời. Mila hát cho ông nghe một
bài ca về tính không sợ hãi của hành thiền và một bài
ca về những giáo huấn-ngắn, những bài phát biểu cốt lõi
như là những chìa khóa để hiểu và thực hành. Ở đây chúng
đề cập đến bản chất giải thoát tự nhiên của thế giới
hình tướng và phương cách trừ sạch những thành kiến sai
lầm khiến chúng ta tri giác lầm lẫn thế giới như chúng
ta vẫn thường làm. Dầu cho không được đề cập đến,
những giáo huấn này ám chỉ sự thực hành Đại Ấn và là
những chỉ hướng chính xác.
4
Mila gặp
gỡ một thiền giả
Một
ngày ấm áp khi Jetsušn Repa vĩ đại đang tu hành ở Núi Khối
Đỏ trên đồng bằng Gungthang, một thiền giả đi đến. Mila
hỏi ông : “Thầy đến từ đâu ?”
Ông
trả lời : “Tôi đến từ vùng UŠ sau khi nghe danh tiếng của
một lama Jetsušn tên là Milarepa. Thánh giả Jetsušn ấy sống
ở đâu ?”
Để
trả lời Mila hát cho ông bài ca này :
Con
đảnh lễ dưới chân Marpa, vị siêu việt của loài người,
Không
cách ly mảy tóc với Vajradhara vĩ đại.
Xin
hãy hướng dẫn con, tâm ngài không mảy may chệch hướng,
Khỏi
trạng thái của thực tại bất biến.
Ông,
nhà khổ hạnh xứ UŠ, đến từ vùng đất thấp,
Tìm
kiếm thiền giả Mila để xin những lời chỉ dạy.
Vậy
thì, hãy thấu hiểu sự giải thích này !
Trong
ba tháng xuân khi chúa của hơi ấm xuất hiện
Và
những nguyên tố của nóng và lạnh cạnh tranh nhau,
Tiếng
“ù ù” vang dội trong bầu trời
Được
gọi là Con Rồng Xanh.
Dầu
cho tên gọi và danh tiếng là vĩ đại,
Nhưng
khi gặp hình thể thực của nó
Nó
có một miệng rộng, cổ nhỏ, đuôi dài.
Dầu
cho tên gọi và hình thể không khớp nhau,
Tiếng
của nó được xem là điềm rất tốt lành.
Thế
nên nó được gọi là con rồng vĩ đại của bầu trời,
Kẻ
chia mùa hạ và mùa đông,
Viên
ngọc trai của mùa mưa đúng thời.
Hãy
hiểu đây là một điều kinh ngạc lớn !
Dưới
những dòng nước của đại dương ngoài kia
Trên
cái bục bằng vàng của đại dương,
Vị
chủ tể của biển cả ngồi đó
Được
gọi là Con Rùa Vàng Vĩ Đại.
Dầu
cho tên gọi và danh tiếng là lớn lao,
Nhưng
khi gặp hình thể thực của nó
Nó
giống như một cái bình đất sét lật úp
Với
miệng thì rộng còn chân ngắn ngủn.
Dầu
cho tên gọi và hình thể không khớp nhau,
Nó
được gọi là Rùa Vàng Vĩ Đại.
Nó
là sự trang sức vĩ đại cho những đại dương,
Là
thuốc để thuần hóa những hồn linh thiên nhiên,
Vũ
khí bảo vệ những vùng thảm họa,
Và
là kẻ chinh phục những con rắn độc.
Hãy
hiểu đây là một điều kinh ngạc lớn !
Ở
Tây Tạng này, những con quỷ mặt đỏ,
Yaksha
(dạ xoa), và vô số hồn ma
Luôn
luôn tìm cơ hội làm hại.
Còn
chính tôi, người nổi tiếng như là Milarepa ;
Và
dầu cho tên gọi và danh tiếng là lớn lao,
Nhưng
khi gặp hình thể thực của tôi,
Tôi
trần truồng, thân xanh như lá.
Dầu
cho tên gọi và hình thể không khớp nhau,
Tôi
có khả năng thực hành pháp khổ hạnh ;
Như
thế tôi là vương miện của những người cầu Pháp,
Một
thiền giả giữ gìn những giáo lý
Với
sức mạnh chiến thắng những quỷ ma.
Hãy
hiểu đây là một kinh ngạc lớn !
Ba
cái này – bài ca, ví dụ và ý nghĩa,
Là
cách giải thích của Mila
Nhưng
thật ra Milarepa này
Chỉ
là tên gọi, biểu tượng và chỉ định –
Trống
rỗng như vỏ trấu, không có chất thể,
Vô
tự tánh – như thế tôi không hề chỉ dạy.
Đây
là quà tặng cho ông, hỡi thiền giả.
Bạn
có nắm được ý nghĩa không, hỡi nhà khổ hạnh ?
Tràn
đầy thán phục, thiền giả lễ lạy, đi nhiễu vòng quanh
Mila và rồi quỳ gối chắp tay : “Lúc ban đầu tôi đã không
biết chính là ngài. Tha thứ cho tôi. Tôi kinh ngạc khi thấy
ngài có thể ở trong một chỗ ẩn cư hoang vắng mà không
sợ hãi, lo âu.”
Jetsušn
trả lời : “Nếu một thiền giả sợ phải ở nơi ẩn cư
núi non, người ấy không nếm được thậm chí mùi hương
của thiền định. Ông phải nhận biết mục đích, nó là
trạng thái bổn nhiên, qua học tập và tư duy. Rồi sau khi
nhận những giáo huấn sâu xa từ một vị lama chân chính và
cắt đứt những tạo tác tâm thức, thấu rõ mục tiêu của
thiền định nhất tâm. Một người như vậy mới được gọi
là “thiền giả”. Những người lang thang khắp miền mà
không có bằng chứng của kinh nghiệm và chứng ngộ, khất
thực thức ăn và làm điều gì họ thích là những người
bị tà ma nhiếp phục. Bởi thế, hãy nghe và suy xét kỹ bài
ca này của tôi.”
Pháp
vương của lòng tốt không lay chuyển,
Dịch
giả mà tên tuổi hiếm được nghe đến –
Hỡi
dịch giả vĩ đại Marpa
Con
cầu nguyện – xin ban cho con ân phước !
Khi
Đại Ấn vĩ đại đã biểu lộ,
Một
thiền giả không sợ ngay cả tiêu tan cái thân như huyễn này.
Vừa
lúc thấu rõ rằng những kinh nghiệm bên trong và bên ngoài
đều như huyễn,
Một
thiền giả không sợ ngay cả những đạo quân của bốn loại
Ma.
Khi
đã chấm dứt sự bám luyến vào cuộc đời,
Một
thiền giả không sợ ngay cả sự hoại diệt toàn bộ của
ba cõi.
Khi
có thể điều phục những năng lực trong thân
Một
thiền giả không sợ phải lang thang trong sương mù của ba
cõi.
Thiền
giả tràn đầy xúc cảm và thốt lên : “Lama Jetsušn quý báu,
ngài có danh tiếng lớn, và điều đó thật như vậy. Kỳ
diệu thay ! Kỳ diệu thay ! Bây giờ xin ngài giải thích như
thế nào thế giới hình tướng này xuất hiện.”
Mila
bèn hát bài ca này :
Con
đảnh lễ dưới chân của lama chân thật
Người
đã chỉ cho con rằng mọi tướng đều như huyễn.
Ông
có biết những hình tướng này là gì ư ?
Nếu
không biết, tôi sẽ nói cho ông :
Những
hình tướng này xuất hiện khắp nơi ;
Với
người không chứng ngộ thì chúng là sanh tử,
Nhưng
với người chứng ngộ, chúng chiếu diệu như là Pháp thân.
Khi
những hình tướng chiếu diệu như là Pháp thân
Chớ
tìm kiếm một tri kiến nào khác từ những nguồn nào khác.
Ông
có biết làm sao để trưởng dưỡng cái tâm ư ?
Nếu
không biết, tôi sẽ nói cho ông :
Chớ
tìm cách chỉnh trị, thao tác gì với tâm ;
Chớ
cố gắng khiên cưỡng kiểm soát tâm.
Hãy
an nhiên buông xả như một trẻ nhỏ.
Hãy
như đại dương không sóng.
Như
một ngọn đèn tự chiếu sáng,
Và
như một xác chết không đời sống.
Hãy
bỏ những đặt tên, cường điệu ra khỏi tâm vốn là thanh
tịnh.
Ông
có biết làm thế nào để kinh nghiệm ư ?
Nếu
không biết, tôi sẽ nói cho ông :
Như
sương tan mất bởi sức mạnh của mặt trời
Và
bị xua tan không bằng cách nào khác,
Định
kiến, ý niệm được tan sạch bởi sức mạnh của chứng
ngộ.
Không
bằng cách nào khác để trừ sạch ý niệm.
Hãy
kinh nghiệm chúng như là giấc mơ không căn cứ.
Hãy
kinh nghiệm chúng như là bọt nước phù du.
Hãy
kinh nghiệm chúng như là cầu vồng không chất thể.
Hãy
kinh nghiệm chúng như là hư không không thể phân chia.
Ông
có biết làm thế nào để bổ sung kinh nghiệm ư ?
Nếu
không biết, tôi sẽ nói cho ông :
Ngay
cả một cơn gió mạnh bản chất cũng trống rỗng.
Ngay
cả một làn sóng lớn cũng chính là đại dương
Ngay
cả những đám mây dày phương nam cũng không có chất thể
như bầu trời.
Ngay
cả tâm ồn náo cũng vốn tự nhiên là vô sanh
Để
làm tâm vận hành
Hãy
dùng những giáo huấn để thức cỡi trên khí.
Khi
thất niệm vì kẻ trộm là ý niệm,
Hãy
dùng những giáo huấn để nhận ra kẻ trộm.
Khi
tâm bị phân tán theo các đối tượng
Hãy
xử dụng giáo huấn về cách bay của con quạ từ một một
chiếc tàu.(14)
Ông
có biết làm sao để thực hành ư ?
Nếu
không biết, tôi sẽ nói cho ông :
Hãy
thực hành như một con sư tử lớn đứng.
Hãy
thực hành như một hoa sen mọc lên trong bùn.
Hãy
thực hành như một con voi mê đắm.
Hãy
thực hành như một hòn pha lê trong suốt.
Ông
có biết làm thế nào để hiển lộ những kết quả ư ?
Nếu
không biết, tôi sẽ nói cho ông :
Pháp
thân được hiển lộ trong vô niệm.
Báo
thân được hiển lộ trong lạc.
Hóa
thân được hiển lộ trong sự sáng tỏ.
Tự
tánh thân được hiển lộ trong tánh Không bổn nhiên.
Với
những ai giỏi về ngôn ngữ thì có ba thân,
Nhưng
trong Pháp thân thì không có sự chia biệt nào.
Cái
thấy, trưởng dưỡng, kinh nghiệm,
Bổ
sung, thực hành và những kết quả –
Sáu
cái này bao gồm sự chứng nghiệm trong thiền.
Ông
có nắm nghĩa lý của tôi không, hỡi con người xứ UŠ ?
Ông
có hiểu tôi không, hỡi nhà khổ hạnh ?
Thiền
giả một lần nữa tràn đầy cảm kích, và sau khi xin ban nhập
môn và sự chỉ dạy sâu nhiệm bèn bắt đầu việc thực
hành. Người ta nói ông trở thành một người thiền định
lão luyện nhờ sự chứng ngộ tối hậu mọc sáng trong tâm
thức ông.
Một
bài ca về thiền khác của Milarepa, lần này là cho đệ tử
thân cận là Rechungpa. Đây là một kiểu mẫu tiêu biểu về
cách thức Mila tạo thành những chỉ dạy về thiền cho các
đệ tử riêng. Sự bộc phát tự nhiên này chỉ để đáp
ứng yêu cầu của Rechungpa đang chấp tay, phản ánh những
hoàn cảnh thư thái trong sự độc nhất và quy mô của thể
loại này. Dùng kiểu cách ẩn dụ như ngài thích, Mila lấy
những vật trực tiếp chung quanh và dệt chúng vào một tấm
vải biểu tượng phong phú để xiển dương những điểm chính
yếu của giáo lý ngài.
5
Những biểu
tượng cho Kinh Nghiệm Thiền
Sau
khi làm cái nhà mùa đông ở Lachi, Jetsušn Milarepa và vài đệ
tử đến bình nguyên Gungthang ở mùa hè, trú ngụ trong Động
Răng Ngựa Đá Trắng.
Một
hôm Mila và Rechungpa đi lên phía Thượng Yerpo để cho thân
thể được tĩnh dưỡng. Rechungpa yên lặng chắp tay hướng
về lama của mình và họ cùng ngồi xuống nghỉ một lúc.
Những
con kên kên bay lượn trên đầu họ. Những con gà gô kêu bên
phải họ. Những con nai thận trọng gặm cỏ bên trái họ
trong khi con của chúng chơi đùa. Và phía dưới họ là một
thác nước ào ào phóng mình vào sông Tsangpo.
Thấy
thế, Mila vui thích hát bài ca này :
Con
lạy dưới chân lama tôn kính của con.
Hãy
nghe đây con, Rechung Dorje Drak,
Những
con kên kên này, hàng xóm chúng ta, vua của loài chim,
Kên
kên bay lượn trong bầu trời,
Tìm
thức ăn trên ba đỉnh núi này,
Và
nghỉ ngơi trên sườn Núi Đỏ.
Mọi
thứ ấy là những biểu tượng của cái thấy Thiền :
Cái
thấy ấy không có chu vi hay trung tâm.
Chim
kên kên của sự thấu hiểu tánh Không
Từ
bi bay lượn tìm kiếm thức ăn là sự lợi lạc cho người
khác
Và
ngủ trên núi đá của sự hợp nhất tối hậu.
An
lạc thay những thiền giả hoàn toàn hiến mình vào Pháp.
Con
có hiểu nghĩa ta nói không, Rechungpa ?
Nhìn
xem đó, lòng chúng ta vui sướng.
Những
con gà gô này, hàng xóm chúng ta, những con chim thần thánh,
Kêu
lảnh lót từ những bụi cây bên sông trên núi,
Tìm
trái cây trong đồng cỏ cao nguyên,
Và
ngủ trong những lùm cây của Núi Đất Sét.
Mọi
thứ ấy là những biểu tượng của thiền định :
Con
chim duyên dáng này của trạng thái thiền tự nhiên.
Kêu
êm ái với tiếng giọng của hiện thể nguyên sơ,
Ăn
trong đám cỏ của tịch tĩnh không chao động,
Và
ngủ trong trạng thái quán chiếu tự sáng tỏ.
An
lạc thay thiền giả đã đạt đến chân tánh của tâm.
Con
có hiểu nghĩa ta nói không, Rechungpa ?
Nhìn
xem đó, lòng chúng ta vui sướng.
Những
con nai cảnh giác này, hàng xóm chúng ta,
Bỏ
ba đỉnh núi cằn cỗi này
Đi
xuống ăn cỏ trong cánh đồng xanh non.
Ở
đó chúng vui chơi trong những điều kiện thoải mái,
Và
ngủ ở Núi Hùng Vĩ.
Mọi
thứ ấy là biểu tượng của thực hành Thiền :
Sự
tự do tự nhiên bắt gặp trong thực hành
Là
sự tỉnh giác cân nhắc kinh nghiệm tốt và xấu.
Nó
đi xuống những cánh đồng cỏ của từ và bi,
Vui
chơi với sự lợi lạc của tất cả chúng sanh,
Và
thân thiết với ngọn núi của sự hồi hướng bình đẳng.
An
lạc thay thiền giả mà tâm thức tỉnh giác.
Con
có hiểu nghĩa ta nói không, Rechungpa ?
Nhìn
xem đó, lòng chúng ta vui sướng.
Nước
chúng ta uống, dòng sông núi mát lạnh này,
Tự
khởi nguồn trong những đồng cỏ của Núi Trắng,
Chảy
đầy chỗ trũng của Núi Đất Sét,
Và
tiếp tục trôi không dứt qua.
Mọi
thứ này là biểu tượng của những kết quả Thiền :
Những
kết quả ấy, những thân vốn sẵn đủ của Phật,
Chính
chúng tự khởi lên như kết quả trên nền tảng,
Lắp
đầy chỗ trũng của sự khẩn cầu trong sạch,
Và
làm đầy lợi lạc cho chúng sanh đến hết thời sanh tử.
An
lạc thay thiền giả tự do khỏi lo âu.
Con
có hiểu nghĩa ta nói không, Rechungpa ?
Nhìn
xem đó, lòng chúng ta vui sướng.
Trong
hang Núi Trắng, chỗ tu hành của thầy,
Thầy
phát sanh sức mạnh chú tâm vượt khỏi thiền định.
Những
chiến sĩ và dakini tụ lại như mây
Thầy
trải qua đêm tỉnh giác, trong tánh Giác phúc lạc.
No
nê với mọi loại điềm triệu tốt lành.
Ban
ngày, sự chứng ngộ thấu suốt chiếu sáng như kinh nghiệm
phúc lạc ;
Thiền
định như thế, thầy là Đại Thiền giả Repa.
Hãy
thả bay trong gió những quan tâm tới cuộc đời này,
Và
in vào trong con thời gian chết khi nào không biết.
Nhớ
sự khổ đau của sanh tử,
Thì
tại sao còn mong đợi điều vô ích ?
Hãy
sống đời người trong thung lũng vô ngã,
Hãy
giữ chắc chỗ ngồi của lòng can đảm không lay chuyển,
Và
đáp ứng những lợi lạc của chính con và của những người
khác.
Con
có hiểu nghĩa ta nói không, Rechungpa ?
Mila
đã xem thấy điều này và lòng nó vui sướng.
Con
xin dâng tặng bài ca sùng mộ này, hỡi lama tôn kính !
Xin
hãy dự phần trong bữa tiệc âm thanh này, hỡi những dakini
!
Hãy
cất đi sự ngăn che của các ngươi, những loài phi nhân !
Hãy
trông nom bài ca tốt lành này của lòng sùng mộ !
Sự
hướng dẫn tối hậu là tự tánh của chính mình ; hay nói
rõ hơn, đó là cách mà kinh nghiệm của đời con người và
sự thực hành được thấu hiểu và được dùng cho lợi lạc
lớn lao tốt đẹp nhất. Chính nó là sự chỉ dẫn duy nhất
đích thực cho việc ở đâu và đi đâu. Các đệ tử của
Mila muốn hành hương đến một thắng tích danh tiếng, bởi
thế Mila chỉ ra sự không thích hợp của những thủ tục
hình thức này và giải thích cái gì là quan trọng.
6
Bài ca về
những người hướng dẫn con đường
Jetsušn
ở với năm đệ tử trong Động Răng Ngựa Đá Trắng tới
khi thời tiết lạnh của mùa thu kéo đến. Những repa hỏi
lama của họ : “Bây giờ là mùa thu. Chúng ta có nên gom góp
lương thực cho việc thực hành trong mùa đông bằng cách đi
khất thực đồ dự trữ không ? Làm như thế chúng ta có dịp
giúp người khác thêm công đức. Và cũng vui thích sẽ có
dịp được viếng tượng Đức Phật Quý Báu ở Kyirong.(15)
Xin để chúng con đi.”
Vị
lama trả lời họ : “ ‘Đức Phật Quý Báu’ thì hoàn toàn
ở trong các con. Và cũng không tốt đẹp lắm cho những thiền
giả phải đi khất thực. Bởi thế, hãy tiếp tục thực hành
tám con đường kim cương này.” Và ngài hát bài ca này cho
những repa trẻ trong Động Răng Ngựa Đá Trắng :
Hiện
thân vinh quang của vua pháp giới,
Sự
chữa lành tốt nhất cho bệnh tật của ba độc,
Con
người tuyệt vời của Lhodrak –
Con
xin đảnh lễ nhà dịch giả Marpa !
Răng
Ngựa Đá Trắng, thành lũy của Trung Đạo,
Chỗ
tụ hội cho những dakini cao thượng,
Nơi
gợi hứng cho đức tin chân thành vào cổ nhân,
Chốn
thực hành của lòng tự tin –
Trong
chỗ tốt nhất của các chốn ẩn cư này
Hãy
nhận một bài ca kinh nghiệm về trạng thái bổn nhiên.
Hãy
nghe bài ca này, năm huynh đệ repa –
Những
đứa con của thầy, Lodro, Shergon Dorje và những người khác.
Thức
nền tảng, vĩnh cửu và bất biến dịch
Là
người dẫn đường để thoát khỏi sanh tử luân hồi.
Hạnh
phúc thay cho người nào biết được sanh tử và niết bàn
là bất nhị ;
Kỳ
diệu thay, sự gieo trồng cho vụ mùa này !
Vị
lama thiêng liêng, chân thực này
Là
người dẫn đường để xua tan bóng tối vô minh.
Hạnh
phúc thay cho người nào thấy lama như Phật ;
Kỳ
diệu thay, sự chiêm ngưỡng và niềm tin bất tận này !
Chốn
ẩn cư núi non này không phương hướng
Là
người dẫn đường cho thiền định nuôi dưỡng.
Hạnh
phúc thay cho người nào xem thân thể là chốn ẩn cư ;
Kỳ
diệu thay sự an trụ bất động này !
Thế
giới đối vật này xuất hiện với những giác quan
Là
người dẫn đường để trau dồi tánh giác tự nhiên.
Hạnh
phúc thay cho người nào hướng dẫn chúng vào kinh mạch trung
ương ;
Kỳ
diệu thay sự tràn ngập bởi lạc tỏa khắp thân tâm này
!
Những
giáo huấn này để chuyển di tâm thức
Là
những người dẫn đường để vượt qua những thị kiến
của bardo.
Hạnh
phúc thay cho người nào có thể vượt qua với tánh Giác ;
Kỳ
diệu thay sự hợp lưu này của quá khứ, hiện tại và tương
lai !
Những
hiện thân quý báu của tình thương và bi mẫn
Là
những người dẫn đường cho sự cứu độ bình đẳng chúng
sanh.
Hạnh
phúc thay cho người nào được bao quanh bởi người chứng
ngộ ;
Kỳ
diệu thay sự cứu độ chúng sanh bằng hóa thân này !
Sự
tu hành định thanh tịnh, không phóng dật này
Là
người dẫn đường cho tánh Giác tinh khiết.
Hạnh
phúc thay cho người nào biết cái hiện tiền là bất nhị
;
Kỳ
diệu thay tánh Giác thanh tịnh như hư không này !
Cái
áo vải này trên thân thể các con
Là
người dẫn đường để chế phục những ngọn núi tuyết
khắc nghiệt này.
Hạnh
phúc thay cho người nào ngủ trần truồng trong tuyết ;
Kỳ
diệu thay sự tự do với cả nóng lẫn lạnh này !
Bài
ca này ta hát về tám con đường kim cương
Chính
là một người dẫn đường tự nói lên như tiếng vang.
Hạnh
phúc thay cho thiền giả nào nhớ bài ca kinh nghiệm này ;
Kỳ
diệu thay âm thanh kim cương tự nói này.
Con
dâng cúng bài ca tôn sùng này, hỡi lama thiêng liêng !
Xin
hãy dự phần trong bữa tiệc âm thanh này, hỡi những dakini
!
Hãy
cất đi sự ngăn che của các ngươi, những loài phi nhân !
Hãy
trông nom bài ca tốt lành này của lòng sùng mộ !
Khi
ngài hát, hoa rơi xuống từ trời và mùi hương chưa từng
có thơm đầy. Mỗi người trong năm đệ tử repa trải nghiệm
một thị kiến khác nhau. Họ cùng nhau đảnh lễ và cúng dường
một mạn đà la với yêu cầu tha thiết Mila ở lại với họ.
Được cảm hứng bởi đức tin không thể kiềm chế được
như vậy, những kinh nghiệm thuận lợi của thiền định cháy
lên trong họ, và họ làm những cố gắng mới trong thực hành.
Mila
hiến tặng bài ca tự phát về sự chứng ngộ này cho mọi
thiền giả. Ngài mở đầu bằng một đoạn nói về sự thực
hành Chỉ và Quán. Sau một đoạn xuất thần diễn tả sự
tiến bộ tâm linh ngài đã đạt được từ thực hành ấy,
Mila đóng lại bằng một số lời khuyên bảo trong hình thức
châm ngôn.
7
Bài ca Chứng
Ngộ trong Hang Tịnh Quang
Jetsušn
Milarepa rời Động Răng Ngựa Đá Trắng và trở lại Hang Tịnh
Quang ở Gungthang. Khi ở đó, sự chiếu sáng trong trẻo tiến
triển mạnh mẽ trong tâm tập trung và ngài hát bài này :
Kính
lễ lama thiêng liêng của con.
Tôi,
thiền giả Milarepa,
Hiến
tặng kinh nghiệm và chứng ngộ của tôi
Cho
tất cả thiền giả khắp mười phương.
Tâm
tôi thảnh thơi trong trạng thái tự nhiên của nó
Không
cứng cỏi hay căng thẳng
Qua
sự nuôi dưỡng dịu dàng, không phóng dật.
Tôi
nhìn thẳng phía trước với con mắt của tỉnh giác quán xét,
Ở
đàng sau người canh giữ của tỉnh giác tập trung,
Và
giữ thân tâm thoải mái tỉnh thức.
Tâm
thức tôi ở yên trong trạng thái bổn nhiên của nó
Thoát
ngoài hôn trầm và xáo động,
Những
lầm lạc của con mắt tâm tôi
Và
những kinh nghiệm khác nhau trong định
Đều
tan biến và trở về cội nguồn bổn nhiên của chúng.
Trong
kinh nghiệm của định tĩnh vô niệm
Tâm
sáng tỏ lấy lại sức mạnh vốn có của nó,
Trần
trụi – trong trẻo và thuần khiết.
Đây
đúng là kinh nghiệm định tĩnh
Một
số người cho đó là quán chiếu,
Nhưng
tôi không đồng ý như vậy.(16)
Trên
con ngựa định tĩnh tốt đẹp như thế
Tôi
cỡi lên sự tỉnh giác thấu rõ
Tính
vô ngã của người (ngã) và vật (pháp)
Qua
sự kiểm tra tinh tế bằng trí huệ phân tích.
Mang
theo những ban ân của lama như lương thực,
Chúng
có được từ sự cầu nguyện thành tâm.
Tôi
đồng hành với trí huệ và phương tiện
Với
những tính cách của tánh Không và Đại Bi.
Thúc
đẩy bởi động lực sâu xa, lớn lao và sắt thép
Của
thiện ý được phát động mạnh mẽ,
Tôi
nhìn trở đi trở lại vào thực tại nền tảng
Với
sự chăm sóc dịu dàng không chểnh mảng
Tự
do ngoài mọi hy vọng và thất vọng.
Hãy
biết rằng tôi đã du hành qua con đường thiền định tốt
đẹp
này
Giờ
đây tôi nhìn nó với quán thấy tỏ suốt.
Hãy
biết tôi đã đến trong xứ sở không còn phải du hành ;
Hãy
biết tôi có bột mà không cần xay.
Hãy
biết rằng tôi đang xem quang cảnh không thể thấy.
Hãy
biết rằng tôi đã tìm ra quê nhà phúc lạc.
Hãy
biết rằng tôi đã tìm ra người phối ngẫu thường hằng.
Hãy
biết rằng tôi cung cấp lợi lạc cho chính tôi và những người
khác.
Đây
là những kho tàng của Milarepa ;
Nếu
tôi đang ở trên con đường sai lầm, xin hãy sửa tôi cho đúng.
Eh
ma ! Cho đến khi các bạn, những hành giả trong mười phương
Đạt
đến Phật tánh viên mãn
Chớ
bác bỏ nhân quả của hành động !
Cho
đến khi chứng nghiệm trạng thái hiện thực hiện tiền.
Chớ
chuyện trò vô nghĩa, trống không !
Cho
đến khi các bạn có thể đổi lợi ích, quan tâm của mình
cho người khác
Chớ
có nói : “Tôi đã đạt đến Bồ Đề Tâm.”
Cho
đến khi thân các bạn phản chiếu như thân bổn tôn
Chớ
có nói : “Tôi đã đạt đến giai đoạn phát sanh !”
Cho
đến khi cả hai giai đoạn đã đạt đến.
Chớ
có nói : “Tôi là một thiền giả của những mật chú !”
Khi
nào kinh nghiệm định tĩnh còn lộn xộn
Và
những hình tướng huyễn hóa trong giấc mộng còn gây lầm
lẫn,
Chớ
có vất bỏ những tiên tri có ý nghĩa
Mà
cho là đã có tri giác siêu nhiên.
Sự
tin tưởng mạnh mẽ vào những giáo huấn của lama dâng trào
trong các đệ tử của ngài. Họ tiếp tục có những nỗ lực
mới mẻ trong thực hành thiền định không xao lãng, sâu xa
liên tục như một dòng chảy của một con sông.
Phần
này xoay quanh bản chất của quán chiếu phân tích và trí huệ
siêu việt phát sanh từ đó. Sự thiền định của Rechungpa
đã bị xáo trộn bởi một số ảo giác tràn ngập. Ông có
thể nhận ra rằng chúng do sức mạnh thiền định của mình
khơi dẫn ra và đã áp dụng những biện pháp sửa sai, nhưng
đối diện với ảo giác hư vô của cái trống không rốt
ráo ông đã bất lực. Đây là một kinh nghiệm chung : những
ảo tưởng là những tri giác lầm lạc thuộc vật chất thì
dễ đối phó hơn là những tri giác lầm lạc vào tà kiến
hư vô.
Mila
nói đúng điều đã xảy ra bằng những từ của việc thiền
định – rằng những kinh nghiệm đó đi kèm theo những tiến
bộ tích cực của Rechungpa – và rồi giải thích điểm chính
yếu ; rằng trí huệ siêu việt bao gồm sự chứng ngộ tính
bất nhị của chủ thể và đối tượng. Tâm không thể tự
thấy chính nó ; bản tánh của nó chỉ có thể chứng ngộ
qua sự loại trừ những tri giác sai lầm và định kiến che
khuất tâm và những đối tượng của nó. Tâm thức bình thường,
thế tục diễn dịch kinh nghiệm bằng những quy ước danh
xưng, sự đồng thuận thuộc ý niệm về thế giới được
quy định trước khi sanh ra, và sau đó được bổ sung chi tiết
bởi những sự điều kiện hóa của kinh nghiệm lầm lạc.
Kinh nghiệm trực tiếp tánh Không là sự tri giác về sự không
có tính chất độc lập (vô tự tánh) trong tất cả mọi sự.
Nó được đạt đến qua sự loại trừ có hệ thống những
giả định sai lầm đã diễn dịch thế giới như là cái gì
hơn hay là cái gì kém so với nó thực là. Không có tính chất,
vô ngã, vô tự tánh tuy nhiên hiện tượng đa dạng của thế
giới chủ quan và khách quan xuất hiện – đó là sự chứng
ngộ vào lúc chót của quá trình thiền định quán chiếu phân
tích.
8
Sự bối
rối của Rechungpa
Một
buổi sáng khi Jetsušn Milarepa và “con” của ngài là Rechungpa
đang ở trong động Núi Khối Đỏ, Rechungpa đến gần ngài.
Sau khi đảnh lễ nhiều lần, ông quỳ gối chắp tay và nói
:
Con
tán thán hiện thân của Jetsušn :
Thân
thể trần truồng mà sáng chói,
Lời
nói hiện bày âm thanh kim cương ngọt ngào không dứt,
Tâm
chìm trong cảnh giới thanh tịnh của thực tại.
Con,
Rechungpa Dorje Drak,
Sinh
trong đồng bằng Gungthang thượng
Có
được thân người do phước đức đã gom
Và
gặp ngài, bậc cứu độ vinh quang của chúng sanh.
Được
dẫn dắt bởi lòng từ bi bao la của Thầy
Con
bắt đầu đi vào giáo pháp của con đường sâu xa.
Đặc
biệt, con nỗ lực trong giáo lý tummo,
Và
khi kinh nghiệm và chứng ngộ ban sơ khởi lên,
Thầy
đã phát hiện cho con cái tối hậu.
Niềm
tin vào cái thấy đã sinh ra ở bên trong,
Và
con có được đức tin không lay chuyển.
Jetsušn,
rồi Thầy đã nói với con,
“Mọi
kinh nghiệm như huyễn xảy ra
Đều
là những tạo tác huyễn hóa của tâm.
Hãy
đi đến trạng thái thực tại bổn nhiên.”
Đã
xảy như thế này :
Con
lạc khỏi tỉnh giác trong sáng tự nhiên
Và
rơi vào sự xáo động của những ảo tưởng tâm thức.
Đôi
khi những ảo giác thuộc đất xảy ra :
Trong
khi những biến cố khủng khiếp như bẫy sập, đất chuồi
và đá rớt,
Con
chú tâm vào thật tánh của chúng,
Và
dòng chảy của những hình tướng tư tưởng đa dạng chiếu
sáng
Như
là những quang minh của ánh sáng rực rỡ, vàng chói.
Đôi
khi những ảo giác thuộc nước xảy ra :
Con
bị cuốn đi bởi nước trôi ào ạt
Và
ném vào những làn sóng của đại dương –
Và
chúng chiếu sáng như những quang minh màu xanh đậm.
Đôi
khi những ảo giác thuộc lửa xảy ra :
Những
lưỡi lửa lóe sáng ; và con rơi vào một cảnh rùng rợn,
Bị
bao phủ trong lửa đỏ sậm và khói –
Và
chúng chiếu sáng như là những quang minh bốc lửa.
Nhưng
có khi những ngọn gió lớn gầm thét,
Con
bị thổi vào khoảng tối của không gian
Và
lắc lư tới lui với âm thanh gấp gáp.
Không
có điểm định hướng nào trong tâm
Con
bị nỗi sợ hãi cái trống không cùng cực khống chế.
Khi
những ảo giác phá hoại ấy xảy ra
Thiền
định bị đứt quãng và lạc đường.
Con
phải đối phó với điều ấy như thế nào ?
Lama
nhân từ, xin hãy nói.
Để
trả lời Mila hát :
Với
thân, khẩu, ý kính cẩn
Con
cầu nguyện dịch giả Marpa
Người
đặt con vào con đường không hư huyễn
Bằng
cách đập tan chuồng cũi huyễn hoặc.
Giờ
hãy nghe, Rechungpa :
Đôi
khi đang chú tâm vào trạng thái thực tại
Ảo
giác thuộc về đất được kinh nghiệm,
Và
cũng như thế với nước, lửa, gió và hư không.
Do
chúng mà sợ hãi tấn công,
Những
màu sắc sáng tự nhiên của các đại chiếu sáng,
Và
những sáng tạo như huyễn và đa dạng xuất hiện.
Thân
thể này có được là từ hành động (nghiệp)
Đã
tích tập bởi vô minh qua thời gian vô thủy,
Chính
cái tâm thức tác nhân chủ yếu
Tiếp
tục gieo những hạt của hành động vô minh
Vào
miếng đất của tâm thức căn bản.
Từ
thời vô thủy đến nay
Con
đã lạc mất mình trên cánh đồng bao la của huyễn hoặc
Trong
những thân như huyễn tạo thành cách sai lầm đó.
Bây
giờ do những giáo huấn của lama
Tâm
thức con bị ép lại một chút,
Và
những ảo giác gây khổ đau được trải nghiệm
Bởi
sự xâm nhập yếu ớt của bốn đại vào cửa những kinh
mạch –
Dấu
hiệu của sự nới lỏng bớt những kinh mạch bị thắt gút
Và
sự khơi động khí và hạt trắng.
Tại
sao lại khổ sở hay sợ hãi
Hay
kinh hoàng bởi việc này ?
Đó
là dấu hiệu khó chịu của sự thực hành tốt,
Một
chút nhỏ của kinh nghiệm thiền định
Dấu
hiệu mở ra của những kinh mạch,
Sự
phát hiện vẻ huy hoàng của bốn đại.
Giờ
đây là giáo huấn của lama của con về điều ấy,
Sự
cổ vũ của ngón tay ngài chỉ bày –
Hãy
mang nó trong tâm, đứa con cao quý !
Nếu
con muốn cái thấy của trí huệ thực sự,
Hãy
khám phá bản tánh của tâm
Với
chính tâm theo lối này :
Tâm
này tự bản tánh trong sáng và trống không,
Như
hư không tự do với mọi vật ;
Không
chút gì hiện hữu
Để
có thể biến nó thành một đối tượng cho sự hiểu biết.
Lấy
ví dụ, điều này giống như sự bất lực
Của
một con mắt để thấy chính nó,
Hay
của hư không để phát lộ
Bản
chất không thể phát lộ của mình.
Tâm
không thể thấy chính nó –
Chủ
thể và đối tượng không thể là hai ;
Bởi
thế, để thấy tâm
Con
phải nhìn và thăm dò bằng con mắt của trí huệ.
Khi
thăm dò và khảo sát cặn kẽ
Với
sự thẩm sát và khám phá theo lối phân tích
Cái
tâm thì giống như tim bấc của một ngọn đèn
Chiếu
sáng chỉ qua sự tỏa sáng của chính nó.
Cũng
thế, dù cái tâm tự nhiên, tự sáng này
Thì
trong sáng và thoát khỏi mọi che tối,
Nó
sanh và diệt theo nhân quả
Trong
mỗi niệm của tánh Giác
Và
chỉ biết nó qua phân tích quán sát.
Bấy
giờ cách thức nào cho sự chứng ngộ ấy ?
Trong
chứng ngộ tánh Không nhờ cái giác bất nhị,
Phúc
lạc, trong sáng và thoát khỏi dòng tư tưởng,
Ngay
sự chứng ngộ này do cái giác ấy
Thoát
khỏi nhị nguyên của chủ thể và đối tượng,
Của
người biết và cái được biết,
Thì
sự chứng ngộ này cũng chỉ là một quy ước danh xưng.
Hãy
biết rằng những quy ước danh xưng
Không
thể xem là hiện hữu
Một
cách chủ quan, khách quan hay cả hai.
Để
tóm tắt, nó như thế này :
Tâm
thức nền tảng này
Tự
trong chính nó là không có gì hết thảy.
Trong
tánh Không của thực tại
Không
có người-chứng-ngộ và cái được-chứng-ngộ được chứng
ngộ,
Không
có người thấy và cái bị-thấy được thấy,
Không
có người biết và cái để biết được biết,
Không
có người tri giác và đối tượng tri giác được tri giác.
Như
thế, bằng cách chặt đứt những giả định lầm lạc của
con từ bên trong.
Bằng
cách chứng ngộ, thấy, biết và tri giác.
Sự
không hiện hữu của bất kỳ một trung tâm nào ở trong tâm,
Hãy
hiểu rằng mọi hình tướng này –
Những
chuyển hóa đa dạng của tâm –
Là
Một Vị trong tánh Không của thực tại.
Trong
tánh Không, không có tăng thêm hay giảm bớt –
Không
có xuất hiện, biến mất hay thay đổi.
Thực
tại này của tâm tự giác,
Dầu
cho nó xuất hiện như hợp lưu của nhiều lầm lỗi,
Tự
bản chất vốn thoát khỏi sanh hay diệt,
Đến
hay đi, hay biến dịch sát na.
Trong
đó, không có hơn hay thiếu, không đầy hay khuyết,
Không
có sự giúp đỡ hay làm hại, không có hiện hữu hay không
hiện hữu chút nào.
Thức
nền tảng này của Tự Tâm
Không
có nền tảng khởi nguyên,
Không
có nhân hay duyên tạo tác
Vì
sự thường hằng của nó, không có cái gì để cần làm cho
sán