Mục
Lục
Lời dịch giả. Lời tựa của Ngài Lai Quả. 1. Phát tâm học đạo 2. Nguyện trụ Tòng Lâm 3. Lập hạnh quyết định 4. Đánh hét khó chịu 5. Quy củ khó học 6. Thân tâm bất an 7. Thiệt thòi khó chịu 8. Tập khí khó trừ 9. Nhẫn khổ 10. Lục căn khó nhiếp 11. Thỉnh cầu khai thị 12. Chán trụ Tòng Lâm 13. Thích ở núi sâu 14. Nhẫn nại phiền toái 15. Chẳng trọng tu huệ 16. Chẳng muốn thường trụ 17. Dễ phạm quy củ 18. Hỷ xả tất cả 19. Phát tâm dũng mãnh 20. Thân tâm quen thuộc 21. Chẳng tin tham thiền 22. Nghi Pháp 23. Nghi người 24. Toan tính thối lui 25. Biết sám hối 26. Biết hổ thẹn 27. Phát khởi lòng tin 28. Nghe được lãnh hội 29. Thấy có tương ưng 30. Tự nguyện dụng công 31. Quên mệt nhọc 32. Nghi tình chẳng đắc lực 33. Thân tâm bực bội 34. Tâm thối lui bỗng nổi dậy 35. Nhận sự khuyến thỉnh của đại chúng 36. Vọng tâm tạm nghỉ 37. Ngoài thân tạm quên 38. Cảm thấy thân khinh an 39. Trụ chỗ khô tịnh 40. Bày đặc bậy bạ 41. Ham thích thơ kệ 42. Chẳng nguyện tiến sâu 43. Cái dụng đề khởi 44. Công năng trừ vọng 45. Công năng trừ ngủ 46. Lạc đường tự tại 47. Vọng tự thừa đương 48. Giới luật sai trái 49. Tâm pháp đều tịch 50. Được chút ít cho là đủ 51. Sanh tâm dụng 52. Hữu tâm dụng 53. Tán tâm dụng 54. Nắm giử dụng 55. Đắc lực dụng 56. Phóng tâm dụng 57. Thân thiết dụng 58. Gián đoạn dụng 59. Thô tâm dụng 60. Miên mật dụng 61. Chẳng gián đoạn dụng 62. Tế tâm dụng 63. Lìa pháp dụng 64. Vô tâm dụng 65. Chân tâm dụng 66. Chuyển thân dụng 67. Đồng thể đại bi 68. Thay chúng chịu khổ 69. Đại từ tạo vui 70. Xót thương chúng khổ 71. Học hạnh Bồ Tát 72. Bố thí 73. Trì giới 74. Nhẫn nhục 75. Tinh tấn 76. Thiền định 77. Trí huệ 78. Hỷ xả 79. Ái ngữ 80. Lợi hành 81. Đồng sự 82. Lập chí hướng thượng 83. Trừ biếng nhác 84. Cung kính 85. Cúng dường 86. Tán thán 87. Giấu điều ác, khoe điều thiện 88. Trừ phỉ báng 89. Dứt tranh cải 90. Ba điều thường không đủ 91. Khuyến trụ Tòng Lâm 92. Phát tâm làm việc 93. Thích làm thanh chúng 94. Tình nguyện làm bếp 95. Biết nhân biết quả 96. Phát thệ nguyện lớn 97. Sự lý dụng 98. Hóa đạo dụng 99. Tha thọ dụng 100. Tự thọ dụng 101. Thiền pháp 102. Tu tạp hạnh 103. Cầu thần thông 104. Hiếu thắng 105. Dụng công phu ngoại đạo 106. Hiểu lầm 107 Công phu chẳng bị thế gian chuyển 108 Công phu chẳng bị thân chuyển 109 Công phu chẳng bị tâm chuyển 110 Công phu chẳng bị hôn trầm chuyển 111 Làm chủ sanh tử 112 Ðầu sào trăm thước 113 Trên bờ vực thẳm buông tay 114 Tuyệt hậu tái tô 115 Qua sơ quan 116 Phá trùng quan 117 Thấu lao quan 118 Buông Không xuống 119 Khai tòng lâm 120 Chánh pháp trụ lâu |
Lai Quả Thiền Sư Việt Dịch: Tỳ Kheo Thích Duy Lực Từ Ân Thiền Ðường Hoa Kỳ Xuất Bản 1992
Sau khi liễu ngộ như trẻ sơ sanh thân thể trần truồng không có một vật, đói không có ăn, lạnh không có mặc, lục căn dù mà chưq dùng được nên cần phải có đồ vật để nuôi thân, có người để săn sóc. Cũng như kinh nói : "Lý thì đốn ngộ, sự phải tiệm tu", cho nên cần phải trải qua sự bảo nhiệm để dứt tập khí. Sự bảo nhiệm này cũng giống như việc săn sóc nuôi dưỡng thân thể trẻ sơ sanh vậy. Cho nên người có đạo như ngu như ngốc. Tại sao như thế? Nói ra một lời ắt từ trong tự tánh lưu xuất, làm ra một SỰ ắt cùng với LÝ không trái. Cảnh duyên thuận nghịch đều từ quyền (phương tiện tạm thời) mà đạt biến (tùy cơ ứng vật). Hình thái mừng giận cũng từ vuông vào tròn. Mặc dù tâm rộng rãi nhưng cũng không ra ngoài pháp lý. Hằng ngày việc dù nhiều mà đều theo đúng quy củ. Trì Phật giới thì làm cho cái dụng của tự tánh khắp cùng vô biên thế giới. Giữ oai nghi thì làm cho Phật pháp được quảng bà khắp nơi. Hễ niệm thì niệm Phật tánh, Hễ trì chú thì trì tâm chú. Bất cứ pháp môn nào cũng đều quy về tự tánh, tất cả Phật sự đều nhập vào quy củ, khiến cho sự lý nhất như, tánh tướng bất nhị. Điều thiết
yếu là chẳng nên chấp LÝ bỏ SỰ, Thiền Tông quở là "kẻ
vác bản". Cũng chẳng nên chấp DỤNG mà quên THỂ, bị mắng
là "kẻ lỗ mãng". Thiên về tánh thì chỉ chứng Nhị thừa,
thiên về tường lại thành phàm phu. Cần phải tánh tướng
song hành, sự lý vô ngại, mới được gọi là pháp thân trang
nghiêm vậy.
Tự mình đã phát minh đại sự liễu sanh thoát tử, cái lớn của việc này cả thế gian không gì so bằng. Người đời chẳng những chẳng biết việc nàymà còn chẳng biết việc này là việc của chình mình. Vì vậy, ngàn Phật ra đời cũng vì một việc này, muôn Tổ hiện thân cũng vì một việc này. Muốn làmn
việc này, thâm sơn cùng cốc, chùn tư, am thất đều chẳng
thể làm được chỉ có Tòng Lâm mới có thể đảm nhiệm
viễc này vì Tòng Lâm mới có thể tiếp đại cơ, hiển đại
dụng, chuyên hoằng đốn giáo, chĩ đạo thiền giả dụng
công phu đề phòng lạc lối. Nếu không ai chỉ đạo, đi bậy,
chẳng phải lầm nam là bắc thì cũng cho tây là đông, cho
nên muốn lên núi, trước phải hỏi người xuống núi. Pháp
tắc của Tòng Lâm rất là chánh đại, rất hợp với người
tu hành, có đạo để hành, có người để hỏi. Kẻ biếng
nhác thì dùng quy củ nghiêm khắc cấm chế ngay. Kẻ muốn
thối lui thì cảnh sách khuyến khích an ủi. Mặc áo ăn cơm
có người lo dùm chẳng cần quan tâm, chỉ cần lo việc tham
thiền của tự mình. Phải biết, làm việc của chính mình,
trừ Tòng Lâm của Thiền tông ra thì người đủ căn khí lớn
mới có thể tùy chỗ mà tu được.
THA là chỉ tất cả loài hữu tình trong mười phương pháp giới. Tho dụng là thọ dụng pháp tham thiền. Muốn thọ dụng ắt phải rõ tự tánh Than ôi! Cái mê do bất giác làm thay đầu đổi mặt khiến cho Diệu Thọ (pháp danh của Ngài Lai Quả) tôi đâm ngực dậm chân đau lòng khóc to, nguyện đem giọt nước mắt này rưới khắp thân tâm của chúng sanh trong lục đạo hóa thành nước cam lồ khử mê. Tôi thường nghĩ : Pháp của Thiền Tông là một đại pháp hiếm có, một tâm pháp rất quý. Nếu tự bỏ đi tu pháp khác, thì cũng như là người toàn thân đều là của báu lại bỏ của mình mà cầu báu của người khác. Thiền Tông tham thiền tức là tìm của báu nơi chính mình, một mai tìm được, thành Phật còn có dư thừa. Cho nên một pháp này, người đạt đạo bảo tôi chẳng thành Phật thì có thể được, chứ bảo tôi chẳng hoằng đạo này thì chẳng được. Sao vậy? Kẻ nghiệp nhẹ thì phí thời giờ ít. Kẻ nghiệp nặng cần phải tu thời giờ nhiều, cuối cùng là con ba ba trong lu chẳng thể chạy mất. Người hóa đạo cần phải đem cái sở hữu của mình chia cho các loài hữu tình. Tự mình đã được thọ dụng cũng phải khiến tất cả chúng sanh đồng được thọ dụng, cho nên gọi là tha thọ dụng. Người phương không, tất cả vi trần số đồng hư không, trong mười phương thế giới có tất cả chúng sanh, tất cả các địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh muốn thọ nhận sự giáo hóa của pháp tôi, trước tiên ăn thịt thân tôi. Nếu có một chúng sanh chẳng thọ sự giáo hóa của pháp tôi, chẳng ăn thịt của thân tôi, tôi thệ chẳng thành Phật. Cho nên ở trong nhân địa hỷ xả tất cả, chỉ biết có chúng sanh, chẳng biết có mình. Tự nguyện dắt người mù qua cầu, thế người què mang đồ vật, thay người điếc truyền ngôn ngữ, nói chuyện với người câm. Thây kinh Phật và giấy chữ bỏ bậy dười đất, lượm đem cất và quý trọng, thấy sách vở thế gian rơi rớt giữa đường, lượm cất và kính trọng, đừng cho đó là những việc nhỏ mọn phiền phức, công thu dù nhỏ, tích nhỏ thành to. Người xưa nói : "Ngộ đại thừa, hành tiểu thừa. Mỗi bước tiểu thừa tức Đại thừa". Đến nay thấy người trong một thế giới thì dùng thân người trong nhiều thế giới để cúng dường. thấy người của một hư không, dùng thân người của hai hư không cúng dường. người ăn thịt tôi sẽ tin pháp tôi. Người ăn thịt tôi là nuôi dưỡng chúng sanh của tôi. Xả bỏ thịt nhiều chừng nào thì độ chúng sanh rộng chừng nấy khiến cho hư-không-giới tân, chúng sanh giới không độ tha viên tròn tự độ cũng xong gọi là tự thọ dụng vậy. Đức Phật có nói rằng : "Theo quán nhập vào chỗ quyền diệu chỉ thú sâu xa". Cho nên được ý phải quên lời. Lịch Đại Tổ Sư truyền ý chỉ Thiền tông, Như Lai tiếp căn khí bậc đến. Nay gặp thời mạt pháp như là rụng mùa thu, ngay lúc này phải có cáchnào làm cho Phật pháp hưng thạnh như cá lội dưới ao xuân. Tuy Phật giáo có theo thời gian mà thay đổi, nhưng tự tâm xưa nay không khác. Mặc cho tội lỗi bị phiêu bạt như cánh hoa trôi cũng chỉ là diễn sự, phù trầm. Thấy trăng lặn trăng mọc cũng đều là việc qua lại mà thôi. Nghĩ vật trong thân tợ như vô hình, động niệm thì khiến thân tạo tác. Xem ngoại cảnh kia như dương diệm (sự huyễn hóa không thật), nhắm mắt khoanh tay quy về ẩn tàng. Lửa giận bốc cháy trời Sơ thiền thành than. Sông ái vọt ra đất Nhị thiền sẽ chìm lĩm. Than ôi! Thích
ở tha hương, địa ngục, thiên đường như ở khách sạn,
lại quên quê nhà. Súc sanh, ngạ quỷ mà khen là bạn lành.
Đi khắp lục đạo không sót một chỗ, ở trong tứ sanh không
có lúc dừng. Vì vậy kiếp này thọ thân này, kiếp khác thọ
thân khác, liền quên thân hình của địa ngục, thay đầu
đổi mặt khó nhớ cái tướng của ngạ quỷ. Mở mắt nhìn
ra, buồn thấy sanh linh đầy đất. Chỉ một loài trâu thôi,
thảm trạng cũng khó nói hết, sừng dài trên đầu mà quên
hình dạng xấu xí, đuôi ở sau đít thích xua đuổi muỗi
mòng, bị đánh một roi, hai mắt rơi lệ, bước thiếu nữa
bước, thân bị đòn đau. Đừng nói biến thành trâu là khổ,
chưa bằng cái khổ địa ngục đâu! Ôi! Đau đớn thay! Khổ
vui muôn ngàn sai khác toàn do một niệm, phàm thánh khác xa
đều tại chính mình. Đến hôm nay trụ quả tu nhân từ thân
phàm mà huân nghiệp thánh. Đến hôm nay trụ quả tu nhân,
tù thân phàm mà huân nghiệp thánh. Mang nhân tu quả, ngộ tâm
địa mà quét cảnh duyên.
Diệu Thọ tôi trước tác sanh này là việc cần kíp trước mắt, tỏ bày tình thật chỉ lối cho người tu hành. Đầu tiên nêu GIẢI BÁNG khử bỏ gai gốc bên đường. Kế nói PHÙ TÔNG chỉ con đường về bằng phẳng. Người đi đường chỉ cầu đến nhà thì đâu ngại đường xa. Người xem sách này chỉ cầu chánh đạo thì đâu sợ phiền phức. Môn GIẢI BÁNG chia Tông, Giáo, Luật, Tịnh (l), PHÙ TÔNG THUYẾT (2) định một trăm quy điều. Chẳng nên thấy mênh mông mà vội thối, xem toàn quyển ngại nhiều, nếu chấp như vậy thì đâu bằng nữa trang kinh trong Đại Tạng. Thử hỏi : Từ Nam kinh đến Bác kinh, một con đường có cái phiền của hành trình, cái rộng của trạm nghỉ, cái nghiêm của đò ải, cái nặng của lương thực. Chẳng ngại gì đem việc đi đường này cẩn thận viết thànhmột quyển sách, thì số câu văn, số pho quyển so với THUYẾT này chắc chắn là còn nhiều hơn. Buồn thay! Từ hạng phàm phu của chúng ta nói đến địa vị Thánh nhân, trong đó sự thật trãi qua, đối với bậc thượng căn im lặng vô ngôn có thể ngộ đạo; đối với hàng trung căn phải nhờ lời nói, hành rồi mới ngộ đạo; đối với bọn hạ căn cần phải chỉ đạo nhiều cách, nói tánh nói tướng, nói đốn nói tiệm, lâu lắm mới ngộ đạo. Như lên núi lấy của báu, người căn khí lớn ngay tại chỗ chuyển thân lấy liền; người căn khí bậc hạ một phen đi lên, lại đi lên, lên mãi mới lấy được. Trong số đó, cũng có người đi tay không trở về, có người tìm chẳng thấy của báu, có người bỏ mạng vì cầu của báu. Căn cơ không phài một thứ, THUYẾT này hợp với mọi căn cơ thượng, trung, hạ. Thường thường, người không tin sách này, bệnh ở chỗ là sợ ngôn cú nhiều, đường đi rắc rối, tự nhận mình là kẻ độn căn. Tại sao vậy ? Vì pháp môn khác, một câu Phật hiệu, hoặc một câu chú, trì trọn đời xong việc, không có gì thêm nữa. Tại sai Thiền tông nói quá tỷ mỹ phiền toái mà hạnh thì thô tạp. Chẳng tin thì được, còn tin thì bực bội cau mày. Buồn thay! Xin mời người
đọc hãy thì nghiệm một phen xem! Người chưa dụng công cảm
thấy dường như văn nhiều. Nếu người tiến sâu e trách
là nghĩa cạn, chẳng những trách cạn mà còn cho là quá sơ
lược. Tôi trước tác sách này chẳng tránh khỏi sự chê
trách, song tôi chẳng nệ quê mùa đem hết chỗ thấy của
tôi để báo ân Phật. Nhưng ân Phật, dùng hư không vi trần,
một vi trần là một Lai Quả tan xương nát thịt cũng khó
báo hết. Chỉ có học Phật pháp, đem pháp làm lợi chúng
sanh, dẫu ngườinghiệp dày, người khổ sâu, tôi ắt chịu
cực theo chúng khổ, khổ đến ngoài mười pháp giới, quày
đầu tìm một mảy may bùn đất bất khả đắc, thật là
quy về vô sở đắc vậy.
(Tổ Sư Thiền) Điều quan trọng nhất của người tham thiền là trước tiên phải rõ tông chỉ của Thiền, kế đó hiểu cách tham. Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, chư Phật và chúng sanh chỉ cách một cái vọng tưởng, hữu tâm thì thành chúng sanh, ly tâm thì thành chư Phật. Thiền này chính là ở sau tâm chư Phật, trước tâm chúng sanh. Chư Phật và chúng sanh chỉ cách một chữ Thiền, Thiền ở giữa Phật và chúng sanh. Cửa ải Thiền này chưa mở thì là chúng-sanh-giới, mười phương hữu tình vô tình bị một cửa ải Thiền này nhốt chặt. Cửa ải Thiền này bị đập vỡ thì thành cảnh giới chư Phật, mười phương chư Phật, Bồ Tát, Tổ Sư một vai chung gánh, một thể thừa đương. Cho nên Thiền Tông lấy câu thoại đầu làm viên ngói gõ cửa, đời này chẳng mở, đời này gõ, đời sau chẳng mở, đời sau gõ, đời đời kiếp kiếp chẳng làm việc thế gian, chẳng hành pháp thứ hai, chuyên môn tử thủ cái cửa ải Thiền này. Gõ tới một ngày nào cửa ải mở (ngộ) thì ông già Thích Ca và Long Thiên Hộ Pháp đều vui mừng khôn xiết, nhớ lại thuở trước rơi lệ khóc to, buồn vui lẫn lộn. Lại, Thiền là một tờ giấy mỏng giữa định và loạn. Thiền là một mảy bụi giữa mê và ngộ. Thiền là một điểm nhỏ giữa Phật và chúng sanh. Thiền là một miếng giẻ lau giữa sạch và nhơ. Thiền là một thanh kiếm báu giữa Phật và ma. Thiền là chiếc thuyền Từ trong biển khổ. Thiền là thuốc hay cho người bệnh. Thiền là cây đuốc sáng trong con đường tối tăm. Thiền là pháp lớn để liễu thoát sanh tử. Thiền đoạt lấy cái ổ Niết Bàn. Thiền là con đường lớn thành Phật. Thiền là cái búa bén đập phá hư không. Thiền là tảng đá nặng đè chìm đại địa. Thiền diệt tham sân si. Thiền quét kiến chấp nhân ngã. Thiền sanh mười phương Phật. Thiền nói pháp nhiều như vi trần. Thiền nuôi dưỡng thanh-tịnh-Tăng. Phải biết,
tam thế chư Phật, chư đại Bồ Tát, lịch đại Tổ Sư, Thiện
tri thức xưa nay đều từ Thiền này sanh. Người mê Thiền
này thì thành chúng sanh. Người ngộ Thiền này thì thành chư
Phật. Lại, Tổ Đông Độ Tây Thiên trụ trong Thiền này.
Mười phương đại địa trụ trong Thiền này. Mười phương
pháp giới trụ trong Thiền này. Mười phương hư không trụ
trong Thiền này. Sum la vạn tượng trụ trong Thiền này. Sự
lớn lao của Thiền bao trùm hư không. Thiền là nhà ở của
Phật, Tổ và chúng sanh. Người nghe được một chữ Thiền,
thấy một chữ Thiền, nói một chữ Thiền đều gieo trồng
hạt giống Phật. Cho nên kinh nói : "Xưng một tiếng Nam Mô
Phật đều đã thành Phật đạo" tức là nghĩa này vậy.
Người tham thiền giữ chắc một môn làm công phu. Chuyên tham thiền này hết một đời còn chưa dễ gì làm xong, đâu nên nay làm việc này mai làm việc khác. Phải như con chuột gặm quan tài, chỉ gặm một chỗ, hôm nay cũng gặm, ngày mai cũng gặm, đời này cũng gặm, đời sau cũng gặm, chịu khó lâu dài, một mai gặm lũng, được thọ dụng như ăn đồ ngon, như vậy mới là tay tài giỏi. Nếu gặm bên đông chẳng lũng, liền qua bên tây, gặm dưới đáy chẳng lũng, lại hướng lên trên nóc gặm, dẫu cho ông gặm ba mươi năm vẫn là một cái quan tài không lũng mà chỉ bị nát vỏ mà thôi. Ngay lúc gặm nếu tâm tư phiền não thì dẫu cho nhịn đói chịu khát, bò tới mà gặm, giỏng đít mà gặm, gặm đến chóng mặt trọn chẳng thể lũng, sau mà ngu si khổ não như thế! Như nghe người nói lạy Phật hay, liền lạy Phật, nghe người nói niệm Phật hay, liền niệm Phật, nghe người nói xem kinh tốt, liền xem kinh, nghe người nói tham thiền tốt, liền tham thiền, nghe người nói đi hành hương tốt, liền đi hành hương, rốt cuộc là bị chuyển theo lời của người, chỉ làm uổng phí thời giờ, hỗn loạn pháp môn. Như thế nào mới chẳng uổng phí thời giờ, chẳng hỗn loạn pháp môn ? Thử hỏi :"Lạy Phật là ai?" biết chăng? "Xem kinh là ai?", "Niệm Phật là ai?", "Tham thiền là ai?", "Đi hành hương là ai ?" biết chăng? Ngộ được người lạy Phật, ngộ được người xem kinh, ngộ được người niệm Phật, ngộ được người tham thiền, ngộ được người hành hương, chỗ hành như thế chuyển được tất cả, chẳng bị tất cả chuyển. Đây gọi là chẳng uổng phí thời giờ, cũng gọi là chẳng hỗn loạn pháp môn. Nếu tu tất cả tạp hạnh, cần phải ngộ tâm tu, chẳng nên mê tâm tu. Ngộ tâm tu tạp hạnh thành lục độ vạn hạnh. Mê tâm tu tạp hạnh thành luân hồi sanh tử. Nếu ngộ tâm tu thì chẳng cần hỏi. Nếu mê tâm tu thì phải mau mau chạy vào cửa Thiền Tông đem tâm tu ngộ, rồi mới có thể tu tạp hạnh. Có người hỏi : "Thế nào là mê tâm? Thế nào là ngộ tâm?" Đáp : "Hễ
hữu tâm đều gọi là mê tâm. Tâm vốn vô sanh, mới gọi
là ngộ tâm. Người tu hành cần phải xét kỹ!
Người tham thiền tham thẳng chẳng nghỉ, tham thông tự liễu ngộ. Ngay lúc tham, chẳng được có tâm chờ ngộ, chẳng được cầu huyền diệu, chẳng được chê pháp chẳng linh, chẳng được sanh phiền não, chẳng được sanh hoan hỷ, chẳng được sanh sợ hãi, chẳng được cầu thần thông. Thường thường, người học pháp cầu thần thông tính học thần thông rồi có thể bảo hộ quốc gia, gìn giữ phú quý, có thể dạo chơi phương khác, có thể báo oán cừu, có thể được trường thọ, có thể làm phát đạt, có thể mưu sự nghiệp, có thể khỏi bị người hiếp đáp. Như thế đều bị gọi là kiến giải của kẻ ngu. Sao vậy? Quỷ thần ở khắp nơi đều có, hễ cầu thì có thể được thần thông, song rốt cuộc chẳng phải của mình có. Như đời Đường có ngài Tam Tạng Đại Nhĩ đến Kinh, tự xưng có thần thông. Nam Dương Huệ Trung Quốc sư lúc đó ở tại triều, liền hỏi Tam Tạng Đại Nhĩ :
Rồi Quốc sư nhập Na-già định, hỏi Tam Tạng. Tam Tạng câm miệng, không đáp được. Quốc sư quở rằng :
Thử hỏi : Người đã có thần thông còn bị trục xuất, chúng ta là người tu mù luyện đui, cầu thần thông đã nuốt bao nhiêu khổ, đã tốn bao nhiêu tiền còn khó có lúc đến tay. Dẫu cho thần thông đến tay còn chẳng bảo đãm được sự lâu dài của nó. Nghĩ như thế rồi, hãy mau mau tham thiền, đem cái công phu cùng vốn liếng cầu thần thông để cầu tham thiền thì tương lại rất có triển vọng. Lại nói, người khai đại ngộ đáng lẽ phải có thần thông, thần thông lộ bên ngoài không có, thần thông thầm bên trong cũng phải có. Nếu thật không có thần thông mà nói khai đại ngộ thì người ta không tin. Thử hỏi : Thế gian lấy pháp lợi sanh, chưa nghe nói lấy thần thông lợi sanh. La Hán có thần thông còn chẳng trụ thế. Bồ Tát lấy pháp lợi sanh thường trụ thế gian. Lại, Chư Tổ đời trước đa số có thần thông, chỉ tự chẳng nói tôi có thần thông. Người Đại thừa cho thần thông là đồ bán ế đương cơ. Người Tiều
thừa thì cho thần thông là kỳ đặc, hy hữu. Thật là chưa
biết chỗ trọng yếu của cơ giáo vậy.
Mgười tham thiền chỉ lo chân thật tham thiền, nỗ lực công phu. Lúc đánh mất công phu, lấy đầu đập vào cột, hoặc đập đầu xuống đất, nước mắt tuôn dầm dề trên má, mới có tư cách tham thiền. Nếu chẳng ở trên bổn tham gấp lo dụng công phu mà chuyển ở ngoài công phu khoe tài, tôi cao, ông thấp, tôi làm được, ông không làm được. Như vậy, thật là uổng phí thời giờ, Như tọa hương, người ngồi hôn trầm, ta ngồi tỉnh táo. Người bảo hương cúi đầu, ta bảo hương ngay thẳng. Người đứng dậm chân, ta đứng thẳng như tường vách. Người ngủ duỗi chân, ta nằm kiết tường. Người suốt ngày nói chuyện, ta suốt ngày không mở miệng. Người đi đường quay đầu, ta đi đường oai nghi. Người phạm quy củ bị phạt, ta giữ quy củ tu hành. người gặp người chào hỏi, ta gặp người đụng phải mà không biết (có nghi tình). Người thỉnh khai thị nhiều, ta chưa từng thỉnh một lần. Người ngủ mê, ta chẳng nằm. Mỗi ngày người ăn bốn bữa, ta ăn ba bữa. Người thích ra ngoài làm ruộng, ta thích tịnh tọa. Người này nhân cách tuy cường thắng, song chẳng phải tư cách của đạo nhân. Tâm hiếu thắng này, có người ở trên đạo tâm muốn thanh cao, có người ở trên nhân ngã dành hơn thua, cũng chẳng hoàn toàn là phải, cũng chẳng hoàn toàn là quấy. Nếu hoàn toàn là phải thì không có cơ hội khai ngộ. Nếu hoàn toàn là quấy thì tuy hiếu thắng cũng là hiếu thắng ở trong đạo tràng, ở trong chúng tu hành. Cho nên chỉ cho "hiếu tham thiền" chứ không cho hiếu thắng, mới là người chân thật hiếu thắng. Phải biết,
lớn nhất trên trời, không ai bằng Thiên Vương, Thiên Vương
lớn nhất cũng không qua khỏi cái chết. Điều lớn nhất
của con người là sống. Điều lớn nhất của sống chẳng
qua được cái chết. Dẫu cho người cường thắng nhất, anh
hùng nhất của cõi trời cõi người rốt cuộc chẳng lớn
hơn sanh tử. Đã biết sự trọng đại của hai chữ SANH TỬ
siêu cõi người cõi trời, nếu ở tại cõi trời cõi người
giành cướng giành thắng thì chẳng phải bậc trượng phu
xuất cách. Cần phải trụ Tòng Lâm chuyên lo việc lớn sanh
tử. Một mai việc lớn này làm xong, thật là thế gian không
thể sánh được. Việc sanh tử này, dù ông tu pháp môn nào,
muốn liễu sanh tử chỉ là gián tiếp, chỉ có một pháp tham
thiền hợp cơ bậc nhất, rất là trực tiếp. Pháp tham thiền
không có đại dụng nào khác hơn là minh tâm kiến tánh, liễu
sanh tử, thành Phật Tổ, độ chúng sanh đó là chánh dụng
của tham thiền. Bỏ pháp tham thiền này ra, đều là pháp môn
hàng nhì.
Người tham thiền cần phải quyết tử giữ chặt pháp thiền. Người chẳng biết tha, chẳng chịu tham, chẳng thể tham, chẳng nguyện tham, cũng chẳng bao giờ rời bổn tham. Thế nào là bổn tham? Bổn tham, người đời có cái tham này, tăng sĩ có cái tham này, người nguyện tham có cái tham này, người chẳng nguyện tham có cái tham này. Thật vì mọi người vốn saün cái tham này (nghi tình) nên mỗi người chưa từng rời cái tham này. Người không tham cũng có bổn tham, người tham cũng có bổn thamn, chưa ngộ là bổn tham, ngộ rồi cũng bổn tham, sơ tham là bổn tham, lão tham cũng là bổn tham, đều do mọi người vốn đủ tâm này, vốn đủ tánh này, cho nên người hành đạo thiền chính là có đủ bổn tham. Tâm của mỗi người như vậy, nghĩa của bổn tham cũng như vậy, đây gọi là cội gốc của sự tham thiền. Lúc gần
đây, có người thu thiền biết rõ tham thiền là pháp môn
bậc thượng, là hơn hết các thừa, tự cảm thấy không đủ
sức tham thiền, trở lại dụng công phu ngoại đạo của lúc
trước, thật đáng thương xót! Tự bỏ Đại thừa, lượm
Tiểu thừa, bỏ nhân địa Phật, lấy nhân địa thế gian.
Người tham thiền tại sao có cái lầm này? Do người tham thiền
chẳng biết cội gốc của tham thiền, cho nên chẳng dám dụng
công sâu học Phật, vì càng học càng không. Hôm nay thấy
được cái không này lại sanh hoảng sợ, vì nhớ lại lúc
ở tục gia thường nghe người ta nói : Xuất gia là vào cửa
không mà chẳng biết nghĩa không là gì? Ta hôm nay nếu dụng
công phu theo thế tục cảm thấy dường như có sức mạnh,
lại còn cảm thấy có mùi vị nữa. Nếu dụng công tham thiền,
cái này cũng quét sạch, cái kia cũng quăng hết, khiến cho
sắc thân một chút cũng chẳng trụ, vọng tâm một chút cũng
chẳng dính mới thật là vào cửa không, chẳng bằng dùng
công phu ngoại đạo của mình trước kia mới thực là đúng
đắn. người ấy nghĩ như vậy bỏ chánh đạo theo ngoại
đạo. Tu theo ngoại đạo được sanh lên cõi Trời, lúc tuổi
thọ ở cõi Trời hết trở lại đầu thai vào thân người,
thân heo dê. Chánh đạo thì thành Phật, vĩnh viễn ra khỏi
sanh tử luân hồi. Ước mong người dụng công phu ngoại đạo
hãy so sánh lại thử xem! Lại nữa, công phu của ngoại đạo,
người thế tục dụng có công, tăng sĩ dụng có lỗi. Vì
sao có lỗi? Xuất gia tham thiền là để liễu thoát sanh tử,
công phu của ngoại đạo thêm sanh tử, chẳng phải lỗi là
gì?
|
||
|
|