Dẫn Nhập
Milarepa
thuật lại kinh nghiệm thiền định
đầu
tiên của mình cho Marpa

Thế Giới của
Milarepa
Đạo
sư Ấn Độ Phadampa Sangye một lần nói với Jetsušn Milarepa
: “Dòng phái của ông giống như một dòng sông – nó sẽ
chảy rất dài.” Và quả thật, nó đã giữ được sinh lực
và sống động cho tới ngày nay. Không phải ngẫu nhiên mà
những lời dạy ứng khẩu thành bài hát của Milarepa đang
nhận được sự chú ý từ những hành giả của thế giới
Tây phương, bởi vì tình hình tôn giáo của chúng ta rất giống
với thời của Mila.
Cho
đến khi Phật giáo đi vào Tây Tạng, dân chúng hầu hết là
những người chất phác về tôn giáo, theo một sự tôn thờ
bùa phép phức tạp. Khi Phật giáo bắt đầu được thâu hóa
qua giáo huấn của đại diện nhiều trường phái, một tiến
trình đánh giá, thích ứng và hòa nhập xảy ra, để lại
trên lối đi của nó những tâm hồn tôn giáo thức tỉnh mới
mẻ. Cũng như thế ở Tây phương, những truyền thống tôn
giáo của chúng ta đã được thiết lập từ hàng nhiều thế
kỷ như là một chấp nhận mặc nhiên một số niềm tin và
giáo điều hơn là một sự thực hành để giải thoát cho
chính mình. Và ở đây ảnh hưởng của những hệ thống tôn
giáo Đông phương cũng có sự thúc đẩy phụ trợ cho sự
sanh ra một ý thức hiểu biết hơn về bản chất tâm linh
của chúng ta và tiềm năng của nó.
Một
yếu tố chính cho sự chuyển đổi sâu xa trong bất kỳ thời
nào là sự rối loạn bất định. Đối mặt với nhiều sự
lựa chọn trong niềm tin và thực hành như vậy, người Tây
Tạng vận dụng cảm quan căn bản của họ trong viễn cảnh
và khuynh hướng về sự thống nhất, cũng như chúng ta, với
tính cách hướng đến sự xác định những nguyên lý thống
nhất của sự vật, luôn luôn đi tới một quan điểm hợp
nhất và trật tự về vũ trụ. Cả hai nền văn hóa đôi khi
bị rơi vào cùng những lầm lẫn trong việc thâu hóa sự việc
mới này : quá đơn giản hóa đến mức không dùng được,
trộn lẫn những yếu tố khác biệt thay vì hội nhập chúng
vào một hệ thống thống nhất, tư biện trí thức không khơi
mở được sức sống mới, và sự gắn bó giáo điều vào
một cách giải thích hơn mọi thứ khác.
Trong
những thời kỳ chuyển biến như vậy, những con người có
khuynh hướng thực tiễn lưu ý trước tiên đến sự đánh
giá những hệ thống tư tưởng khác nhau để xác định “sự
thực hành chân chánh”. Milarepa xuất hiện trong lúc một số
hành giả cũng dấn thân như vậy. Một số theo đuổi sự
tìm kiếm trong những nhóm lớn hoặc nhỏ của các tu viện,
trong khi số khác, như Milarepa lang thang núi đồng theo kiểu
sống sannyasin của Ấn Độ – tóc dài, xa cách xã hội, không
nhà cửa, tài sản, khất thực trên những đường làng và
thiền định trong những chốn ẩn cư hẻo lánh. Đây là sự
khác biệt có ý nghĩa nhất giữa môi trường văn hóa của
Milarepa với chúng ta. Trong xứ Tây Tạng thời Milarepa cũng
như ở Ấn Độ trước đó, có sự công nhận của xã hội
và ngay cả sự kính trọng đối với việc theo đuổi giải
thoát cho chính mình. Dầu cho nó vượt khỏi quan kiến của
đa số dân chúng, có một không gian hiện hữu ngoài những
biên cương của những hình thức xã hội giành cho những ai
muốn bỏ gia đình và tài sản vì cơ may mong manh đạt đến
giác ngộ.
Dù
với sự chấp nhận của xã hội, đời sống cũng không dễ
dàng cho một thiền giả vào thời Milarepa. Có sự cạnh tranh
từ những người ăn xin đói khát khác và từ những cơ cấu
tôn giáo được thiết lập vững chắc hơn. Không luôn luôn
dễ dàng để xin một bữa ăn từ những người nông dân nghèo
đã mệt mỏi vì nhu cầu của những người xa lạ với cặp
mắt hoang dã trong làng của họ. Đối với những dân làng
này Milarepa là một kinh ngạc và thích thú thường trực. Ngài
tiêu khiển cho họ bằng những bài hát, khiển trách và phê
phán, tán tỉnh, kể những chuyện mua vui châm chọc, và khuyến
khích họ với lòng đại bi của mình. Ngài dạy họ Chánh
Pháp, và qua mọi việc đó luôn luôn chiếu sáng tính độc
nhất của nhân cách ngài, sức mạnh thẩm thấu của trí năng
ngài và sự tỏa sáng của sự chứng đắc của ngài.
Cuộc
đời của Mila và nhiều kỳ công của ngài đã được kể
lại rất hay trong tiểu sử và Một Trăm Ngàn Bài Ca. Ngài
thường giải bày chính mình và kể câu chuyện đời ngài
nhiều lần, như trong bài đầu tiên của cuốn sách này. Ngài
sinh năm 1052 trong một đô thị nhỏ của miền quê Tây Tạng.
Tên gia đình của ngài là Mila truyền từ một nội tổ được
xem là có những thần lực phù thủy, và ngài được đặt
là Thošpa Ga, Vui Vẻ Nghe. Nhờ công việc buôn bán thành công
của cha, gia đình ngài giàu có trong làng ; nhưng cái chết
của cha ngài khi Mila và em gái còn con nít, đã làm cho họ
thành kẻ không nhà. Họ còn là nạn nhân của bà cô và ông
chú, ép buộc người mẹ và hai đứa con làm việc như đầy
tớ và người lao động. Mila bỏ đi và theo lời chỉ bảo
của mẹ, đến học với một người bùa phép thông thạo
những năng lực siêu nhiên. Mila có một khuynh hướng tự nhiên
với những điều huyền bí và đã nhanh chóng sở đắc những
năng lực hủy hoại, đặc biệt là năng lực tạo ra những
trận mưa đá tàn phá. Trang bị như vậy rồi, Mila trở về
làng mình để làm thỏa mãn ước muốn báo thù của mẹ.
Ngài phạm vào việc giết hại tất cả gia đình người cô
và trốn đi. Sau đó ngài hối tiếc cho những hành động của
mình và những nghiệp quả khổng lồ của những hành động
ấy. Hiểu rằng việc làm ấy cần được sửa chữa lại
trong đời này để tránh một tái sanh rất xấu sau này, ngài
đi tìm sự dạy bảo trong Phật giáo. Vị thầy đầu tiên
của ngài thuộc về cựu phái, tức là phái Nyingma, bảo đảm
với ngài rằng hệ thống của ông sẽ đem lại những kết
quả chắc chắn và tức thời. Sau một thời gian thực hành
không kết quả, vị thầy bảo với Mila rằng mối liên hệ
nghiệp quả của ngài thì mạnh hơn với một lama khác tên
là Marpa Lotsawa, “Dịch giả họ Mar”, và gởi Mila đến tìm
gặp vị này.
Marpa
là một người lạ thường. Ông là một người chủ gia đình,
một bậc thầy Mật thừa vĩ đại, và là một dịch giả
nhiều kinh điển Phật giáo tiếng Phạn, chúng đã trở thành
một phần tiêu chuẩn của đại tạng kinh Tây Tạng. Ông đã
sống sót sau vài chuyến đi khó khăn và nguy hiểm đến Ấn
Độ trong đó nhiều bạn đồng hành đã chết. Ở Ấn Độ,
vị thầy chính của ông là Naropa, và thầy của Naropa là Tilopa,
vị này đã nhận những giáo pháp từ đạo sư bổn nguyên
của họ là Phật Vajradhara, đức Phật nguyên sơ của dòng
phái Kagyu. Trở về Tây Tạng, Marpa dịch những kinh sách đã
học được ở Ấn Độ và trao truyền những giáo phái cho
những đệ tử.
Trong
dạy dỗ, ngài Marpa biểu lộ một nhân cách cứng rắn và
đe dọa trên bản chất ấm áp và từ bi của mình. Phương
cách làm việc này đối với các đệ tử tỏ ra đặc biệt
thích hợp cho Mila-repa, người có nhiều yếu tố tiêu cực
và những chướng ngại về nghiệp lớn lao cần được tẩy
trừ. Marpa bắt Milarepa chịu vài năm thử thách làm nản lòng
trước khi trực tiếp chỉ dạy. Sau sự tịnh hóa và lòng
thiết tha được kích thích dữ dội như vậy, Mila hoàn toàn
hiến mình cho việc thực hành những giáo pháp này, mới được
chuyển từ Ấn Độ qua trồng trên đất Tây Tạng. Ngài đã
thành công, hoặc người Tây Tạng đã tin như thế, và đạt
đến mục đích của mình là xác chứng bằng kinh nghiệm hệ
thống giải thoát của Phật giáo, để lại trên lối đi của
mình những thế hệ hành giả thành tựu và rất nhiều chỉ
dạy bằng bài ca.
Khi
Mila đã từ giã Marpa và sống tự mình, ngài đã theo đuổi
sự thực hành liên tục, hầu hết là ở trong những động
nơi núi non hẻo lánh của vùng tây nam Tây Tạng và tây Nepal.
Sự thực hành khổ hạnh của ngài suốt năm chỉ mặc một
chiếc áo vải khiến ngài có tên là “repa”, thêm vào với
tên gia đình là “Milarepa”. Thỉnh thoảng ngài viếng thăm
một làng hay chỗ cắm lều của những người chăn gia súc
để xin thức ăn, và đổi lại ngài hát những bài ca chỉ
dạy ứng khẩu, một tục lệ đã có trong thời của ngài.
Sự việc đôi khi khó khăn, nhưng Mila luôn luôn biểu lộ một
sự can đảm không thể khuất phục được trong khi đối mặt
với những cản ngại cho thực hành và những hoàn cảnh đối
nghịch. Rồi tiếng đồn về ngài lan truyền trong dân chúng,
và người ta tin ngài là một siddha thành tựu.
Danh
tiếng không làm vui lòng ngài, và ngài không dễ gặp được.
Người ta có thể nghĩ ngài là một thiền giả quan tâm đến
lợi lạc riêng đến nỗi mất mọi lưu ý đến những tương
quan con người và nhìn sự tiếp xúc xã hội như là rắc rối
không cần thiết. Mila đã ghi nhận những cảm giác như vậy
trong những bài ca của mình, và hình như ngài luôn luôn từ
chối những người muốn trở thành đệ tử và vật cúng
dường của họ ; nhưng đây đúng là một nghịch lý trong
nhiều nghịch lý của nhân cách độc đáo của ngài – những
nghịch lý ngài đã dùng rất thiện xảo trong việc giáo hóa
dân chúng. Mila có một cảm thức khôi hài châm biếm nghiêng
về sự chế giễu và tuyệt đối bộc trực và thẳng thắn
với người khác. Nhưng không phải ngài không có phương pháp,
trên bề mặt thì khác với cách của Marpa, nhưng phán đoán
từ con số những đệ tử thành tựu, có khi còn hiệu quả
hơn. Ngài có một số lớn đệ tử so với một người cố
gắng tránh gặp gỡ con người như vậy. Họ bị lôi kéo về
phía ngài, như những vệ tinh không cưỡng chống lại sức
hút bất khả kháng của một hành tinh lớn : những người
cô độc, những học giả, những đệ tử của các vị thầy
khác. Và còn vô số nông dân và chủ gia đình mà ước mong
siêu thoát được làm bùng cháy lên khi gặp gỡ thiền giả
vĩ đại này.
Để
hiểu biết Milarepa, hãy cân sức nặng những lời nói so với
những hành động của ngài ; chính trong những trái nghịch
và bổ sung của chúng mà sự đối xử khéo léo của nhân
cách Milarepa và những mối tương quan được mang ra ánh sáng.
Hệ thống
Phật giáo về Giải Thoát
Định
nghĩa chính xác một hệ thống căn bản của thực hành Phật
giáo là một điều bất khả vì số đông trường phái và
kiểu cách cả ở Ấn Độ lẫn Tây Tạng. Tuy nhiên, có thể
hình thành một bức tranh tổng quát của hệ thống Phật giáo
Đại thừa như Milarepa đã giảng giải trong nhiều bài ca và
câu chuyện của ngài. Biết rằng sự giải thích và nhấn
mạnh của ngài thay đổi theo thính chúng, chúng ta có thể
xây dựng lại một bản văn ngắn về “những giai đoạn
của con đường” trong đó những yếu tố căn bản của các
Thừa Tiểu, Đại và Mật được đặt vào phối cảnh trong
một hệ thống nhất quán và hiệu quả. Điều này cho thấy
rằng ngay trong giai đoạn sơ thời ở Tây Tạng đã có một
khuynh hướng hội nhập ba thừa và những trường phái khác
nhau của Phật giáo Ấn Độ vào một hệ thống thống nhất.
Những đoạn trích ở sau là từ “Thiền định đầu tiên
của Mila” và “Sự kiêu hãnh Đại Ấn của Rechungpa”, cả
hai đều lấy từ đại hợp tuyển Những Câu Chuyện và Bài
Ca từ Truyền Thống Khẩu Truyền của Jetsušn Milarepa, từ
đây mà mọi chất liệu trong cuốn sách này được rút ra.
Bước
đầu tiên là hiểu được sự rỗi rãnh và cơ hội may mắn
cho giải thoát mà cuộc đời làm người có thể mang lại
:
Thân
thể máu thịt mong manh được phú bẩm với một tâm thức
chủ quan có từ vòng xích mười hai duyên sanh – vô minh và
vân vân. Nó là chiếc thuyền lớn của rảnh rỗi và cơ hội
cho những ai được phú bẩm phước đức và lòng khát khao
giải thoát. Tuy nhiên, với người xấu họ sẽ dùng nó để
chất chồng thêm tội lỗi thì nó là một người dẫn đường
đi đến những cõi thấp kém. Nó đứng giữa biên giới của
phát triển và thoái hóa. Tôi đã chợt hiểu tình thế quyết
định này, nó có thể dẫn đến sự tốt đẹp lâu dài hay
hư hỏng lâu dài.
Mila
giải thích thân phận tổng quát của sanh tử luân hồi trong
cách này :
Chúng
sanh trong sáu loài bị mê ám bởi vô minh và bám níu vào những
hình tướng ảo huyễn đã lạc loài khắp sanh tử từ đời
vô thủy. Họ cho tính vô ngã này là một cái ngã, cái không
có ta là một cái ta, và cứ thế mà trôi dạt trong biển cả
khổ đau của sanh tử qua sự bám níu say mê vào những dấu
vết hằn in của nghiệp xấu.
Mỗi
hành động, mỗi kinh nghiệm đều để dấu vết của chúng
in vào tâm thức chúng ta theo hình thức những “hạt giống”
cho sự tái hồi những kinh nghiệm ấy. Sự in dấu ban sơ là
sự in dấu của vô minh, nó sanh ra thế giới quan sai lầm về
hiện hữu của cái ngã trong con người và tự tánh trong sự
vật như chúng xuất hiện với người bình thường. Trong dòng
chảy của cảm giác bản năng sai lầm này về thực chất
kinh nghiệm của chúng ta, những phiền não thích, ghét... bắt
đầu vận hành trò chơi của chúng.
Bây
giờ giải thích việc làm bên trong của điều ấy : chúng
sanh lang thang trong sanh tử do vì sự hoạt động của mười
hai móc xích nhân quả của duyên sanh. Trước tiên, vô minh
– có nghĩa là “không biết”, “không hiểu”, “không
thấu hiểu” (tình trạng thật sự của sự vật trong kinh
nghiệm của chúng ta) – cung cấp điều kiện cho hoạt động
tổng hợp (của những yếu tố của đời sống sanh tử).
Tiến trình này tiếp nối cho đến những khổ cảnh không
tránh được của sanh, lão, bệnh, tử lập đi lập lại.
Chuỗi
xích duyên sanh này là tiến trình do đó chúng sanh sanh đi sanh
lại trong hoàn cảnh sanh tử với sáu loại sống : địa ngục,
ngạ quỷ, súc sanh, người, thiên và a tu la. Tình trạng và
hoàn cảnh của đời sống tái sanh của chúng sanh được xác
định bởi những phản ứng (nghiệp) của chúng đối với
những kinh nghiệm trong các đời trước.
Phần
đông chúng sanh tái sanh vào cảnh giới thấp (như địa ngục,
ngạ quỷ hay súc sanh) qua sức mạnh của hành động xấu.
Những tình trạng thấp kém ấy thì khốn khổ, và ngay cả
đời sống trong ba cảnh giới cao hơn cũng có bản chất là
khổ.
Phương
cách để sửa chữa hậu quả này là hiểu biết ngay từ lúc
bắt đầu sự khó có được nhàn rỗi và cơ hội (của cuộc
đời được làm người) – rằng sự rảnh rỗi và cơ hội
dù chỉ có thể tìm được một lần trong cả trăm lần sanh
ra thì cũng vô thường và rằng thời gian chết thì không chắc
chắn. Bạn phải nghĩ đến sự kiện không thể nào biết
được mình sẽ sanh chỗ nào sau khi chết, và bởi vì bạn
bị sức mạnh của nghiệp đẩy đi không thể cưỡng, bạn
phải xem xét mối tương quan nhân quả của hành động.
Như
thế theo Mila, bước đầu tiên là phải có một hiểu biết
tận gốc tình trạng sanh tử và những nguyên nhân của nó,
tham thiền về khổ, chết và vô thường để đẩy mạnh sự
thôi thúc giải thoát thành một nỗ lực mạnh mẽ và hiểu
rằng sự hiện hữu hiện thời trong thân phận con người
là cơ hội khả dĩ tốt nhất để lật đổ sự áp bức của
vô minh và thành tựu giải thoát.
Được
thúc đẩy bởi những hiểu biết này, bấy giờ người ta
đi vào cánh cửa của thực hành thực sự đạo Phật :
Để
được che chở khỏi sự tái sanh cõi thấp
Do
sức mạnh của những hạnh nghiệp xấu xa,
Lama
và Tam Bảo là nơi quy y duy nhất.
Trong
mọi phái Phật giáo, người sơ cơ quy y Tam Bảo, gồm Phật,
bậc có thể hướng dẫn người khác qua sự tự giải thoát
khỏi sanh tử của mình, Pháp (giáo lý của ngài), và Tăng
(cộng đồng những người thực hành Pháp). Sự quy y, nương
tựa này không nhất thiết phải bao gồm một chối bỏ những
theo đuổi thế gian mà là đặt chúng trong phối cảnh hài
hòa với những tác nhân hướng đạo hiệu quả đi đến giải
thoát này. Bởi vì ban đầu Tam Bảo không thể là một hiện
diện sống động đối với chúng ta, vị lama (guru) chính là
sống thực của Tam Bảo. Như thế ở Tây Tạng vị lama được
đặt quan trọng hàng đầu hơn cả chư Phật, bởi vì chính
qua vị này mà chúng ta mới sẽ gặp được chư Phật. Mila
gọi sự hiểu biết về cam kết với một lama này là “chìa
khóa đầu tiên tối hệ trọng”.
Sau
đó, cần thiết phải dựa trên một nền tảng được lập
nên bởi những lời nguyện tự giải thoát mình, với một
thúc dục thoát khỏi sanh tử được thúc đẩy bởi tư duy
về cái chết, vô thường, nhân quả của hành động, và sự
khó tìm ra lại được sự rảnh rỗi và cơ hội (của kiếp
sống làm người).
Sự
cam kết với giải thoát cá nhân (pratimoksa) để chỉ những
thệ nguyện của Tiểu thừa, nó được dùng như yếu tố
hướng dẫn cho phép đạt đến Niết Bàn, sự giải thoát
cho mình khỏi khổ đau. Từ đó mà có danh từ “Tiểu thừa”
– người chỉ có thể chuyên chở chính mình. Cần phải mở
rộng động lực này hơn nữa. Đại thừa bao trùm tất cả
chúng sanh trong tầm nhìn của nó, bởi vì thật ra, mọi đời
sống đều liên hệ chặt chẽ với nhau không thể tách lìa,
và cuộc chiến đấu để giác ngộ phải được theo đuổi
vì tất cả mọi người. Mila giải thích điều này như sau
:
Tôi
hiểu rằng định hướng như vậy đến sự an vui của riêng
mình tạo nên Tiểu thừa, và Đại thừa bao gồm sự hồi
hướng mọi hoạt động của mình cho lợi lạc của những
người khác với lòng từ bi nhắm đến giác ngộ trong ước
muốn giải thoát mọi chúng sanh khỏi sanh tử.
Sự
nhấn mạnh này vào tâm nhắm đến giác ngộ (tâm Bồ đề)
phân biệt Đại thừa và Tiểu thừa. Thiết yếu phải nhờ
vào sự thực hành Đại thừa, để cho trí huệ soi thấu mà
nhờ nó cuối cùng chúng ta sẽ thấy tình trạng chân thật
trống rỗng của mọi sự, được cân bằng với từ bi của
tâm hướng đến giác ngộ, để tựu thành sự tự do hoàn
hảo, không riêng biệt, khỏi sanh tử, tức là giác ngộ. Ngay
trong Mật thừa, nó là sự tinh lọc trong phương pháp nhưng
căn bản vẫn đồng với Đại thừa trong triết lý, thì tâm
hướng đến giác ngộ là một tiền đề cần thiết cho sự
thực hành. Từ Sanskrit của cái này, là tâm Bồ đề, có thể
được định nghĩa như là tình trạng của tâm trong đó mọi
hoạt động đều được tiến hành một cách tự nhiên vì
lợi lạc cho tất cả. Chính từ một khao khát giải thoát
cho chính mình mà người ta có khả năng hướng dẫn cho những
người khác. Ngược lại, tâm Bồ đề tự nó không trực
tiếp tạo ra giải thoát, vì trừ phi được tôi luyện bởi
trí huệ, còn không nó chỉ ràng buộc hành giả chặt thêm
vào sanh tử.
Những
người đi một con đường làm phát sanh tâm hướng đến giác
ngộ này qua những phương pháp mật thừa hay không phải mật
thừa được gọi là những bồ tát, bodhisattva hay “những
chiến sĩ cho giác ngộ” (Tiếng Sanskrit sattva nghĩa là “chúng
sanh”, nhưng cũng có nghĩa thứ hai là anh hùng hay can đảm,
và được dịch ra như vậy trong tiếng Tây Tạng). Mila tóm
tắt theo cách này :
Nhận
thức được sanh tử như một tù ngục, hiểu rằng mọi chúng
sanh lạc lõng trong đó không ai khác hơn là cha mẹ chúng ta,
những người đã cho chúng ta sự sanh ra đời suốt vô thủy
kiếp. Với tình thương và bi mẫn đối với họ đang lạc
lõng trong sanh tử luân hồi, làm phát khởi tâm nhắm đến
giác ngộ tối thượng vì sự giải thoát cho họ.
Rồi
cỡi lên những ngọn sóng lớn của sự thực hành nhắm đến
giác ngộ : ba sự thực hành nền tảng của con đường, bốn
phương tiện xã hội (bốn nhiếp pháp), và sáu cái siêu việt,
như thế tích tập hai kho tàng và tịnh hóa hai chướng ngại.
Đoạn
này tổng kết những thực hành chính yếu của Đại thừa.
Ba thực hành nền tảng là giới nghĩa là thực hành về thái
độ đối xử, định và huệ nghĩa là những thực hành về
tâm thức. Bốn phương tiện xã hội – bố thí, tương giao
thích đáng, tham dự vào sự phát triển của người khác,
và phụng sự như là một gương mẫu cho người khác – là
những thực hành được hướng chủ yếu đến sự lợi lạc
của người khác. Sáu cái siêu việt – bố thí, giữ giới,
nhẫn nhục, tinh tấn, định và trí huệ – được thực hành
chủ yếu cho sự phát triển riêng mình, mặc dầu dĩ nhiên
trong Đại thừa không có sự quan tâm cho riêng mình.
Những
thực hành này có một hiệu quả đôi. Thứ nhất, chúng làm
tăng thêm hai kho thần lực của mình – kho công đức đặt
nền móng trên sự ứng xử đạo đức và cử hành nghi lễ,
và kho trí huệ đặt nền móng trên sự khảo sát tình trạng
của sanh tử và sự sửa chữa nó, từ những tin tức lượm
lặt thông hiểu đầu tiên đến trí huệ siêu việt, siêu
thế, vượt khỏi lời nói và tư tưởng. Thứ hai, chúng tiêu
trừ hai thứ chướng ngại – phiền não chướng ngăn ngại
sự thông tỏ Niết Bàn, và sở tri chướng, chướng ngại
về đối tượng, nó che đậy thực tại của sự vật, và
như thế ngăn ngại toàn giác của Phật tánh viên mãn.
Mila
giải thích sáu siêu việt, đặc biệt là định và trí huệ,
phải được phối hợp như thế nào trong một thực hành có
hệ thống của con đường :
Bố
thí, giữ giới và nhẫn nhục là những phương tiện để
tích tập kho công đức. Định và huệ là những phương tiện
để tích tập kho hiểu biết. Hãy nỗ lực thêm nữa cả thảy
chúng. Cái hiểu biết cao nhất là tâm của Phật. Người nào
muốn đạt được nó cần áp dụng những phương pháp khác
nhau này.
Sự
chú tâm đặc biệt là dùng để phát triển định và huệ.
Thiền định căn bản có thể chia thành sự tập trung chuyên
chú, hay làm bình lặng tâm thức, qua sự tập trung nhất tâm
và tiến trình phân tích của trí huệ phát sanh qua nội quán
siêu việt. Sự an định này, tiếng Sanskrit gọi là samatha,
được gọi thế vì do tập trung nhất tâm mà hoạt động
của tâm thức đứng lặng. Khi những tác động của tâm thức
biến đổi, tâm thức đảm nhận những cách thức vận hành
siêu bền khác nhau. Tám “cách thức khác nhau” này được
gọi là cấp độ định (dhyana) và tương tự nhau trong vũ
trụ luận về tâm thức của cả Phật giáo và Ấn giáo. Toàn
bộ những cấp độ định ấy đều nằm trong sanh tử, dầu
đa số có bản chất tinh lọc hơn ý thức bình thường, và
là phạm vi của thiền định truyền thống. Bằng cách thực
hành những trạng thái này, mọi thiền giả có được những
thần lực và hỷ lạc.
Bởi
vì lạc thú của tâm thức và thần lực siêu nhiên do chúng
mang lại, những cấp độ định có thể được cho là một
con đường đi đến giải thoát, nhưng không phải vậy. Phần
nào, chúng chỉ là những căn cứ vững vàng để từ đó tâm
thức siêu xuất vượt qua đến sự đối mặt trực tiếp
với tánh Không qua đó trí huệ mới có thể hiển lộ. Bởi
vì chúng phát triển và yên tĩnh hơn hoạt động tâm thức
bình thường, chúng giống như cái bóng che gió bằng thủy
tinh của ngọn đèn dầu, làm ổn cố ngọn lửa nhỏ của
trí
huệ khỏi những ngọn gió của tác động phiền não quấy
nhiễu.
Trí
huệ được phát triển bằng sự thực hành nội quán, một
tiến trình khảo sát và phân tích của tri giác chúng ta, một
sự thúc đẩy của trí năng đến những giới hạn chót của
chúng cho đến khi tia chớp của kinh nghiệm trực tiếp về
thực tại xảy ra. Đây là kinh nghiệm về vô ngã của con
người và về tánh Không, hay vô tự tánh trong sự vật. Chỉ
có trạng thái thiền định mới có thể tẩy sạch những
dấu vết của kinh nghiệm sai lầm làm nảy sinh những trạng
thái phiền não và những ảo tưởng về thực tại. Như thế
thực hành quán chiếu vượt quá sự thực hành định chỉ,
cái này chỉ có thể đàn áp những hình thức hoạt động
của những trạng thái phiền não của tâm thức.
Thiền
giả phải đi qua năm con đường đến giác ngộ. Tiến trình
tích tập hai kho công đức và trí huệ là con đường Tích
Tập, và sự áp dụng trong tham thiền hai kho này vào tri kiến
trực tiếp tánh Không gọi là con đường Áp Dụng. Tri kiến
trực tiếp tánh Không chính là con đường Thấy, và sự phát
triển và áp dụng lập đi lập lại cái tri kiến trực tiếp
ấy để tẩy sạch hoạt động ám ảnh của những sự in
dấu vết được gọi là con đường Thiền Định. Sự trừ
sạch mọi dấu vết của hai thứ chướng ngại là con đường
Cứu Cánh, hay con đường vượt khỏi sự thực hành, tương
đương với Phật tánh trọn vẹn hay Phật quả. Mila tóm tắt
:
Tóm
lại, nền tảng là niềm tin, người trợ giúp là nỗ lực,
cái đối trị là sự thu thập (đức hạnh) và sám hối (tội
lỗi), nguyên nhân trực tiếp là sự phối hợp của trí huệ
và phương tiện (phương diện hoạt động của tâm hướng
đến giác ngộ), nguyên nhân phụ trợ là sự thực hành con
đường tích tập và con đường áp dụng. Khi con đường thấy
nhờ vậy được đạt đến, đó là kinh nghiệm trực tiếp
của trí huệ quán chiếu.
Với
sự đạt đến con đường thấy, người chiến sĩ Bồ tát
đứng trên cấp bậc thứ nhất của mười địa bồ tát,
và sau đó lần lượt vượt qua để đến cấp bậc thứ mười
một, cấp bậc của giác ngộ.
Dòng phái
Kagyu của sự thực hành Phật giáo
Hệ
thống thực hành của Milarepa, được biết có tên là Kagyu
hay “Dòng phái của Lời Nói” được truyền từ nhân vật
siêu sử Vajradhara đến guru Tilopa, vị này dạy lại cho Naropa.
Marpa, vị lama của Milarepa, nhận những chỉ dạy này từ Naropa,
dịch những bản văn của các vị trước và thiết lập chúng
ở Tây Tạng. Milarepa có hai truyền nhân chính và nhiều đệ
tử thành tựu khác tiếp tục truyền thống Kagyu trong một
số dòng biến thể khác. Những lama về sau đưa vào tính cách
con người riêng của họ, đến nỗi những thực hành Kagyu
ngày nay không thể được xem là đồng nhất với kiểu thức
riêng của Mila. Tuy nhiên chúng cũng giữ lại sự giống nhau
nhiều. Chúng ta sẽ tìm cách tạo dựng lại bức tranh hệ
thống của Milarepa từ lời giảng dạy của ngài trong Những
Câu Chuyện và Bài Ca từ Truyền Thống Khẩu Truyền của Đại
Thiền Giả Milarepa.
Mật
thừa (Tantra)
Những
thực hành chủ yếu là những tantra. Mật thừa về triết
lý thì đồng nhất với Đại thừa nhưng khác biệt lớn lao
trong những kỹ thuật hiện thực của thực hành. Bởi vì
nó tương đương với Đại thừa trong mục đích nhưng nhiều
hiệu quả trong thực hành, Mila nói : “Để rời bỏ con đường
thấp (của Tiểu thừa) và (thực sự) đi vào con đường của
Đại thừa, người ta phải đi vào con đường Kim Cương thừa
vô thượng (anuttaratantra).(1)
Mọi
yếu tố của Đại thừa đều hiện diện trong Mật thừa.
Năm con đường và mười địa bồ tát được cô đọng trong
hai giai đoạn : phát sanh và thành tựu. Trong giai đoạn phát
sanh mở rộng, trước tiên thiền giả tự tịnh hóa bằng
guru yoga và phát tâm Bồ đề. Rồi những dòng khí, kinh mạch
và trung tâm (prana, nadi, cakra) của hệ thống tâm sinh lý Mật
thừa được phát triển và sự làm chủ những vận hành của
chúng được tìm thấy qua những thực tập thân tâm của con
đường phương tiện, phương pháp. Những hóa thần bổn tôn
của Mật thừa, những nhân cách hóa nam và nữ của những
tiến trình tâm linh như heruka và dakini, được “tạo ra”
qua sự thực hành quán tưởng cho đến khi thực tại của
chúng làm mờ đi thực tại của thế giới hình tướng bề
ngoài. Sự tạo ra này dẫn thiền giả gặp gỡ những tyến
trình hiện thân trong mỗi hóa thần và chuyển hóa môi trường
chung quanh nó thành cảnh giới của hóa thần ấy. Đặc biệt,
thiền giả tạo thành một tương quan với một hóa thần riêng
biệt, gọi là “bổn tôn” (Skt. istadevata ; TT. yidam) qua những
thực hành và quán tưởng hòa hợp với hóa thần ấy. Khi
thiền giả có thể quán tưởng hóa thần bổn tôn riêng của
mình đến lúc mà sự quán tưởng hình như có đời sống
của chính nó, và khi người ấy có thể xem thấy môi trường
chung quanh là thần thiêng, bấy giờ nó thực hành sự “kiêu
hãnh thiêng liêng” của sự đồng hóa trực tiếp thân tâm
mình với thân tâm của hóa thần bổn tôn.
Khi
thực tại của thế giới hiện tượng bị che mờ bởi cường
độ của của sự quán tưởng này, bấy giờ thiền giả đi
vào giai đoạn thành tựu trong đó bản chất như huyễn hay
tánh Không của sự quán tưởng của thiền giả có thể được
chứng ngộ, và cùng với nó là tánh Không của thế giới
hiện tượng bình thường. Điều này do sự kiện là thế
giới trong bản chất là một “quán tưởng” huyễn hóa phát
sanh từ bám níu say mê vào những thiên kiến thâm căn cố
đế về bản chất của sự vật.
Chứng
ngộ tánh Không không chỉ là kết quả duy nhất trong giai đoạn
thành tựu, vì do giai đoạn phát sanh trước đó, thiền giả
có được khá đủ những năng lực và phương tiện. Đặc
biệt, vào cực điểm của giai đoạn thành tựu, nó đã phát
triển ba thân, hay những cách thức hiện hữu của một vị
Phật. Pháp thân (dhar-makaya) là hiện thân của sự chứng ngộ
rằng mọi hình tướng – những tư tưởng và hiện tượng
– thì vô tự tánh. Báo thân (sambho-gakaya) là những phương
tiện nhờ đó vị ấy truyền thông với những hành giả đã
tiến cao trong thiền định của họ. Hóa thân (nirmanakaya) xuất
hiện trong thế giới như một thân thể vật chất bình thường
; nhưng thật ra thân vật chất này không do sức mạnh của
những hành động và trạng thái phiền não quá khứ tạo thành,
mà hơn nữa là do sức mạnh của ý muốn và nguyện vọng
trước kia cho lợi lạc của chúng sanh (pranidhana). Cả hai thân
sau gọi là sắc thân ; và là sự thống nhất của cả ba thân
này gọi là thân tinh túy.
Guru
và Quán đảnh
Trong
thực hành Mật thừa, sự liên hệ với một guru (TT. lama)
đã chứng đắc là đặc biệt quan trọng. Chính ngài là người
hướng dẫn chúng ta trong con đường chân chính và là điểm
then chốt trong việc mở tâm thức chúng ta với thực tại
của chính chúng ta và của thế giới chúng ta.
Lama
linh thiêng là hiện thân của tất cả chư Phật.
Lời
ngài diễn nói cái không thể nói.
Tâm
ngài là ánh sáng mặt trời chiếu khắp của phương tiện
và trí huệ.
Người
nào thấu rõ rằng mọi hành động
Của
thân, ngữ, tâm của một lama (chân thật) –
Trồng
trọt, lấy cắp, ngay cả giết hại – đều là công đức,
Người
ấy thấy chúng đặc biệt như những hành vi của một vị
Phật,
Là
đệ tử tốt nhất để thực hành con đường thậm thâm.
Nhưng
không phải mọi lama là một vị thầy chân thật và mọi học
trò là pháp khí xứng đáng. Câu trên chỉ áp dụng cho những
đệ tử Mật thừa cao cấp trong một liên hệ trường tồn
với một guru. Ngay cả một lama cao cấp và một đệ tử giỏi
có thể thấy mối tương quan của họ là không hữu ích nhiều
vì những nguyên tố trong sự cấu thành cá nhân của họ.
Mối tương quan phải cung cấp những hoàn cảnh cho sự phân
tích ban đầu những hành động và động lực của đệ tử
và có thể khơi dẫn những phát giác tinh vi và xuyên thấu
trong tiến trình phát triển.
Vị
lama cũng phải có thể thực hiện những nghi thức quán đảnh
một cách hiệu quả để mở cho người đệ tử bước vào
thực hành Mật thừa thành công. Như Milarepa giải thích, “quán
đảnh” nghĩa là “trao quyền có thể làm”. Quán đảnh
chỉ cho người sơ học một thoáng thấy về nội dung của
sự thực hành ; anh ta còn phải khéo léo trau dồi sự thực
hiện và chứng ngộ thực sự của nó. Tiến trình nhập môn
của Mila bằng bốn quán đảnh và động lực của ngài được
kể lại trong bài thứ hai của “Sáu Bài Ca Bí Mật” :
Bây
giờ tôi là Milarepa, nhưng tôi chắn chắn
Thân
thể nhàn rỗi và may mắn này sẽ được sử dụng
Hẻm
núi này của luân hồi là một vực thẳm bao la
Và
tôi sợ lối mòn chật hẹp của sanh và tử.
Khi
tôi nghĩ rằng sự lang thang trong sanh tử này
Sẽ
kéo dài cho đến lúc những sức mạnh của nhân quả lặng
dứt,
Tôi
biết đó là thời gian chấm dứt của bản ngã huyễn ảo
này.
Và
làm sao tôi có thể chịu nổi khi những chúng sanh của sáu
cõi này,
Những
người mẹ tốt của chúng ta đang bị khổ đau hành hạ ?
Như
thế tôi tìm kiếm con đường thành tựu nhanh chóng
Thân
thể này của những người chiến thắng, những người lãnh
đạo của chúng sanh.
Thứ
nhất, bằng sự trao quyền của quán đảnh cái bình,
Thân
thể bình thường của tôi được đồng hóa với thân thể
bổn tôn.
Bấy
giờ bằng quán đảnh bí mật dòng của ngữ
Những
dòng chảy trong hai kinh mạch phải và trái chảy vào kinh trung
ương.
Bằng
cách đốt lên cái lạc của quán đảnh thứ ba (của trí huệ),
Tôi
thấy người trinh nữ trần truồng của cảnh giới vô ngã,
Và
bằng sự nhận biết bốn thân được diễn tả một cách
tượng trưng
Trong
quán đảnh thứ tư (của lời), tôi đối diện sự thống
nhất của ba thân(2)
Sau
khi đi vào những cánh cổng đầu tiên, tôi thực hành hai giai
đoạn
Và
hợp nhất với hư không và tánh giác
Thân
bổn tôn được tạo ra trước đó trên con đường.
Sự
hợp nhất này với hư không và tánh giác là Vajradhara.
Vì
mục đích này hóa thân của Thích Ca Mâu Ni xuất hiện.
Đây
là sự chiến thắng đối với sanh, chết và trung ấm.
Đạt
được ba thân cho chính mình,
Tôi
không còn hy vọng hay sợ hãi về những kết quả nào khác.
Sau
quán đảnh, khi thiền giả bắt đầu thực hành hăng say, nó
phải tuân thủ những lời thệ nguyện chính và phụ của
Mật thừa cũng như những thệ nguyện trong thực hành riêng.
Mila cho vài ý niệm về những cam kết này trong bài thứ ba
của “Sáu Bài Ca Bí Mật” :
Qua
phương tiện và trí huệ của lama duy nhất của tôi
Cái
nhìn của tôi về bạn bè và những người khác được tịnh
hóa.
Tất
cả mọi chúng sanh ấy là những người mẹ của tôi –
Đui
mù, điên cuồng bởi những phiền não –
Yogi,
làm sao ngươi có thể chịu đựng ? Hãy hiến mình cho việc
phụng sự chúng sanh.
Đàn
bà chủ yếu là trí huệ,
Nguồn
của cái biết tự nhiên và thân huyễn(3)
Chớ
bao giờ xem họ là thấp kém ;
Hãy
cố gắng đặc biệt để thấy họ là Vajra Varahi(4)
Chớ
bao giờ thờ phụng hóa thần bổn tôn với thức ăn và đồ
mặc bình thường,
Như
người tầm thường thờ phụng một nhà vua.
Khi
những đồ vật thần lực được dùng theo những cách bình
thường,
Thế
cũng như đổ sữa sạch vào một bình chứa dơ bẩn.
(Ngươi
phải) giữ gìn và không bao giờ thiếu vắng
Đồ
trang hoàng bằng xương, kim cương – chuông và v.v...
Đệ
tử cũng phải cam kết giữ bí mật về bản chất của những
quán đảnh, hóa thần bổn tôn và thực hành của nó. Vì những
tantra là “tự thân bí mật”, nghĩa là nội dung thực sự
của chúng không thể lượm lặt từ những bản văn tantra
bởi một người chưa nhập môn, chúng có thể có hại cho
thực hành và sự ổn định tâm thức nếu áp dụng sai.
Tiến
trình của Thực hành : Chỉ và Quán
Sau
khi quy y, những đệ tử là pháp khí dưới sự dẫn dắt của
một lama thông thạo cần phát sanh tâm nhắm đến giác ngộ,
tích tập hai kho (công đức và trí huệ) bằng cách thực hiện
bảy hành vi tôn kính, guru yoga, cúng dường mạn đà la, cầu
nguyện... và trừ sạch ngăn chướng (của những hành động
xấu trước kia) bằng thiền định và trì tụng thần chú
Vajrasattva một trăm âm.
Tối
quan trọng là kiên trì trong mọi cái này nhiều tháng hay ngay
cả hàng năm cho đến khi những dấu hiệu của sự phát triển
xảy ra. Dù sau khi những dấu hiệu và những chỉ dẫn ấy
đã xảy ra, ngươi còn phải hoàn thành sự tập trung tự nhiên
bằng quá trình tiệm tiến của những trạng thái chứng ngộ
thật sự đặt nền trên kho công đức được tích tập trước
đó.
Hoàn
thành sự tập trung “tự nhiên” hay “không cố gắng”
không phải là một chuyện tự nhiên hay không cố gắng. Tiến
trình an định (chỉ) qua tập trung nhất tâm, tiền đề cho
thực hành có tính phân tích nhắm đến quán chiếu siêu việt,
là một công việc chính yếu và chuyên nhất. Mila giải thích
nó như sau :
(Trong
sự thực hành an định) những người sơ học hoàn thành định
tâm theo từng cấp độ, dòng tư tưởng của họ (ban đầu)
ào ạt như một thác núi, cuối cùng đến khi tâm thức ở
yên một cách tự nhiên tập chú nơi nào nó được đặt để.
Đây gọi là “sự vững chắc tâm thức”, và vì nó là nền
tảng của bốn mức độ thiền (dhyana), không có bước tiến
tới nào nếu không có nó.
Tiến
trình tiến tới qua bảy giai đoạn trước khi đạt đến cấp
độ tập trung tự nhiên. Sự tiến bộ gồm việc học hiểu
để sửa chữa những cấp độ vận hành đối chọi khác
nhau của tâm thức – đặc biệt là “hôn trầm” hay lờ
đờ do tâm thức quá đắm mình vào đối tượng của nó,
và “trạo cử” hay xáo động do phản ứng quá mức hay phân
tán sự chú ý khỏi đối tượng đến những sự việc khác.
Nó cũng gồm sự đàn áp sự lan man hay dòng tư tưởng bị
khuynh hướng thói quen ám ảnh phải nhận dạng phân biệt
và đặt tên cho những đối tượng của kinh nghiệm. Để
thành tựu tập trung, thiền giả phải phát triển những cái
đối trị : chánh niệm tỉnh giác, nó dùng để duy trì sự
chú ý vào đối tượng bằng cách “nhớ” trạng thái và
những lời dạy cho tập trung, và tỉnh giác phê phán, nó đánh
giá trạng thái tâm thức vào mỗi lúc và xác định tâm thức
đi lạc như thế nào.
An
định bao gồm sự dẹp yên dòng tư tưởng bằng tập trung,
trong khi tiến trình bổ túc, quán chiếu phân tích, bao gồm
sự thâm nhập vào tiến trình tư tưởng qua tu tập nhận thức
trong khi ở trong một trạng thái an định tập trung. Sự thực
hành quán chiếu nhắm đến kinh nghiệm trí huệ siêu việt
qua sự truy tìm cách thế chân thực của con người và sự
vật – tính vô ngã hay tánh Không của chúng. Nó bắt đầu
với việc học những sự kiện và lời dạy và rồi suy nghĩ
về ý nghĩa của chúng trong chi tiết và chiều sâu. Nghiên
cứu không bị Milarepa từ chối, mà cái bị bác bỏ là sự
quá quan tâm đến sách vở. Sự tu hành chân thật của nhận
thức là thiết yếu cho tiến trình quán chiếu phân tích. Mila
giải thích điều này như sau :
Thiền
định phân tích tùy thuộc vào sự khảo sát lập lại những
giả định sai lầm nằm trong học và suy nghĩ (về những giáo
lý của) một lama kinh nghiệm và thiện xảo về ý nghĩa hiển
nhiên rõ ràng của kinh điển, khi phối hợp vững chắc với
tập trung an định trước đó, được gọi là thiền định
tập chú. Trong kinh nghiệm như vậy, cái hiểu về thực trạng
(của sự vật, nghĩa là tánh Không của chúng), mục tiêu hiển
nhiên của một phân tích như vậy, được gọi là hiểu. Những
biến cố tâm thức khác nhau và những kinh nghiệm xuất hiện
xảy ra trong tâm quân bình trong cái hiểu đúng đắn như vậy
và đặt nền vững chắc trên an định được gọi là những
kinh nghiệm (phát triển). Sự giáp mặt trực tiếp mục tiêu,
trạng thái bổn nhiên được hỗ trợ bởi những kinh nghiệm
này là sự giác ngộ.
Kinh
nghiệm Siêu Việt
Bấy
giờ chứng ngộ là kinh nghiệm trực tiếp về mục tiêu của
phân tích, gọi là trạng thái bổn nhiên hay tự nhiên trong
hệ thống Kagyu. Đó là kinh nghiệm siêu việt, không thể diễn
tả của tri giác trực tiếp về tánh Không, hay là vô tự
tánh của con người (ngã) và những sự vật (pháp). Tất cả
những kinh nghiệm trực tiếp về tánh Không có ba giai đoạn
: 1) Một tiến trình chuẩn bị trong đó những yếu tố của
tập trung và phân tích được áp dụng phối hợp để sản
sanh ra sự an nhẫn, hay sẵn sàng về tâm thức, cho kinh nghiệm
; 2) trạng thái chứng ngộ siêu việt thực sự trong đó tất
cả tri giác và ý niệm bình thường về thế giới hình tướng
bên ngoài bị triệt hạ bởi tri giác về tánh Không của chúng
; 3) trạng thái sau chứng đắc trong sự “vang dội, phản
hồi” của kinh nghiệm này tiếp tục trong thế giới của
hình tướng, tháo cởi sự siết chặt của tiến trình ý niệm
của lãnh vực kinh nghiệm giác quan bề mặt. Bản thân kinh
nghiệm siêu việt trước hết là một tia chớp tức thời,
nó dần dần tỏa rộng trong thực hành khi tâm thức thiền
giả càng ngày càng kinh nghiệm và linh lợi hơn. Trạng thái
sau chứng đắc là quan trọng lớn lao và phải được phát
triển cho đến khi kinh nghiệm về tánh Không được tỏa rộng
và hợp nhất với tri giác về thế giới hiện tượng bề
ngoài, một sự thành tựu tương đương với sự đạt đến
Phật quả.
Lối
Tiếp Cận của Mật thừa
Tất
cả mọi cái ấy phù hợp với sự thực hành như trong Đại
thừa, nhưng trong hệ thống Kagyu của Milarepa, nó được tiếp
cận theo một cách Mật thừa :
Để
chứng ngộ cái thấy thanh tịnh (về tánh Không), người ta
cần những lễ nghi đúng và đầy đủ của bốn bộ quán
đảnh cử hành bởi một lama thông thạo ban cho trí huệ và
phương tiện để nhận biết nó. “Quán đảnh” nghĩa là
“trao cho khả năng” để đạt được cái thấy sâu xa ;
rồi người ta phải trau dồi nó dần dần. Như thế khi được
“trao quyền cho phép” tìm kiếm khảo sát sự vô ngã của
con người, một bản ngã cá nhân được tìm kiếm qua nhiều
thí dụ của kinh điển và lý trí luận lý. Nó không thể
lẩn trốn, và như vậy đưa đến cái hiểu biết về vô ngã
của cá nhân. Bấy giờ tâm thức phải được đặt trong một
trạng thái tập trung quân bình về sự không thể tìm thấy
một bản ngã cá nhân này, và trong trạng thái này sự thoát
khỏi những tạo tác tư tưởng xảy ra một cách tự nhiên
do sự dừng dứt của những thành kiến (về bản tánh và
đặc tánh của sự vật).
Khi
trạng thái này kéo dài nhiều ngày, tháng hay ngay cả hàng
năm mà không có ý thức về thời gian, đến nỗi người ta
phải được đem ra khỏi nó nhờ những người khác, đó là
sự khởi đầu của an định (samatha). Khi trạng thái này được
tôi luyện bởi tỉnh giác chánh niệm và tỉnh giác phê phán
đến độ nó không bị ảnh hưởng bởi hôn trầm, trạo cử,
thì sự sáng tỏ, vô tự tánh, sự tự do trong trẻo khỏi
các tạo tác tư tưởng, và sự thanh tịnh sáng ngời và trần
trụi là kinh nghiệm (phát triển) của an định. Đôi khi cái
này được hiểu là quán chiếu phân tích (vipasyana), nhưng
bởi vì quán chiếu thật sự không thể xảy ra trong một người
bình thường (chưa kinh nghiệm trực tiếp tánh Không), tôi
cảm thấy rằng quán chiếu thật sự chỉ được gặp nơi
cấp độ thứ nhất của bồ tát, khi con đường thấy đã
đạt được. Tôi cảm thấy rằng những kinh nghiệm khác trong
thực hành an định – thị kiến về những hóa thần bổn
tôn v.v... – chỉ là những dấu hiệu của thiền định và
tự chúng thì vô nghĩa.
Hơn
nữa, tôi đã thấu hiểu rằng đi trước bất kỳ kinh nghiệm
an định nào, người ta phải được thúc đẩy bởi từ và
bi và hướng dẫn bởi Bồ đề tâm nhắm đến phúc lợi của
những người khác trong bất kỳ hoạt động nào. Suốt thực
hành như vậy người ta cần thực hành bằng cái thấy thanh
tịnh mà không có đối tượng để trụ tâm. Và sau đó, sự
thực hành cần được đóng dấu bằng cái ấn của thệ nguyện
(pranidhana) bằng cách hồi hướng (tất cả những kết quả)
cho lợi lạc của những người khác.
Tôi
đã nhận thức rằng chỉ sự hiểu biết về thức ăn không
làm người đói được no, hiểu về mục tiêu tánh Không (một
cách trí thức) thì không đủ ; người ta phải trau dồi (kinh
nghiệm trực tiếp về nó lập đi lập lại). Cũng thế, sự
trau dồi quán chiếu phân tích đòi hỏi cố gắng rộng rãi
gom chứa công đức và trừ khử các lỗi lầm trong trạng
thái sau chứng đắc.
Tóm
lại, bây giờ tôi hiểu rằng sự bình thản của tánh Không
không thể diễn tả và quan niệm được trau dồi trong thiền
định tạo thành cái thấy của Mật thừa liên hệ với bốn
quán đảnh.
Sự
thực hành Đại Ấn của những nhà Kagyupa
Sau
khi thiền giả tu hành những cái chính yếu của an định và
có thể đạt đến ít nhất là sơ thiền, và sau khi đã làm
quen ở một mức độ nào với sự phân tích nhắm đến tri
giác trực tiếp về tánh Không, nó được hướng dẫn vào
sự thực hành chính yếu của truyền thống Kagyu, mahamudra
(đại ấn). Giống như những giáo lý Đại Toàn Thiện của
Nyingma và những thực tập phân tích của các phái Kadam và
Gelug, thực hành Đại Ấn nhắm trực tiếp đến việc phát
giác thực tại tự nhiên của thế giới hiện tượng bề
ngoài. Hệ thống được xếp vào những Tantra Yoga tối thượng,
và sự thực hành và bản văn của nó bắt nguồn từ tám
mươi bốn thành tựu giả Ấn Độ. Nó là một thí dụ của
giai đoạn thấu suốt nhất, sâu xa nhất của yoga, và sự
diễn tả của nó bằng lời thì nghịch lý và ẩn dụ một
cách đặc trưng. Những giáo huấn then chốt được truyền
miệng từ thầy qua trò, và quán đảnh thứ tư, quán đảnh
các lời nói, liên hệ trực tiếp với nó :
Được
ban cho quán đảnh thứ tư và tối thượng,
Người
ta chuyên chú vào trạng thái thoát khỏi tạo tác
Nhờ
thấy biết ý nghĩa nội dung của đại ấn.
Nó
không phải là một thực hành “đốn”, “thình lình” như
những kinh văn của nó có vẻ như vậy. Cuộc tranh đấu để
đạt đến mục đích của nó, trạng thái tự nhiên (TT. gnas
lugs), trong đó cái tri giác tánh Không hoàn toàn hợp nhất
với tri giác của thế giới hiện tượng bề mặt, thì lâu
dài và gian khổ :
Không
chạm mặt với mục đích, trạng thái tự nhiên,
Bạn
sẽ không tìm thấy lối thoát đến giải thoát
Khỏi
những cõi cao và thấp của sanh tử.
Nếu
bạn muốn thấy mục đích thực tại,
Hãy
tẩy sạch những tội lỗi che chướng trước kia bằng thần
chú một trăm âm,
Và
tích tập hai kho bằng mạn đà la v.v...
Rồi
sau khi liên kết tâm bạn với tâm của lama
Qua
cầu nguyện khẩn thiết, mong mỏi,
Hãy
thực hành những giáo huấn từng bậc về an định
Từ
bước khởi đầu của định
Đến
những giai đoạn theo thứ bậc.
Bởi
vì trạng thái tự nhiên là gốc,
Nó
có vẻ quá dễ nhưng rất khó khăn.
Nhưng
khi sự tỉnh giác tập chú vào thực tại
Sau
phân tích bằng học hỏi và tư duy,
Đây
là một sự chứng ngộ giải thoát trọn vẹn ;
Nó
có vẻ quá khó nhọc nhưng rất dễ dàng.
Trên
sự ổn định tốt đẹp như vậy
Hãy
gom lại cam lồ của những kinh liễu nghĩa.
Rồi
qua khảo sát bằng học hỏi và tư duy
Về
ý nghĩa sâu xa đã được dạy riêng
Bởi
một lama kinh nghiệm, chứng ngộ,
Hãy
giữ lấy sự thực hành ngày nào đời sống còn kéo dài
Qua
những phối hợp của những thiền định tập trung và phân
tích.
Hãy
hợp nhất đại bi và tánh Không,
Và
với tâm nhắm đến giác ngộ vì lợi lạc của chúng sanh
Và
trí huệ suốt thông không có đối tượng để trụ,
Hãy
cỡi con ngựa của thệ nguyện cầu xin tốt đẹp.
Bằng
những sức mạnh của hiểu biết suốt thông,
Hiểu
biết về những then chốt thiền định,
Và
sự trau dồi thường trực như một dòng sông
Của
tiến trình con đường tiệm tiến ấy,
Bạn
sẽ thành tựu những dấu hiệu phát triển của con đường.
Bấy
giờ những chứng ngộ sẽ xảy ra dần dần,
Những
hình tướng quy ước được thấy như là mộng huyễn,
Duyên
sanh là những công việc bên trong của sanh tử
Và
những hình tướng huyễn ảo được thấy là không căn cứ,
không gốc rễ.
Bạn
sẽ biết rằng chúng sanh là không cách hở với chư Phật
Rằng
những danh từ “sanh tử” và “niết bàn” cũng không hiện
hữu.
Sự
thấu hiểu hiện trạng tự nhiên này –
Trạng
thái hiện thực đang là – được thông suốt.
Những
sự kiện khác nhau trong định nhất tâm
Là
những kinh nghiệm thiền định ;
Khi
chúng đưa đến giáp mặt với mục đích,
Đó
là chứng ngộ.
Trong
một chỉ dạy rất khác thường, giống như một bản văn,
từ Nhận Biết Trí Huệ Sáng Tỏ của Đại Ấn, Milarepa giải
thích rằng “đại ấn” nghĩa là ba cái : thực tại tối
hậu của sự vật, gọi là nền tảng ; sự thực hành dẫn
đến chứng ngộ nó gọi là con đường ; và trạng thái sáng
tỏ của tâm thức là kết quả.
Thứ
nhất, đại ấn như là nền tảng nghĩa là trạng thái tự
nhiên nó là hiện trạng căn bản của sự vật, chủ định
của Phật, thực tánh của chúng sanh. Nó không màu sắc hay
hình dạng, không có chu vi hay trung tâm, thoát khỏi thiên chấp,
không được kinh nghiệm như có hay không có, không huyễn,
không giải thoát, không duyên sanh, không ảnh hưởng bởi những
điều kiện. Chư Phật thông tuệ không thể làm nó thêm tốt
đẹp, chúng sanh si mê không thể làm nó thành hư xấu. Nó
không tốt thêm bởi chứng ngộ, cũng không hư đi vì vô minh.
Bởi vì cái ấy là hiện trạng căn bản (của sự vật), nền
tảng là đại ấn.
Thứ
hai, đại ấn như là con đường nghĩa là khả tính của thực
hành trên sự kiên cố của nền tảng này. Khi chú tâm, hãy
chú tâm không đối tượng. Khi định, hãy được định không
có phóng dật. Khi chuyển hướng, hãy chuyển hướng không
nắm bắt. Khi những biểu hiện xảy ra, hãy kinh nghiệm chúng
như là thực tại. Khi một giải thoát xảy ra, hãy để cho
nó xảy ra tự nhiên.
Thứ
ba, đại ấn như là kết quả nghĩa là tự do với bất kỳ
cái gì được giải thoát và bất kỳ tác nhân nào của giải
thoát, rỗng rang với hy vọng và sợ hãi. Nó vượt khỏi trí
thức, khỏi những sự kiện, thoát khỏi (tri giác về) những
tướng dạng, và siêu vượt khỏi ám ảnh của ý niệm hóa.
Như thế nó siêu thoát khỏi tư tưởng và diễn tả.
Ba
cái này – nền tảng, con đường và kết quả – là không
thể phân chia trong thực hành.
Gampopa,
vị truyền thừa trực tiếp của Milarepa, giải thích trạng
thái tự nhiên và sự thực hành dẫn đến nó chi tiết hơn
trong Định Nghĩa Con Đường Đại Ấn của ngài :
Có
năm điểm trong sự nhận ra trạng thái hiện thực. Trong đại
ấn không có nguyên nhân, nhưng niềm tin và nguyện vọng là
những nguyên nhân của đại ấn. Trong đại ấn không có những
điều kiện (duyên), nhưng lama linh thiêng là điều kiện của
đại ấn. Trong đại ấn không có phương pháp, nhưng tâm thức
không sửa sang, thi thiết là phương pháp của đại ấn. Trong
đại ấn không có con đường, nhưng tâm không phóng dật là
con đường của đại ấn. Trong đại ấn không có kết quả,
nhưng sự tự giải thoát của tâm thức vào thực tại là
kết quả của đại ấn.
Có
bốn điểm liên hệ đến tiến trình thực hành dẫn đến
thực tại :
1.
Thực hành chuẩn bị là thiền định guru yoga ba lần mỗi
ngày và mỗi đêm với đức tin, kính ngưỡng và quyết tâm.
2.
Trạng thái thiền định thực sự là tập chú rõ ràng đúng
đắn và nắm lấy (hộ trì) tâm một cách không xao lãng trong
trạng thái không sửa sang, thi thiết.
3.
Sau đó, thực tập sự mềm dẻo, khai phóng của tâm thức,
thấu hiểu rằng bất cứ cái gì xuất hiện là tự tâm mình.
4.
Kiên trì thiền định theo đường lối trong đó những kinh
nghiệm xảy ra cho đến khi sự ý niệm hóa bị cạn sạch.
Về
những đường lối trong đó những kinh nghiệm xảy ra, có
hai loại kinh nghiệm xấu và tốt. Những cái trước là mọi
kinh nghiệm xấu như hôn trầm và trạo cử, đau ốm, lo âu
và kinh hãi, bối rối v.v...(5) Hãy hiểu rằng chúng đều là
những sản phẩm của thiền định và như vậy chỉ là những
kinh nghiệm. Qua thiền định, dùng bàn đạp của sự khai triển
cái thấy đúng về thực tại, chúng sẽ chuyển thành những
kinh nghiệm tốt.
Những
kinh nghiệm tốt nằm trong kinh nghiệm về sự ổn định sơ
khởi của tâm thức, kinh nghiệm về bản tánh trống không
căn cứ trên đó, kinh nghiệm về chứng ngộ trực tiếp căn
cứ trên đó, và kinh nghiệm về sự sửa lại tính cố chấp
bám trụ (vào những thành kiến) căn cứ trên đó. Chỉ sự
sửa sai cố chấp bám trụ thì không đủ ; cần thiết phải
thiền định cho đến khi Phật tánh được đạt đến vào
lúc chấm dứt sự ý niệm hóa và những sự kiện bằng sự
tự giải thoát của tâm thức vào thực tại.
Naropa,
guru của Marpa, có tính thơ ca và gần gũi hơn với phong cách
của những thành tựu giả trong diễn tả đại ấn trong Toát
Yếu của Đại Ấn :
1.
Cái thấy đại ấn :
Tôi
sẽ nói về đại ấn :
Mọi
sự là tự tâm của mình.
Những
tri giác về những sự vật bên ngoài là ý niệm sai lầm,
Như
mộng, không có bản chất.
Bản
thân tâm thức là hoạt động của trí nhớ kết hợp
Không
có tự tánh, được truyền sức mạnh nhờ khí (prana)
Không
có tướng dạng, như không gian.
Mọi
sự đều đồng như hư không.
Cái
được gọi là đại ấn
Không
hiện hữu bởi bản chất cố hữu nào,
Như
thế thực tại của chính tâm thức
Là
bản tánh của đại ấn
2.
Thiền định đại ấn :
Trong
nó không có sửa sang hay thay đổi.
Khi
người nào kinh nghiệm cái thấy thực tại,
Toàn
thể thế giới hiện tượng bề mặt là đại ấn,
Pháp
thân toàn khắp vĩ đại.
Hãy
ở yên thảnh thơi trong sự không sửa sang tự nhiên.
An
trụ trong thiền định không có tìm kiếm
Pháp
thân không thể quan niệm ;
Thiền
định có tìm kiếm là một ý niệm sai lầm.
Cũng
như hư không và những cái thấy trong đó
Thiền
định và không thiền định không phải là hai –
Cái
nào là giải thoát hay không giải thoát ?
Như
thế ấy một thiền giả tìm ra chứng ngộ.
3.
Cư xử hạnh đại ấn :
Mọi
hành động đức hạnh và xấu xa
Đều
được giải thoát bằng sự thấu hiểu đại ấn ;
Những
trạng thái phiền não là đại trí huệ
Giúp
đỡ cho một thiền giả như một khu rừng giúp đỡ cho một
ngọn lửa.
Nơi
nào để đi và nơi nào để ở ?
Tại
sao đi vào ẩn cư để thiền định ?
Người
không chứng ngộ thực tại
Sẽ
không được giải thoát hơn là chỉ tạm thời.
Vào
lúc chết người chứng ngộ thực tại
Ở
yên không dao động trong trạng thái này ;
Không
thiền định, không sửa sai bằng đối trị,
Không
tịnh tĩnh cũng không sinh động.
4.
Đại Ấn như là kết quả :
Ở
đây hoàn toàn không có gì thực sự hiện hữu :
Những
hình tướng là pháp giới giải thoát tự nhiên,
Những
tư tưởng là đại trí huệ giải thoát tự nhiên –
Pháp
thân bất nhị và hoàn toàn bình đẳng.
Giống
như dòng chảy của một con sông hùng mạnh
Bất
cứ điều gì bạn làm đều trọn vẹn ý nghĩa.
Đây
là Phật tánh vĩnh cửu,
Đại
lạc vượt ngoài sự vươn tới của sanh tử.
Những
sự vật đều tự nhiên vô tự tánh,
Ý
niệm về chính tánh Không cũng tự nhiên thanh tịnh –
Thoát
ngoài mọi ý niệm, hoàn toàn không trụ vào đâu –
Đây
là con đường của tất cả chư Phật.
Những
thực hành phụ trợ
Dòng
Kagyu cũng có một số thực hành yoga để chuẩn bị cho và
đi chung với thực hành đại ấn, như là sáu yoga nổi tiếng
của Naropa. Loại yoga này thuộc về con đường phương tiện
và liên hệ với sự làm chủ những dòng tâm sinh lý (khí,
prana), nới lỏng những nút thắt của kinh mạch (nadi) mà khí
chảy qua đó, và hướng dẫn chúng vào một số kinh mạch
và trung tâm (luân xa, chakra) nào đó.
Cái
thứ nhất, tummo hay yoga nội nhiệt, mà Milarepa thường nói
đến. Những người thực hành nó, được gọi là “repa”,
mặc chỉ một áo dài vải mỏng dù trong mùa đông. Mila giải
thích ngắn gọn cho Rechungpa trong bài thứ năm của “Sáu Bài
Ca Bí Mật” :
Phương
tiện thực hành này là một lối tắt bí mật.
Đặc
biệt, mắt thấy Vajra Varahi(6)
Về
sau sẽ thấy ba giai đoạn tummo – thấp, trung bình và cao –
Lưỡi
lửa, đầy phúc lạc và vân vân
Như
thể từ trong mặt trời.
Những
nút thắt của những kinh mạch phải và trái được nới lỏng
thành trạng thái tự nhiên của chúng
Bằng
thần chú Vajrasattva,(7) nó đưa khí vào và ra kinh mạch trung
ương.
Con
chớ nhờ vào một chỗ dựa tâm thức nào
Khác
ngoài sự trì tụng thần chú Vajrasattva.
Cột
nối dòng sinh khí từ trái tim (trung tâm)
Vào
kinh mạch trung ương bằng yoga của khí thô và tế,
Kinh
nghiệm như một bầu trời không mây khai triển.
Hãy
làm quân bình biên độ những yếu tố trắng và đỏ(8) trong
trung tâm rốn ;
Kinh
nghiệm chứng ngộ và nhiệt-lạc bấy giờ khởi dậy trong
tâm.
Đoạn
này, dùng những thuật ngữ kỹ thuật yoga, chỉ ra tâm thức
và những khí là phụ thuộc nhau trong một tương quan gọi
là “liên hợp tâm-khí”. Mọi chứng ngộ đều tất yếu
bao gồm một biến đổi về khí, và những yoga này có mục
đích là phát triển sự kiểm soát về chúng. Hơn nữa, trạng
thái lạc có từ sự phát sanh của nhiệt tummo tự thân nó
có giá trị trong sự phát triển.
Yoga
thứ hai của Naropa, yoga thân huyễn, trực tiếp đối xử với
tri giác sai lầm về bản ngã và môi trường bằng sự thấu
hiểu cái tri giác ý niệm bình thường về thân thể thì tương
tự với ảo giác, như Mila giải thích trong bài cuối của
“Sáu Bài Ca Bí Mật” :
Tổng
quát có ba loại huyễn :
Huyễn
mê lầm về những hình tướng xuất hiện và tánh Không,
Huyễn
(được quán tưởng) của những bổn tôn do tâm tạo,
Và
huyễn ảo giác từ (sự rối loạn) của tâm và khí.
Để
hiểu những công việc của ba loại huyễn này,
Con
phải dừng dòng chảy của kinh mạch phải và trái.
Sự
dừng hơi thở bên trong và bên ngoài sẽ được tốt hơn.
Tâm
và những dòng khí bấy giờ hòa nhập vào trạng thái tịnh
quang.
Thứ
ba, yoga giấc mộng bao hàm sự tương tự của tiến trình giấc
mộng với kinh nghiệm định kiến sai lầm về bản ngã và
môi trường của nó trong ý thức bình thường :
Khi
những dấu in (trong tâm thức) của những giấc mộng ảo tưởng
được hiện hành,
Con
phải nhận thức bản tánh của những hình tướng và tánh
Không,
Nhờ
sự nhận biết về ảo tưởng của giấc mộng trong trạng
thái trống không, vô sanh
Và
con tạo ra (giấc mộng của riêng con) những lưu xuất của
những hình tướng trống không.
Con
phải thực hành những chỉ dạy cho ba sự chuyển hóa :
Chuyển
hóa tổng quát thế giới hình tướng bề ngoài thành cái thiêng
liêng,
Chuyển
hóa riêng biệt thành thân của hóa thần bổn tôn trong giấc
mộng nhờ tâm và khí,
Và
những thân lưu xuất, thiên nhãn v.v...
Ba
yoga còn lại của nhóm này – yoga tịnh quang, yoga chuyển di
(thức) và yoga bardo (trạng thái sau khi chết) – đối xử
với những kinh nghiệm của đời sống chúng ta, khi thiền
định hay sau thiền định, như là những cơ hội để có được
sự làm chủ tâm và khí và nỗ lực thực hiện sự chấm
dứt ảo tưởng huyễn hoặc.
Tính Cách
Con Người Milarepa
Như
có nói ở trước, và như những câu chuyện sẽ bày tỏ, Milarepa
là một nhân cách khác thường, hầu như lập dị. Những phát
giác của ngài về bản chất của huyễn và thực tại và
về những chìa khóa để thực hành hiệu quả luôn luôn sắc
sảo và đánh vào tâm điểm. Những câu chuyện chứng thực
cho sự khắc nghiệt, gian khổ ngài đã chịu đựng và cho
sự tự thúc đẩy thực hành tới cực điểm của ngài. Đoạn
trích từ “Sáu Bài Ca Bí Mật” sau đây là một thí dụ
rõ ràng. Nó là một thuật lại về “lời dạy tối hậu”
của Milarepa ban cho Rechungpa lúc đó :
Khi
ở trong động diệu kỳ (núi Ti Se), Jetsušn Milarepa nói với
Rechungpa, “Ông đã có những lời dạy của các Dakini tức
là những Tantra Nói Thầm Bên Tai để hoàn bị sự truyền
thừa của dòng chúng ta. Bây giờ ông phải thực hành chúng
để thành tựu những kết quả ngay trong đời này.”
Rechungpa
hỏi ngài, “Xin hát cho con một bài ca diễn tả chìa khóa
để đạt đến thành tựu (siddhi) tối thượng (giác ngộ)
trong đời này.”
Jetsušn
trả lời, “Lời dạy tối hậu của ta là đây”, và ngài
xoay lưng, bày lộ hai cái mông đầy những cục chai do những
thời kỳ ngồi thiền kéo dài. Thấy thế, Rechungpa tràn ngập
thán phục vô bờ và tôn kính những khổ hạnh trong thực
hành mà lama của mình đã trải qua. Những giọt nước mắt
trào ra và ông nghĩ với niềm tin vững chắc, “Tôi cũng phải
thực hành như thế này.”
Những Bài
Ca
Milarepa
tịnh hóa chính mình bằng việc xây
những
cái nhà cho Marpa
Về Những
Bài Ca
Toàn
bộ bản văn mà những tuyển chọn này rút ra có tên là Những
Câu Chuyện và những Bài Ca từ Truyền Thống Khẩu Truyền
của Jetsušn Milarepa, mở đầu bằng lời nói đầu này :
Ở
đây (Tây Tạng) vị thành tựu giả (siddha) vĩ đại, nổi
tiếng là Milarepa, Vua của các Thiền giả, được chở đi
trên con tàu của các thừa. Giữ gìn sự khiêm hạ, ngài thực
hành những khổ hạnh và quen sống trong những hang động như
một người đội một cái mũ. Ngài hoàn thiện sự thực hành
tập trung nhất tâm và lưu xuất hai ngàn tám trăm bài ca từ
kinh nghiệm và chứng ngộ. Nghe nói hai ngàn bài được các
dakini giữ gìn và loài người không biết đến. Tám trăm bài
khác được các thiền giả truyền tụng cho đến ngày nay
và dùng cho sự thực hành của họ.
Tám
trăm bài ca này được giữ gìn bằng cách viết ra thành ba
tác phẩm chính. Tiểu sử của Milarepa như được kể cho đệ
tử thân thiết nhất là Rechungpa được dịch ra tiếng Anh
lần đầu bởi Kazi Dawa Samdup với cái tên đề Đại Thiền
Giả Milarepa Tây Tạng (Evans-Wentz, n.x.b Oxford) và được dịch
lại bởi Lob-sang Lhalungpa với cái tên Cuộc Đời của Milarepa
(Dutton, NY, 1977 ; bản dịch tiếng Việt n.x.b Thiện Trí Thức,
2000). Bộ sưu tập lớn hơn các câu chuyện và bài ca, Một
Trăm Ngàn Bài Ca, được Garma C. C. Chang dịch và in trong nhiều
nhà xuất bản. Hai tác phẩm này chứa đựng những tài liệu
về Milarepa quen thuộc với Đông lẫn Tây. Thêm nữa, có một
hợp tuyển hiếm và ít được biết “từ truyền thống khẩu
truyền” chứa đựng, với một ít ngoại lệ, một tài liệu
hoàn toàn khác. Đây là Những Câu Chuyện và Bài Ca từ Truyền
Thống Khẩu Truyền của Jetsušn Milarepa,(9) từ đó tài liệu
cho cuốn sách này và cuốn theo sau, Hành Trình Kỳ Diệu (Lotsawa,
1986). Thêm vào, là một ít cẩm nang thực hành của Milarepa
trong Kho Tàng các Lời Dạy và những nhóm chuyện và bài ca
ở trong những bản in Tây Tạng ít được biết đến hơn.
Trong
cố gắng khám phá ra một bức tranh về nhân cách của Milarepa,
sự ca hát và phong cách chỉ dạy của ngài, tác phẩm này
là có giá trị, có lẽ hơn so với hai tác phẩm tiêu chuẩn.
Một Trăm Ngàn Bài Ca và cũng có thể tiểu sử, được viết
ra từ những chuyển biên bằng miệng ở thời trước do “Thiền
Giả Điên xứ Tsang”, Tsang Nyošn Heruka Rušs Pai rGyan. Việc
ông đưa vào một số lớn sự khéo léo văn chương của ông
vào bản viết có thể suy ra từ sự so sánh ít đoạn trong
Những Câu Chuyện và Bài Ca. Chẳng hạn, “Sự Gặp gỡ của
Mila với Phadampa Sangye” trong sách này tương đương với chương
53 của Một Trăm Ngàn Bài Ca do Chang dịch. Hai bản dịch cùng
một sự việc này cho thấy những khác biệt đáng chú ý.
Bản dịch trong sách này dài khoảng một nửa so với Một
Trăm Ngàn Bài Ca, cả phần kể chuyện lẫn phần bài ca. Ý
nghĩa hơn, phong cách thơ ít chải chuốt hơn và ít dùng những
yếu tố làm đẹp và khai triển. Giọng điệu của nó tự
nhiên hơn và nội dung nó trực tiếp hơn, nhất là khi đọc
to tiếng. Sự so sánh như vậy cho thấy nó tùy ứng hơn là
cố tình làm văn.
Chất
liệu trong Những Câu Chuyện và Bài Ca ở trong một trạng
thái nói thì dài hơn hai tác phẩm tiêu chuẩn ; như thế có
lẽ chứa đựng một số chất liệu được thêm vào trong
những cuộc nói lại giữa các thiền giả. Những đoạn loại
này có thể được phân biệt với phần chính của bài bởi
thơ ca kém, sự đề cập đến chủ đề dài dòng bất thường
và cách nói không cảm hứng, nghèo nàn của chúng. Hầu hết
không ngoại trừ, những chỗ thêm vào là những quở trách
liên quan đến hậu quả của những hành động xấu, tái sanh
trong các cõi thấp, những thống khổ của đời sống sanh
tử, và những chủ đề căn bản khác đặc biệt thích hợp
cho thính chúng không xuất gia và không có kinh nghiệm thực
hành. Giọng điệu nói về sự tra tấn ở địa ngục nhắc
chúng ta rằng những bài ca này được những thiền giả tụng
đọc, họ giữ chúng trong trí nhớ và thường làm thế để
đổi lại những đồ cúng dường lương thực từ những nông
dân và người chăn cừu của miền quê Tây Tạng và Nepal.
Khi
viết ra tài liệu chứa trong Những Câu Chuyện và Bài Ca, người
sưu tập vô danh trong trung tâm tu viện lớn Trashi Gyi ở Amdo,
Tây Tạng không chủ ý viết ra theo thể văn chương bóng bẩy.
Một số bài ca hay câu chuyện chỉ là những đoạn phác họa
; tuy nhiên những cái khác là những đoạn đặc biệt và có
thể bị bỏ khỏi Trăm Ngàn Bài Ca bởi chúng không nói đến
một sự việc nổi tiếng hay một cuộc gặp gỡ đầu tiên
với một đệ tử chính, hay có lẽ vì chúng không được
người sưu tập trước biết đến. Việc chúng là đích thực
chính thống có thể phán định từ tính chất và phong cách
của chúng, đồng thời hiểu rằng, trong truyền thống khẩu
truyền còn tiếp tục đến ngày nay, có nhiều truyền bản
có dị biệt của cùng những bài ca.
Một
tính cách có ý nghĩa của tài liệu trong Những Câu Chuyện
và Bài Ca là nó ít cố gắng thần tượng hóa nhân cách và
thái độ đối xử của Mila hơn là trong Một Trăm Ngài Bài
Ca hoặc làm cho chúng dễ đọc hơn với độc giả. Ở đây
những hành động của ngài tức thời hơn, ít lịch sự hơn,
tính khôi hài và trí huệ của ngài xuyên phá cắt đứt hơn,
và những phản ứng của ngài nghịch lý hơn. Những bất ngờ
và mâu thuẫn có ở đây – có một con người thực sự,
rất người, đàng sau những dòng chữ. Cũng có những tư cách
mới, có lẽ bởi vì chúng không bị làm biến chất bởi những
tình cảm của người chuyển đọc, chỉ ra, chẳng hạn, rằng
Mila không ít học như phần đông tin tưởng và ngài dạy sự
quan trọng của học hỏi, nghiên cứu trước khi thực hành
thiền định dũng mãnh.
Những
lời chỉ dạy tốt đẹp luôn luôn thay đổi chủ đề và
phong cách theo người nghe, và những bài ca của Mila được
hát lên cho nhiều loại thính chúng. Với những nông dân ngài
gặp qua lời nguyện khất thực của mình chỉ ở “cánh cổng
đầu tiên” mỗi ngày và với những người chăn cừu du mục,
thô ráp ngài gặp trong những cuộc lang thang, ngài hát về
sanh và chết, liên hệ nhân quả của hành động, vô thường
và hạnh kiểm trong một cách thức đơn giản và trực tiếp,
dùng những sự vật và kinh nghiệm hàng ngày làm ví dụ. Với
các đệ tử ngài hát những giáo huấn chính xác và đúng
chỗ để khai mở tâm thức họ với sự thực hành và để
dạy và sửa chữa họ. Với những đệ tử của những vị
thầy khác, những thiền giả lang thang tìm kiếm ngài để
hỏi và những học giả khao khát gặp một người thành tựu
thực sự, ngài là một đạo sư đánh giá mức độ và những
nhu cầu của một người. Với họ ngài tạo ra những bài
ca làm sững sờ với những phát lộ thấu suốt. Trong thính
chúng có những quỷ ma không phải là người, với chúng ngài
hát lên những thách thức và những cảnh cáo, và với những
dakini ngài hát sự bí mật nhất và những tỏ ngộ cá nhân.
Đôi khi ngài gặp những đạo sư có chứng đắc có thể so
sánh với nhau được. Họ trao đổi những giáo lý và những
thách thức, phép thuật và những phát giác, vinh danh cho những
chứng đắc tâm linh của tâm thức thiền định đầy năng
lực của họ.
Hầu
hết những đoạn được hát lên để trả lời một câu hỏi,
một thách thức, hay một đòi hỏi phải hát để có bữa
xúp, Milarepa đáp ứng không chỉ đối với những câu hỏi
mà với những động cơ đàng sau chúng và bối cảnh trong
đó chúng được hỏi. Những bài ca không thay đổi lúc mở
đầu với một dòng hay một câu cầu nguyện đến Marpa, lama
của Mila, cầu xin sự hướng dẫn và những ban phước. Đối
với Mila và các người theo ngài đó là vị có thần lực
làm phát triển và gây cảm hứng cho sự thực hành của họ.
Thỉnh thoảng Mila “cầu khấn van xin” chư Phật và chư lama
nhân danh những người nghe để hướng dẫn họ vào Pháp hay
giúp đỡ họ trong thực hành. Khi ban cho một giáo lý, ngài
thường bao bọc nó với một chuỗi thúc dục cổ vũ súc tích
gọi là những lời khuyên dạy. Hầu hết những bài ca đóng
lại với một sự hồi hướng hay ban phước, chia xẻ công
đức của sự thực hành của ngài với tất cả chúng sanh
và đặc biệt để hồi trả cho những thí chủ đã yêu cầu
bài ca với một sự cúng dường. Về nội dung và hình thức
của những bài ca được dịch trong cuốn sách này có những
giới thiệu ngắn ở đầu mỗi đoạn.
Hãy
để chương đầu này như một giới thiệu về chính Milarepa.
Ở đây ngài đang ở trong tình huống thường xuyên đi khất
thực từ một số dân làng nóng nảy và tình huống đó cũng
dễ gây nổi giận : ngài sắp bỏ đi mà không ban cho một
hồi hướng công đức như thông lệ thì sự phê bình của
một nhà sư thúc đẩy ngài phải giải thích cách hồi hướng
theo lối thiền đặc biệt của ngài và một số lịch sử
riêng tư. Kỳ lạ vì người đi xin hùng biện khác thường
này, họ hỏi danh tánh ngài. Mila trả lời với một phác lược
cuộc đời trước kia của ngài, sự tu hành, những kinh nghiệm,
những chứng ngộ và rồi dạy cho họ về thân phận sanh tử
và cho những khuyên nhủ cho sự thực hành của họ. Câu chuyện
này cũng kể lại sự gặp gỡ với Wangchuk Dorje, người đã
trở thành một trong những đệ tử thường xuyên của Mila.
1
Milarepa kể
câu chuyện của mình
Một
lần nọ, Milarepa bậc vĩ đại của những thiền giả, sau
khi ở suốt mùa đông trong núi tuyết Lachi, đầu mùa hè đến
khất thực trong vùng lân cận Nyekha xứ Tsang. Ngài đi vào
làng và nói với vài người ở đó : “Chúng tôi những thiền
giả có lời nguyện khất thực ở “cửa nhà đầu tiên”.
Người sùng đạo nào trong các bạn cho chúng tôi một ít thức
ăn.”
Một
thí chủ trả lời : “Tôi sẽ cho thầy một bát thịt cá.”
Nhưng Mila nói với người ấy : “Tôi không ăn thịt của
những sinh vật bị sát hại.”
“Thầy
không ăn thịt của sinh vật bị giết ư ! Thật lạ lùng !
Tôi không có thức ăn nào khác.” Người ấy bỏ đi, nhưng
Mila vẫn đứng yên. Cuối cùng thí chủ trở lại với một
bát đồ thừa có nước sữa chua, nói : “Tốt lắm, thầy
có thể ăn thứ này.”
Mila
ăn và khi sắp sửa đi, một nhà sư có mặt ở đó nói : “Thầy
không biết cả một sự hồi hướng hay cầu xin sao ? Thầy
không thể tìm được ngay cả một chiếc áo khoác sao ? Thầy
từ đâu đến ? Thầy sắp đi đâu ? Nếu thầy biết thế
nào, hãy hát cho chúng tôi một bài ca.”
Rồi
Jetsušn hát bài ca này :
Lama
chân thật quý báu
Viên
ngọc như ý mà chỉ nhớ đến là đã đủ,
Con
cầu xin ngài bằng lòng sùng mộ nhiệt nồng
Hãy
ban phước cho đứa con sùng tín của ngài.
Tôi
đã đến từ những sườn núi Lachi
Sừng
sững trong miền Nyanang.
Giờ
đây tôi không có chỗ đến nhất định.
Tôi
chưa từng góp nhặt chút tài sản nào ;
Như
một người ăn xin tôi nhận vật gì đến.
Khi
được cho thức ăn tôi làm như sau :
Trong
ngôi nhà này là nền tảng
Thân
huyễn này được tạo ra từ bốn đại,
Tôi
chuyển hóa các đại, khí, kinh mạch và hạt
Thành
hóa thần bổn tôn dựa trên các thứ ấy.
Tôi
biến thành cam lồ bất cứ thứ gì tôi ăn ;
Và
từ miệng của mỗi bổn tôn
Một
cái lưỡi trống rỗng bằng ánh sáng vươn dài.(10)
Như
một phản ảnh trong gương –
Có
xuất hiện mà không có chất thể –
Bổn
tôn dâng cúng cho những bổn tôn.
Thực
tại vui đùa trong môi t