Mục
Lục
Lời dịch giả. Lời tựa của Ngài Lai Quả. 1. Phát tâm học đạo 2. Nguyện trụ Tòng Lâm 3. Lập hạnh quyết định 4. Đánh hét khó chịu 5. Quy củ khó học 6. Thân tâm bất an 7. Thiệt thòi khó chịu 8. Tập khí khó trừ 9. Nhẫn khổ 10. Lục căn khó nhiếp 11. Thỉnh cầu khai thị 12. Chán trụ Tòng Lâm 13. Thích ở núi sâu 14. Nhẫn nại phiền toái 15. Chẳng trọng tu huệ 16. Chẳng muốn thường trụ 17. Dễ phạm quy củ 18. Hỷ xả tất cả 19. Phát tâm dũng mãnh 20. Thân tâm quen thuộc 21. Chẳng tin tham thiền 22. Nghi Pháp 23. Nghi người 24. Toan tính thối lui 25. Biết sám hối 26. Biết hổ thẹn 27. Phát khởi lòng tin 28. Nghe được lãnh hội 29. Thấy có tương ưng 30. Tự nguyện dụng công 31. Quên mệt nhọc 32. Nghi tình chẳng đắc lực 33. Thân tâm bực bội 34. Tâm thối lui bỗng nổi dậy 35. Nhận sự khuyến thỉnh của đại chúng 36. Vọng tâm tạm nghỉ 37. Ngoài thân tạm quên 38. Cảm thấy thân khinh an 39. Trụ chỗ khô tịnh 40. Bày đặc bậy bạ 41. Ham thích thơ kệ 42. Chẳng nguyện tiến sâu 43. Cái dụng đề khởi 44. Công năng trừ vọng 45. Công năng trừ ngủ 46. Lạc đường tự tại 47. Vọng tự thừa đương 48. Giới luật sai trái 49. Tâm pháp đều tịch 50. Được chút ít cho là đủ 51. Sanh tâm dụng 52. Hữu tâm dụng 53. Tán tâm dụng 54. Nắm giử dụng 55. Đắc lực dụng 56. Phóng tâm dụng 57. Thân thiết dụng 58. Gián đoạn dụng 59. Thô tâm dụng 60. Miên mật dụng 61. Chẳng gián đoạn dụng 62. Tế tâm dụng 63. Lìa pháp dụng 64. Vô tâm dụng 65. Chân tâm dụng 66. Chuyển thân dụng 67. Đồng thể đại bi 68. Thay chúng chịu khổ 69. Đại từ tạo vui 70. Xót thương chúng khổ 71. Học hạnh Bồ Tát 72. Bố thí 73. Trì giới 74. Nhẫn nhục 75. Tinh tấn 76. Thiền định 77. Trí huệ 78. Hỷ xả 79. Ái ngữ 80. Lợi hành 81. Đồng sự 82. Lập chí hướng thượng 83. Trừ biếng nhác 84. Cung kính 85. Cúng dường 86. Tán thán 87. Giấu điều ác, khoe điều thiện 88. Trừ phỉ báng 89. Dứt tranh cải 90. Ba điều thường không đủ 91. Khuyến trụ Tòng Lâm 92. Phát tâm làm việc 93. Thích làm thanh chúng 94. Tình nguyện làm bếp 95. Biết nhân biết quả 96. Phát thệ nguyện lớn 97. Sự lý dụng 98. Hóa đạo dụng 99. Tha thọ dụng 100. Tự thọ dụng 101. Thiền pháp 102. Tu tạp hạnh 103. Cầu thần thông 104. Hiếu thắng 105. Dụng công phu ngoại đạo 106. Hiểu lầm 107 Công phu chẳng bị thế gian chuyển 108 Công phu chẳng bị thân chuyển 109 Công phu chẳng bị tâm chuyển 110 Công phu chẳng bị hôn trầm chuyển 111 Làm chủ sanh tử 112 Ðầu sào trăm thước 113 Trên bờ vực thẳm buông tay 114 Tuyệt hậu tái tô 115 Qua sơ quan 116 Phá trùng quan 117 Thấu lao quan 118 Buông Không xuống 119 Khai tòng lâm 120 Chánh pháp trụ lâu |
Lai Quả Thiền Sư Việt Dịch: Tỳ Kheo Thích Duy Lực Từ Ân Thiền Ðường Hoa Kỳ Xuất Bản 1992 Người thọ giới, đầu tiên do bổn sư khai thị dẫn dắt nhiều cách, kế nghe bậc tiền bối ca ngợi sự trụ Thiền đường, rồi phát tâm sửa soạn y áo, mua sắm giày dép, suy nghĩ hỏi thăm toan tính trăm thứ đều không ổn. Muốn học kinh giáo song không đủ trình độ, toan đi hành hương các thánh tích lại thiếu tiền đi đường. Vừa nghe cái tốt của chùa Thiên Ninh, lại nghĩ cái lạ của núi Thiên Mục, thường nghe chùa Kim Sơn việc ngồi thiền đau chân khó chịu, đã biết từ lâu, giờ tọa thiền ở chùa Cao Mân nén hương dài thật khó ngồi. Tòng Lâm rất tốt muốn trụ song quy củ quá khó khăn, tiến thoái lưỡng nan, do dự suốt ngày. Chợt gặp vị tăng lân cận chỉ cho con đường chân chánh và chỉ cho hướng đi, mới dám bạo gan cất bước. Vừa đến sơn môn tim đập chân run, bước vào khách đường đỏ mặt ngơ ngác. Vị chức sự gặp thấy, quát lên một tiếng : "Sơ tham", lại quát lên một tiếng nữa : "Thằng khốn nạn, bộ chưa nghe nói quy củ nghiêm khắc, điện đường nghiêm tịnh, qua lại không nghe tiếng động, ngồi nằm phải tuân lời dạy hay sao ?". Người có chí vì đạo dần dần định tâm, kế bỏ kiến chấp, thứ lớp của quy củ dần dần rõ biết, lòng gan dạ mà tâm khoan dung, việc làm thuần thục mà chí kiên cố. Nếu người không có tâm vì đạo thì như chim bị nhốt vào lồng, thân khó ở yên, chỗ thấy đều chẳng vừa ý, chỗ nghe đều là giựt mình sợ hãi, tránh chỗ này đụng chỗ kia, trời đất đen tối, muốn tìm cách chạy trốn lại càng thấy rất khó. Lúc ngồi xếp bằng, lòng rỗng rang như cái nồi không, thân thẳng đứng như cái bàn. Lúc bào hương đi như nhảy múa. Lúc sống bình thường như phòng giặc. Theo chúng qua ngày chịu khổ chịu cực, đi đến chỗ vắng khóc lén không cho người biết. Mỗi khi nghe tiếng quát của vị chức sự, đứng thẳng ngơ ngác, bỗng được bạn đạo khuyên nhắc, mặt mày vui vẻ. Những người đời trước có gieo nhân của đạo nay gặp duyên này, quả sắp chín mùi, năm ba mươi năm sống như một ngày, hạt giống Bát Nhã, gốc rễ thành Phật càng thêm sâu dầy. Còn người đời trước không có gieo nhân của đạo, nay gặp được trợ duyên ở Tòng Lâm này cũng giúp cho họ có cái nhân tốt để được quả chín mùi, huân tu rèn luyện ắt sẽ được thành tựu pháp khí lớn. Nay tu thắng nhân, vị lai chắc chắn được thắng quả, con đường sanh tử phải tu, con đường Niết Bàn mới rõ. Như vậy chẳng trụ Tòng Lâm thì chẳng thể vun trồng Phật nhân, chẳng trụ Tòng Lâm thì chẳng thể thành tựu Phật quả. Bằng không, nhân địa chẳng chân, gặp quả cong queo. Phải biết Tòng Lâm là chủ thể của Tam Bảo, cũng là nền tảng hành đạo. Tòng Lâm suy, chánh pháp không làm sao trụ ở đời lâu dài được. Tòng Lâm hưng thạnh thì Tam Bảo là phước điền của thế gian. Người xưa nói : "Người phát tâm trụ Tòng Lâm, năm ba mươi năm chẳng phạm quy củ, người này đủ phước báu lớn, có chánh nhân lớn". Lại nói : "Nếu ở núi sâu một mình hành đạo chẳng bằng ở Tòng Lâm ngủ khò". Thật đúng thay lời này. Đại khái, người đã trụ qua Tòng Lâm, xuất ngoại hành cước nơi xóm làng thành thị, oai nghi tế hạnh cử chỉ nói nín của người ấy khác hơn người thường khiến mọi người sanh lòng kính mến tin cậy, đáng làm mô phạm cho tất cả thiện nam tín nữ vun bồi phước đức, gieo trồng thiện căn vô lượng. Mong những bậc trưởng giả tin Phật tận sức hộ trì chẳng chút kỳ thị, công đức rất lớn. Người nào
sống được trụ Tòng Lâm, chết được nhập tháp viện,
chẳng những cha mẹ quá khứ siêu thăng Tịnh Độ, cha mẹ
hiện tại tăng phước sống lâu và chính mình cũng tiến sâu
vào đạo, sở nguyện đầy đủ.
l. Người lập hạnh, biết trước kia những điều lớn nhỏ mình làm đều không có ý nghĩa, nay có ý lập hạnh cần phải soi xét lại các việc, cái không có lý thì kiểm điểm mà sửa lại, cái có lý rồi thì canh tân cho hợp với hạnh mới lập. Việc làm so với trước có phương hướng, động niệm so với trước có chủ trương, cho đến động tịnh, rỗi rảnh bận rộn đều thuận theo hạnh đã lập. Nếu thọ dụng được cái hạnh đã lập thì tâm tự chẳng rối loạn, thân tự chẳng làm càn, việc tự chẳng lầm lẫn. Như thế, hạnh hay kiềm chế được việc làm. 2. Thêm một bước nữa là hạnh quyết định. Hạnh đã quyết định thì sống chết cũng chẳng dời đổi. Trời đất có thể lay động, chứ hạnh của ta chẳng lay động, hư không có thể không, chứ hạnh ta chẳng thể không, đây gọi là hạnh quyết định. Bất cứ việc làm nào cùng với hạnh đã lập đều không ngại nhau. Tâm càng loạn hạnh càng chắc, thân càng nguy hạnh càng thiết, việc càng hỏng hạnh càng cao. Hạnh chuyển được tâm ác thành niệm thiện. Hạnh chuyển được thân bệnh thành khỏe mạnh. Hạnh chuyển được hung hiểm thành an ninh. Đây gọi là hạnh quyết định kiềm chế được thân. 3. Hạnh quyết định, tuy nói hạnh kiềm chế được việc khiến cho chẳng rối loạn, hạnh kiếm chế được thân khiến cho an ổn, hạnh kiềm chế được tâm ở một chỗ, đâu bằng không có việc để loạn, không có thân để an, không có tâm để kiềm chế. Từ chỗ
quyết định này buông tay đi thẳng, chợt đến chỗ sơn cùng
thủy tận, người và pháp cả hai đều quên, xoay mình lại
(ngộ) mới biết ba điều của hạnh quyết định này làm
cho thân, tâm, thế giới đều quét sạch (đạt đến chỗ
tự do tự tại). Phải biết cái hay của hạnh quyết định
là ở Tòng Lâm năm ba mươi năm khổ tâm vì đạo, tôi dám
bảo đảm kiến tánh.
Người tu hành có chí thì trước tiên hỏi kỹ hướng đi, kế đó nghiên cứu chỗ ở, rồi lại xét kỹ gia phong, sau đó mới theo đạo. Nên nghĩ cái học của thế gian chẳng ra ngoài lời dạy bao quát của đức Khổng Tử và Bách Gia Chư Tử. Cái học của xuất thế gian phải lìa tình thức, quét thánh phàm, nên trước tiên phải rõ phương pháp lìa tình tuyệt thức. Phải biết tình bởi ái mà có, thức do vọng mà sanh. Hai chữ tình thức là chỗ phân biệt của thánh phàm. Thật ra vì tình chẳng thể không nên lục phàm luân chuyển, thức chẳng thể liễu nên tứ thánh rõ ràng. Nay đem hai chữ tình thức này nói ra cho thế gian biết để cho bậc anh tài, cao minh giải thích nghĩa lý, thiết lấp một phương pháp dứt trừ để làm thử. Nếu có thể trừ được, liễu được thì tôi vui vẻ theo học pháp ấy. Khắp thế gian đã không ai có cách nào để quét sạch được tình thức, thì ắt phải y theo đạo đánh hét của người xưa mà làm mới chẳng phụ cái chí tu hành. Như vậy quyết tâm trụ tại Tòng Lâm, lấy ngộ làm kỳ hạn. Muốn cầu cái học khử trừ tình thức, ắt phải chịu cái đạo đánh hét (ăn gậy). Phải biết tình liên quan đến giận hờn, yêu mến, thức trói buộc ngộ mê. Người khắp thế gian dễ yêu dễ giận đều vì tình che lấp, chấp mê chấp ngộ cũng do thức buộc ràng. Như vậy, đánh đau một trận, tình bay ra ngoài hư không, giận hờn, yêu mến đâu còn, hét to một tiếng, bóng thức toàn tiêu, ngộ mê đâu có! Thường thường người mới học đạo chẳng rõ pháp trợ đạo nên nói : "Có đạo để học, có tâm để dụng, việc lớn một đời ắt xong, đâu cần hương bản đánh như trẻ con, hét to như dọa con nít. Quy củ khó là cái chướng của dụng tâm, khai thị nhiều làm mất công ngồi nghe". Những người có kiến giải này chỉ nên ở núi hay ở chùa tư hoặc am thất. Người hiểu lầm như thế, chư Phật nghe qua rơi lệ, Tổ sư nghe đến đau lòng, Long Thiên biết rồi dậm chân, Quỷ Thần biết xong đấm ngực. Người học đạo cần phải nghĩ kỹ, đức Thế Tôn tu đạo ở Tuyết Sơn, mỗi ngày ăn một hạt thóc hạt mè, trải qua sáu năm tinh tấn, cực khổ còn hơn cái đau của đánh hét, cái khó của quy củ, cái nhiều của khai thị, đâu chỉ ngàn muôn lần? Nhị Tổ cầu pháp đứng suốt đêm dưới tuyết, tuyết lên đến lưng còn bị quở là tâm khinh mạn, chẳng đáng được nghe đạo. Ngài bèn chặt tay dâng lên mới được nghe Sơ Tổ thuyết pháp, há chẳng hơn sự khổ cực của thiền đường ngàn lần ư? Ở thế gian,
gặp người tiếp vật thuận theo tình cảm, xưng hô lễ phép,
ấy là tình. Lời nói vấn đáp, kiến giải hiểu biết, ấy
là thức. Chính tình thức làm cho thiền đường suy tệ. Dẫu
cho có khả năng đập vỡ hư không cũng chẳng bằng một gậy
của thiền đường, một gậy có thể phá tình này. Dẫu cho
có sức đạp chìm quả đất cũng chẳng bằng một tiếng
hét của thiền đường, một tiếng hét có thể lìa thức
này. Cho nên nói : "Cây gậy bảy thước khai chánh nhãn, dưới
một tiếng hét ngưng cuồng tâm". Lại nói : "Trên đầu hương
bản sanh Tổ Sư, trong tiếng hét lớn ra Bồ Tát". Người có
sự nhận thức đúng về Phật pháp cầu Thiện Tri Thức đánh,
thỉnh Thiện Tri Thức hét. Một gậy một hét có thể trừ
sạch tình thức trong nhiều kiếp. Muốn trụ thiền đường
nếu sợ đánh hét thì khó trụ lâu. Nếu có thiền đường
nào tạm bỏ đánh hét thì thiền đường ấy chẳng thể tồn
tại. Thiền đường là ghe thuyền của thế gian và xuất thế
gian. Đánh hét là lợi khí để liễu thoát sanh tử. Muốn
thành Phật đạo phải ở thiền đường. Muốn thoát sanh tử
phải chịu đánh hét. Đánh hét của thiền đường là mẹ,
kiến tánh thành Phật là con. Cho nên chư Phật chỉ quy về
thiền đường, chư Tổ đều sanh ra từ Tông này. Há chẳng
tin sao?
Quy củ là pháp cương lớn nhất của thế gian và xuất thế gian. Quy là sợi dây mực. Củ là cây thước thợ (ê ke). Ngay thẳng chẳng dùng dây mực thì không có tiêu chuẩn. Vuông tròn chẳng dùng thước thợ thì không có khuôn phép. Cho nên, người xưa nói : "Chẳng y theo quy củ chẳng thành vuông tròn". Lại như xẻ cây muốn được ngay thẳng trước tiên phải dùng dây mực rồi mới cưa, cây được ngay thẳng hữu dụng là nhờ công của dây mực. Lại như làm thùng muốn cho nó tròn, trước hết dùng thước thợ làm vuông bốn góc, rồi tám góc, cái thùng tự tròn, cái thùng tròn hữu dụng là nhờ sức của cây thước thợ. Phải biết hư không cao biết bao, dây mực treo nó thẳng, quả đất rộng biết bao, thước thợ đo nó tròn. Một hư không, một quả đất chưa ra khỏi quy củ một bước. Lại như thẳng thì dọc suốt tam thế, quá khứ, hiện tại, vị lai, tròn thì khắp giáp mười phương, phạm vi của quy củ lớn không gì so sánh được. Người muốn trụ Tòng Lâm chẳng y theo quy củ thì chẳng biết đến đây là vì việc gì? Phải biết thân tâm của chúng ta là do nghiệp chướng tạo thành, tập khí huân thành, nên trôi lăn trong lục đạo, cái tên "quy củ" còn chẳng được nghe huống là biết có quy củ thật. Vì không biết quy củ nên tùy tâm phóng túng, mặc ý muốn làm, trước không có ngăn cấm, sau không có cản trở, tham dục hoành hành, theo nghiệp thọ báo, trồi lên hụp xuống không biết đến lúc nào mới thôi. Hôm nay may mắn xuất gia, lại gặp quy củ. Quy củ là nền tảng của Tòng Lâm, là chỗ nương tựa của tăng chúng, là bước đầu của học đạo, là thềm bậc của thánh hiền, là thầy lành của xuất thế, là người dẫn đường của sự thành Phật, là bè quý báu của biển khổ, là đèn sáng của đêm tối, là của báu cho người nghèo, là thuốc hay cho người bệnh, là cứu tinh của loài người, là khuôn mẫu của người học. Dầu cho miệng Phật ngợi khen cũng không hết được. Học đạo ở thiền đường, quy củ lớn, phép tắc nhỏ đều phải y theo đó mà làm. Kẻ phạm là theo nghiệp chuyển. Kẻ không phạm là không bị nghiệp lôi. Như vậy quy củ dẫu nhiều, phép tắc vi tế dù rất khó học song phải gắng học. Sau khi học thuộc, một ngày học ngàn ngày dùng. Nơi này chốn khác đều tôn là Thượng Tọa. Nên biết
quy củ cùng nghiệp chướng như băng tuyết với than lửa chẳng
đồng một lò, phép tắc cùng tập khí như nước với lửa
chẳng chung một bình. Nghiệp chướng hiện thì quy củ mất.
Tập khí khởi thì phép tắt ẩn. Nghiệp chướng và tập khí
khởi lên thì phải luân hồi trong lục đạo. Thử hỏi người
học đạo giữ quy củ là phải hay theo nghiệp chướng là
phải? Cho nên Hòa Thượng, Ban Thủ, Duy Na, chức sự đều
tận tâm lực giữ quy củ nghiêm minh để cho người học mỗi
ngày thêm tốt, chẳng kẹt vào lưới trần tục. Lòng từ
bi thiết tha rộng lớn, cả thế gian không gì hơn vậy. May
thay!
Thân tâm bất an chính là thứ lớp vào đạo. Sao vậy? Thân nếu rảnh rang, hiện nghiệp dễ tạo, tâm nếu an nhàn, tật xấu liền sanh. Nên biết, tâm nương thân mà trụ, dù tâm bất an cũng đâu thể lìa thân một khắc, thân nương đất mà trụ, dù thân bất an cũng đâu thể lìa đất một bước. Nếu hiểu như thế thì đâu còn bất an.Giả sử thân tâm an ở chỗ tham nhiễm, chỗ này tức là nhân khổ, chỗ này tuy an nhưng thuộc về cái an trong chốc lát, vì ác nhân đã gieo ắt ác quả phải đến, thân tâm sau này sẽ bị an ở chỗ địa ngục, ấy tức là ác quả vậy. Ở thiền đường tuy khó an mà sẽ làm cho đạt đến cái an vĩnh cửu. Trụ ở thiền đường lâu ngày, thân tâm bất an tự an. Phải biết thân tâm chịu sự ràng buộc của thế gian, ràng buộc lâu ngày cũng có thể tự an. Nay đem thâm tâm ở lâu ngày nơi thiền đường, ở lâu cũng an, giống như đang ở nhà an ổn, bỗng phạm pháp luật bị bắt bỏ tù thì trong khoảnh khắc cũng khó an, nhưng sống trong tù lâu ngày quen rồi lại cảm thấy an, chẳng những không thấy khó chịu mà thậm chí còn muốn chẳng ra khỏi tù, chẳng những thân an mà tâm cũng an. Cái tệ của thân tâm, không luận là ở chỗ nào, ban đầu thật bất an, dần dần hơi an, kế đến có thể an, lâu ngày an luôn, đây là cái bệnh chung của lục đạo. Than ôi! Thân tâm của người tham thiền trụ tất cả chỗ đều chẳng thể an là lý đương nhiên. Vì tất cả chỗ đều là chỗ trần lao nên chẳng thể an ổn lâu dài được. Nay ở thiền đường là hạnh chánh của người con Phật, là chỗ ở chánh của người hành đạo, nếu chẳng thể an thì nhất định là không thể được. Sao vậy? Vì người tham thiền mang cái thân hành đạo mà ở chỗ chẳng hành đạo thì đạo làm sao hành được, cho đến người có tâm đạo mười phần ở nơi đạo tràng hành đạo, đạo còn khó hành huống là ở chỗ chẳng phải đạo tràng mà có thể hành đạo được ư! Giống như ở ngã tư đường nơi thành thị mà muốn lìa sự huyên náo, dứt sự nhiễu loạn của thế tục có thể được ư! Điều thiết
yếu nhất là đem thân tâm trụ ở thiền đường lâu dài,
thà bất an mà chết chứ chẳng chịu rời thiền đường tạm
an mà sống. Người học đạo nên xem xét kỹ.
Lời này là của người không biết mới nói, chứ người có chút trình độ chắc không nói như thế. Sao vậy? Vì từ dưới chúng sanh lên đến chư Phật, hai chữ "thiệt thòi" này không ai tránh khỏi. Tại sao thế? Đức Thế Tôn một hôm khất thực xong, trải tòa thiết pháp, đang ngồi trang nghiêm trước trăm muôn đại chúng, bỗng có một cô gái ôm bụng bước vào đứng trước mặt đức Phật nói : "Ông nay thuyết pháp thân tôi chẳng an, chẳng bao lâu sẽ sanh, sao ông chẳng màng đến!". Lúc ấy đại chúng ngơ ngác hoang mang. Thương thay! Đức Phật của chúng ta đang chịu thiệt thòi nặng nề. Khi ấy các vị vua trời Phạm Thiên sai một thiên nhân hóa làm một con chim ưng bay đến bên cạnh cô gái, mổ đứt sợi dây, trái bầu rơi xuống đất, đại chúng tiêu hết nghi ngờ. Sự thiệt thòi lớn lao có gì hơn điều này. Lại nữa, một hôm đức Phật dẫn chúng vào thành theo thông lệ khất thực. Lúc ấy vua A Xà Thế cùng Điều Đạt muốn hại Phật và các đại chúng, ra lệnh cả thành cấm cúng dường thức ăn, như vậy Phật và đại chúng khất thực liên tiếp bảy ngày cũng không được một hột cơm. Về sau hai người hối cải, để cho dân chúng cúng dường trở lại. Đây là cái thiệt thòi bị bỏ đói, thế gian đâu thể chịu nổi. Lại nữa, một hôm các vị đại A La Hán bận an cư ở nơi xa, chỉ có vài trăm người cùng Phật kiết hạ nơi chân núi. Điều Đạt sai nhiều lực sĩ lén lăn đá to từ trên núi xuống, làm Phật bị thương chân. Thương thay! Đức Phật là đại sư của ba cõi, là cha lành của bốn loài, phải chịu sự thiệt thòi lớn như bị làm nhục, bị bỏ đói, bị hãm hại. Phật còn như thế, ta là người thế nào? Lại như ngài Từ Minh đến thỉnh pháp nơi Phần Dương, mùa đông lạnh lẽo muốn được thân cận, Phần Dương tạt nước đuổi đi. Từ Minh đứng ở góc điện suốt một đêm. Sáng sớm hôm sau, Phần Dương trông thấy lại tạt nước nữa, như vậy hai ba lần. Thương thay cho Từ Minh vẫn vui vẻ nhận lấy, về sau khai ngộ, hiệu là Sư Tử Tây Hà. Lại nữa, như ông già Kính Sơn (tức ngài Đại Huệ Tông Cảo) vì bốn câu kệ mà bị vua đày đi biên thùy. Về sau hoằng hóa rộng lớn, xa gần đều khâm mộ sùng kính. Đây là sự thiệt thòi lớn không có gì sánh bằng. Từ xưa chư
Phật chư Tổ còn như vậy, nay ta đã ở Tòng Lâm, an trụ
thiền đường, mặc cho thiệt thòi đủ thứ, nghịch đến
thì dùng thuận thọ nhận, đánh đập cũng thọ nhận, giận
ghét cũng thọ nhận. Phải biết, chịu được một phần thiệt
thòi, tiêu được một phần nghiệp chướng, mở được một
phần trí huệ. Dù cho người chặt đầu ta, cắt cơm ta, cũng
chẳng màng đến, chỉ cần có thiền đường để trụ, có
quy củ để giữ, có đạo để hành là đủ rồi. Ngoài ra,
trong thân ngoài thân đều thuộc về việc không quan trọng.
Dẫu cho sự thiệt thòi to như núi cao, nếu có thể chịu nổi
thì mới đáng gọi là bậc đại trượng phu vậy.
|
||
|
|