26. Kinh
Thánh cầu
(Ariyapariyesanà sutta)
Tôi nghe như vầy:
Một thời Thế Tôn ở
Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).
Rồi Thế Tôn vào buổi
sáng đắp y, cầm y bát Savatthi để khất thực. Có một số
đông Tỷ-kheo đến chỗ Tôn giả Ananda ở, sau khi đến, nói
với Tôn giả Ananda:
-- Hiền giả, đã lâu
chúng tôi chưa được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp.
Lành thay, Hiền giả Ananda, nếu chúng tôi được tận mặt
nghe Thế Tôn thuyết pháp!
-- Các Tôn giả hãy đến
chỗ Bà-la-môn Rammaka ở, và các Tôn giả sẽ được tận
mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp.
-- Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng
đáp Tôn giả Ananda. Rồi Thế Tôn, khất thực ở Savatthi xong,
sau buổi ăn trên con đường đi khất thực trở về, cho gọi
Tôn giả Ananda:
-- Này Ananda, chúng ta
hãy đi đến Pubbarama (Ðông viên), ngôi lầu của Migaramatu
(Lộc Mẫu Giảng Ðường) để nghỉ trưa.
-- Thưa vâng, bạch Thế
Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp
Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với Tôn giả Ananda đi đến vườn
Pubbarama, ngôi lầu của Migaramatu để nghỉ trưa. Thế Tôn
vào buổi chiều từ Thiền tịnh đứng dậy, gọi Tôn giả
Ananda:
-- Này Ananda, chúng ta
hãy đi đến Pubbakotthaka để rửa tay, rửa chân.
-- Thưa vâng, bạch Thế
Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp
Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với Tôn giả Ananda đi đến Pubbakotthaka
để rửa tay, rửa chân. Sau khi rửa tay, rửa chân ở Pubbalotthaka
xong, Thế Tôn leo đứng trên bờ, đắp một tấm y, phơi tay
chân cho khô. Rồi Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, tinh
thất của Bà-la-môn Rammaka không xa; bạch Thế Tôn, tịnh thất
của Bà-la-môn Rammaka là khả ái; bạch Thế Tôn, tịnh thất
của Bà-la-môn Rammaka là khả lạc; bạch Thế Tôn, lành thay,
nếu Thế Tôn vì lòng từ bi đi đến tịnh thất của Bà-la-môn
Rammaka!
Thế Tôn im lặng nhận
lời. Rồi Thế Tôn đi đến tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka.
Lúc bấy giờ, một số đông Tỷ-kheo đang hội họp tại tịnh
thất của Bà-la-môn Rammaka để thuyết pháp. Thế Tôn đứng
chờ ngoài cửa cho đến khi thuyết pháp xong. Thế Tôn biết
cuộc thuyết pháp đã xong, liền đằng hắng và gõ vào thanh
cửa. Các Tỷ-kheo ấy mở cửa cho Thế Tôn. Rồi Thế Tôn
bước vào tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka và ngồi lên chỗ
đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
-- Này các Tỷ-kheo, các
Người nay hội họp bàn vấn đề gì? Và câu chuyện gì giữa
các Người bị gián đoạn?
-- Bạch Thế Tôn, câu
chuyện giữa chúng con thuộc về Thế Tôn và câu chuyện ấy
bị gián đoạn khi Thế Tôn đến.
-- Này các Tỷ-kheo, lành
thay khi Thiện nam tử các Người, vì lòng tin xuất gia, từ
bỏ gia đình, sống không gia đình, cùng nhau hội họp để
luận bàn đạo pháp. Này các Tỷ-kheo, khi các Người hội
họp với nhau, có hai việc cần phải làm: luận bàn đạo
pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh.
(Hai loại tầm cầu)
Này các Tỷ-kheo, có
hai loại tầm cầu này: Thánh cầu và phi Thánh cầu. Chư Tỷ-kheo,
và thế nào là phi Thánh cầu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có
người tự mình bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh, tự mình
bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự
mình bị chết... tự mình bị sầu... tự mình bị ô nhiễm
lại tầm cầu cái bị ô nhiễm.
Này các Tỷ-kheo, cái
gì theo các Người gọi là bị sanh? Này các Tỷ-kheo, vợ con
là bị sanh; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị sanh; dê và
cừu là bị sanh; gà và heo là bị sanh; voi, bò, ngựa đực,
ngựa cái là bị sanh; vàng và bạc là bị sanh. Này các Tỷ-kheo,
những chấp thủ ấy bị sanh, và người ấy lại nắm giữ,
tham đắm, mê say chúng, tự mình bị sanh lại tầm cầu cái
bị sanh.
Và này các Tỷ-kheo,
cái gì theo các Người gọi là bị già? Này các Tỷ-kheo, vợ
con là bị già; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị già; dê
và cừu là bị già; gà và heo là bị già; voi, bò, ngựa đực,
ngựa cái là bị già; vàng và bạc là bị già. Này các Tỷ-kheo,
những chấp thủ ấy là bị già, và người ấy lại nắm
giữ, tham đắm, mê say chúng, tự mình bị già lại tìm cầu
cái bị già.
Và này các Tỷ-kheo,
cái gì theo các Người gọi là bị bệnh? Này các Tỷ-kheo,
vợ con là bị bệnh; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bi bệnh;
dê và cừu là bị bệnh; gà và heo là bị bệnh; voi, bò, ngựa
đực, ngựa cái là bị bệnh. Này các Tỷ-kheo, những chấp
thủ ấy là bị bệnh, và người ấy lại nắm giữ tham đắm,
mê say chúng, tự mình bị bệnh lại tìm cầu cái bị bệnh.
Và này các Tỷ-kheo,
cái gì các Người nói là bị chết? Này các Tỷ-kheo, vợ
con là bi chết; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị chết; dê
và cừu là bị chết; gà và heo là bị chết; voi, bò, ngựa
đực, ngựa cái là bị chết. Này các Tỷ-kheo, những chấp
thủ ấy là bị chết, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm,
mê say chúng, tự mình bị chết lại tìm cầu cái bị chết.
Và này các Tỷ-kheo,
cái gì theo các Người gọi là bị sầu? Này các Tỷ-kheo,
vợ con là bị sầu; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị sầu;
dê và cừu là bị sầu, gà và heo là bị sầu; voi, bò, ngựa
đực, ngựa cái là bị sầu. Này các Tỷ-kheo, những chấp
thủ ấy là bị sầu, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm,
mê say chúng, tự mình bị sầu lại tìm cầu cái bị sầu.
Và này các Tỷ-kheo,
cái gì theo các Người gọi là bị ô nhiễm? Này các Tỷ-kheo,
vợ con là bị ô nhiễm; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị
ô nhiễm; dê và cừu la bị ô nhiễm; gà và heo là bị ô nhiễm;
voi, bò, ngựa đực, ngựa cái là bị ô nhiễm; vàng và bạc
là bị ô nhiễm. Và này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy
là bị ô nhiễm, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm,
mê say chúng, tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô
nhiễm. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là phi Thánh cầu.
Và này các Tỷ-kheo,
thế nào là Thánh cầu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người
tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh,
tìm cầu cái vô sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách,
Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của
bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các
khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bệnh... cái không bệnh...
tự mình bị chết... cái bất tử... tự mình bị sầu... cái
không sầu... tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy
hại của ô nhiễm, tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng
an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, như
vậy, gọi là Thánh cầu.
(Thánh cầu Giải
thoát)
Này các Tỷ-kheo, Ta cũng
vậy, trước khi Giác Ngộ, khi chưa chứng Chánh Ðẳng Giác,
khi còn là Bồ-tát, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị
sanh, tự mình bị già, lại tìm cầu cái bị già, tự mình
bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu"... tự
mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm. Này các
Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Tại sao Ta, tự mình bị
sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già... (như trên)...
tự mình bi ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm? Vậy Ta,
tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh,
hãy tìm cầu cái không sanh vô thượng an ổn khỏi các khổ
ách, Niết-bàn; tự mình bị già... cái không già... tự mình
bị bệnh... cái không bệnh... tự mình bị chết... cái bất
tử... tự mình bị sầu... cái không sầu... tự mình bi ô
nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị nhiễm, hãy
tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ
ách, Niết-bàn.
Rồi này các Tỷ-kheo,
sau một thời gian, khi Ta còn trẻ, niên thiếu, tóc đen nhánh,
đầy đủ huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng
son cuộc đời, mặc dầu cha mẹ không bằng lòng, nước mắt
đầy mặt, than khóc, Ta cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất
gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Ta xuất gia như vậy,
một người đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng
tối thắng an tịnh đạo lộ. Ta đến chỗ Alara Kalama ở,
khi đến xong liền thưa với Alara Kalama: "Hiền giả Kalama,
tôi muốn sống phạm hạnh trong pháp luật này". Này các Tỷ-kheo,
được nghe nói vậy, Alara Kalama nói với Ta: "Này Tôn giả,
hãy sống (và an trú). Pháp này là như vậy, khiến kẻ có
trí, không bao lâu như vị Bổn sư của mình (chỉ dạy), tự
tri, tự chứng, tự đạt và an trú". Này các Tỷ-kheo, và không
bao lâu Ta đã thông suốt pháp ấy một cách mau chóng. Và này
các Tỷ-kheo, cho đến vấn đề khua môi và vấn đề phát
ngôn mà nói, thời Ta nói giáo lý của kẻ trí và giáo lý
của bậc Trưởng lão (Thượng tọa), và Ta tự cho rằng Ta
như kẻ khác cũng vậy, Ta biết và Ta thấy.
Này các Tỷ-kheo, Ta suy
nghĩ như sau: "Alara Kalama tuyên bố pháp này không phải chỉ
vì lòng tin: "Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, Ta mới an
trú". Chắc chắn Alara Kalama biết pháp này, thấy pháp này
rồi mới an trú". Này các Tỷ-kheo, rồi Ta đi đến chỗ Alara
Kalama ở, sau khi đến Ta nói với Alara Kalama: "Hiền giả Kalama,
cho đến mức độ nào, Ngài tự tri, tự chứng, tự đạt,
và tuyên bố pháp này?" Này các Tỷ-kheo, được nói vậy,
Alara Kalama tuyên bố về Vô sở hữu xứ.
Rồi này các Tỷ-kheo,
Ta suy nghĩ: "Không phải chỉ có Alara Kalama có lòng tin, Ta cũng
có lòng tin. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có tinh tấn,
Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có
niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ có Alara Kalama mới
có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ có Alara Kalama
mới có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy Ta hãy cố gắng chứng
cho được pháp mà Alara Kalama tuyên bố: "Sau khi tự tri, tự
chứng, tự đạt, ta an trú".
Rồi này các Tỷ-kheo,
không bao lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy
một cách mau chóng, Ta an trú. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta đi đến
chỗ Alara Kalama ở, sau khi đến, Ta nói với Alara Kalama: "Này
Hiền giả Kalama, có phải Hiền giả đã tự tri, tự chứng,
tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy?"
--"Vâng, Hiền giả, tôi đã tự tri, tự chứng, tự đạt và
tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy". --"Này Hiền giả,
tôi cũng tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này
đến mức độ như vậy". --"Thật lợi ích thay cho chúng tôi,
Thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được
thấy một đồng phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi tự
tri, tự chứng, tự đạt, và tuyên bố, chính pháp ấy Hiền
giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú; pháp mà Hiền
giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính pháp ấy
tôi tự tri, tự chứng tự đạt và tuyên bố; pháp mà tôi
biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền giả biết,
chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như
vậy; Hiền giả như thế nào, tôi là như vậy. Nay hãy đến
đây, Hiền giả, hai chúng ta hãy chăm sóc hội chúng này!"
Như vậy này các Tỷ-kheo,
Alara Kalama là Ðạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của
vị ấy ngang hàng với mình, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng
tối thượng. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta tự suy nghĩ: "Pháp này
không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không
hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không
hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không
hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt
Vô sở hữu xứ". Như vậy này các Tỷ-kheo, Ta không tôn kính
pháp này, và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.
Rồi này các Tỷ-kheo,
Ta, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối
thắng an tịnh đạo lộ. Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta, khi
đến xong Ta nói với Uddaka Ramaputta: "Hiền giả, tôi muốn
sống phạm hạnh trong pháp luật này. Ðược nói vậy, này
các Tỷ-kheo, Uddaka Ramaputta nói với Ta: "Này Tôn giả, hãy
sống (và an trú), pháp này là như vậy, khiến người có trí
không bao lâu như vị Bổn sư của mình (chỉ dạy) tự tri,
tự chứng, tự đạt và an trú". Này các Tỷ-kheo, Ta đã thông
suốt pháp ấy một cách mau chóng. Và này các Tỷ-kheo, cho
đến vấn đề khua môi và vấn đề phát ngôn mà nói, thời
Ta nói giáo lý của kẻ trí, và giáo lý của bậc Trưởng
lão (Thượng Tọa), và Ta tự cho rằng Ta như người khác cũng
vậy, Ta biết và Ta thấy.
Này các Tỷ-kheo, Ta suy
nghĩ như sau: "Rama tuyên bố pháp này không phải vì lòng tin:
"Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, ta mới an trú". Chắc
chắn Rama thấy pháp này, biết pháp này, rồi mới an trú".
Này các Tỷ-kheo, rồi Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta ở, sau
khi đến Ta nói với Uddaka Ramaputta: "Hiền giả Rama, cho đến
mức độ nào, Ngài tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên
bố pháp này?" Này các Tỷ-kheo được nghe nói vậy, Uddaka
Ramaputta tuyên bố về Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Rồi này các Tỷ-kheo,
Ta suy nghĩ: "Không phải chỉ có Rama mới có lòng tin. Ta cũng
có lòng tin. Không phải chỉ có Rama mới có tinh tấn, Ta cũng
có tinh tấn. Không phải chỉ có Rama mới có niệm, Ta cũng
có niệm. Không phải chỉ có Rama mới có định, Ta cũng có
định. Không phải chỉ có Rama mới có tuệ, Ta cũng có tuệ.
Vậy ta hãy cố gắng chứng cho được pháp mà Rama tuyên bố:
"Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, tự an trú".
Rồi này các Tỷ-kheo,
không bao lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy
một cách mau chóng, Ta an trú. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta đi đến
chỗ Uddaka Ramaputta ở, sau khi đến, Ta nói với Uddaka Ramaputta:
"Này Hiền giả Rama, có phải Hiền giả đã tự tri, tự chứng,
tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy?"
--"Vâng Hiền giả, tôi đã tự tri, tự chứng, tự đạt và
tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy". --"Này Hiền giả,
tôi cũng đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp
này đến mức độ như vậy." Thật lợi ích thay cho chúng
tôi! Thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được
thấy một đồng phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi, tự
tri tự chứng, tự đạt và tuyên bố, chính pháp ấy Hiền
giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú; pháp mà Hiền
giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính pháp ấy
tôi tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố; pháp mà tôi
biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền giả biết,
chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như
vậy; Hiền giả như thế nào, Tôi là như vậy. Nay hãy đến
đây, Hiền giả, hai chúng ta hãy chăm sóc hội chúng này!"
Như vậy, này các Tỷ-kheo,
Uddaka Ramaputta-là Ðạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của
vị ấy ngang hàng với mình, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng
tối thượng. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ: "Pháp này không
hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng
đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng
đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng
đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Phi tưởng
phi phi tưởng xứ". Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta không tôn
kính pháp ấy và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.
Này các Tỷ-kheo, Ta,
kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng
an tịnh đạo lộ, tuần tự du hành tại nước Magadha (Ma kiệt
đà) và đến tại tụ lạc Uruvela (Ưu lâu tần loa). Tại đây,
Ta thấy một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái,
có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ
dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi
khất thực. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta tự nghĩ: "Thật là một
địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông
trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả
ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực.
Thật là một chỗ vừa đủ cho một Thiện nam tử tha thiết
tinh cần có thể tinh tấn". Và này các Tỷ-kheo, Ta ngồi xuống
tại chỗ ấy và nghĩ: "Thật là vừa đủ để tinh tấn".
(Giác Ngộ)
Rồi này các Tỷ-kheo,
Ta tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái
bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các
khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không sanh, vô
thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị
già, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị già, tìm cầu
cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn;
và đã chứng được cái không già, vô thượng an ổn khỏi
các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bệnh, sau khi biết rõ
sự nguy hại của cái bị bệnh, tìm cầu cái không bệnh,
vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng
được cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách,
Niết-bàn; tự mình bị chết, sau khi biết rõ sự nguy hại
của cái bị chết, tìm cầu cái không chết, vô thượng an
ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái
không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn;
tự mình bị sầu, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị
sầu, tìm cầu cái không sầu, vô thượng an ổn khỏi các
khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái vô sầu, vô thượng
an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị ô nhiễm,
sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị ô nhiễm, tìm cầu
cái không bị ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách,
Niết-bàn và đã chứng được cái không ô nhiễm, vô thượng
an ổn, khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Và trí và kiến khơi
lên nơi Ta. Sự giải thoát của Ta không bị dao động. Nay
là đời sống cuối cùng của Ta, không còn sự tái sanh nữa.
Này các Tỷ-kheo, rồi
Ta suy nghĩ như sau: "Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu
kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý
luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. Còn quần
chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục.
Ðối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích
ái dục, thật khó mà thấy được định lý Idapaccàyata Paticcasamuppada
(Y Tánh Duyên Khởi Pháp); sự kiện này thật khó thấy; tức
là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự trừ bỏ tất cả sanh
y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết
pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật
khổ não cho Ta, như vậy thật bực mình cho Ta!" Này các Tỷ-kheo,
rồi những kệ bất khả tư nghì, từ trước chưa từng được
nghe, được khởi lên nơi Ta:
Sao Ta nói Chánh pháp,
Ðược chứng ngộ
khó khăn?
Những ai còn tham
sân,
Khó chứng ngộ pháp
này.
Ði ngược dòng, thâm
diệu,
Khó thấy, thật tế
nhị,
Kẻ ái nhiễm vô
minh,
Không thấy được
pháp này.
Rồi này các Tỷ-kheo,
với những suy tư như vậy, tâm của Ta hướng về vô vi thụ
động, không muốn thuyết pháp.
Này các Tỷ-kheo, lúc
bấy giờ Phạm thiên Sahampati khi biết được tâm tư của
Ta; với tâm tư của mình, liền suy nghĩ: "Than ôi, thế giới
sẽ tiêu diệt, thế giới sẽ bi hoại vong, nếu tâm của Như
Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác hướng về vô vi thụ động,
không muốn thuyết pháp". Rồi này các Tỷ-kheo, Phạm thiên
Sahampati, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co, hay co
cánh tay đang duỗi; cũng vậy, vị ấy biến mất từ thế
giới Phạm thiên, và hiện ra trước mặt Ta. Này các Tỷ-kheo,
rồi Phạm thiên Sahampati đắp thượng y một bên vai chắp
tay hướng vái Ta và bạch với Ta: "Bạch Thế Tôn, hãy thuyết
pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh
ít nhiễm bụi trần sẽ bi nguy hại nếu không được nghe
Chánh pháp. (Nếu được nghe), những vị này có thể thâm
hiểu Chánh pháp". Này các Tỷ-kheo, Phạm thiện Sahampati nói
như vậy. Sau khi nói vậy, lại nói thêm như sau:
Xưa tại Magadha,
Hiện ra pháp bất
tịnh,
Pháp do tâm cấu uế,
Do suy tư tác thành.
Hãy mỡ tung mở rộng,
Cánh cửa bất tử
này.
Hãy để họ nghe
Pháp,
Bậc Thanh tịnh Chứng
Ngộ.
Như đứng trên tảng
đá,
Trên đỉnh núi (tột
cao)
Có người đứng
nhìn xuống,
Ðám chúng sanh quây
quần.
Cũng vậy, ôi Thiện
Tuệ,
Bậc Biến Nhãn cùng
khắp,
Leo lên ngôi lâu đài,
Xây dựng bằng Chánh
pháp
Bậc Thoát Ly sầu
muộn,
Nhìn xuống đám quần
sanh,
Bị sầu khổ áp
bức,
Bị sanh già chi phối,
Ðứng lên vị Anh
Hùng,
Bậc Chiến Thắng
chiến trường.
Vị trưởng đoàn
lữ khách,
Bậc Thoát Ly nợ
nần.
Hãy đi khắp thế
giới,
Bậc Thế Tôn Chánh
Giác!
Hãy thuyết vi diệu
pháp,
Người nghe sẽ thâm
hiểu!
Này các Tỷ-kheo, sau
khi biết được lời Phạm thiên yêu cầu, vì lòng từ bi đối
với chúng sanh, với Phật nhãn, Ta nhìn quanh thế giới. Này
các Tỷ-kheo, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít
nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn,
độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy,
khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh
thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi
lầm. Như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng hay hồ sen trắng có
một số hoa sen xanh, sen hồng, hay sen trắng sanh ra dưới nước,
lớn lên dưới nước, không vượt lên khỏi mặt nước, được
nuôi dưỡng dưới nước. Có một hoa sen xanh, sen hồng hay
sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, sống
vươn lên tới mặt nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng
hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, vươn
lên khỏi mặt nước, không bị nước đẫm ướt. Cũng vậy,
này các Tỷ-kheo, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh
ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi
căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ
dạy khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái
sanh thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động
lỗi lầm. Và này các Tỷ-kheo, Ta nói lên bài kệ sau đây
với Phạm thiên Sahampati:
Cửa bất tử rộng
mở,
Cho những ai chịu
nghe.
Hãy từ bỏ tín tâm,
Không chính xác của
mình.
Tự nghĩ đến phiền
toái,
Ta đã không muốn
giảng,
Tối thượng vi diệu
pháp,
Giữa chúng sanh loài
Người.
(Ôi Phạm thiên)
Này các Tỷ-kheo, rồi
Phạm thiên Sahampati tự nghĩ: "Ta đã tạo cơ hội cho Thế
Tôn thuyết pháp", đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng (về
Ta) rồi biến mất tại chỗ.
Này các Tỷ-kheo, rồi
Ta tự suy nghĩ: "Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên, ai sẽ
mau hiểu Chánh pháp này?" Này các Tỷ-kheo, rồi Ta tự nghĩ:
"Nay có Alara Kalama là bậc trí thức, đa văn, sáng suốt, đã
từ lâu sống ít nhiễm bụi đời. Ta hãy thuyết pháp đầu
tiên cho Alara Kalama, vị này sẽ mau hiểu Chánh pháp này". Này
các Tỷ-kheo, rồi chư Thiên đến Ta và nói như sau: "Bạch
Thế Tôn, Alara Kalama đã mệnh chung bảy ngày rồi". Rồi tri
kiến khởi lên nơi Ta: "Alara Kalama đã mệnh chung bảy ngày
rồi". Này các Tỷ-kheo, Ta nghĩ: "Thật là một thiệt hại
lớn cho Alara Kalama: Nếu nghe pháp này, Alara Kalama sẽ mau thâm
hiểu".
Rồi này các Tỷ-kheo,
Ta lại nghĩ: "Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên? Ai sẽ mau
hiểu Chánh pháp này?" Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại nghĩ: "Nay
có Uddaka Ramaputta-là bậc tri thức, đa văn, sáng suốt, đã
từ lâu sống ít nhiễm bụi đời. Ta hãy thuyết pháp đầu
tiên cho Uddaka Ramaputta. Vị này sẽ mau hiểu Chánh pháp này."
Rồi chư Thiên đến Ta và nói như sau: "Bạch Thế Tôn Uddaka
Ramaputta đã mệnh chung ngày hôm qua". Rồi tri kiến khởi lên
nơi Ta: "Uddaka Ramaputta đã mệnh chung hôm qua". Này các Tỷ-kheo,
Ta nghĩ: "Thật là một thiệt hại lớn cho Uddaka Ramaputta. Nếu
nghe pháp này, Uddaka Ramaputta sẽ mau thâm hiểu".
Này các Tỷ-kheo, rồi
Ta suy nghĩ: "Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên? Ai sẽ mau
hiểu Chánh pháp này?" Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại nghĩ: "Nhóm
năm Tỷ-kheo này đã hầu hạ Ta khi Ta còn nỗ lực tinh cần,
nhóm ấy thật giúp ích nhiều. Vậy ta hãy thuyết pháp đầu
tiên cho nhóm năm Tỷ-kheo!" Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại nghĩ:
"Nay nhóm năm Tỷ-kheo ở tại đâu?" Này các Tỷ-kheo, với
thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Ta thấy nhóm năm Tỷ-kheo hiện
ở Baranasi (Ba la nại), tại Isipatana, vườn Lộc Uyển. Rồi
này các Tỷ-kheo, sau khi ở tại Uruvela lâu cho đến khi mãn
ý, Ta lên đường đi đến Baranasi.
(Khai giảng Chánh
Pháp)
Này các Tỷ-kheo, một
tà mạng ngoại đạo tên là Upaka, đã thấy Ta khi Ta còn đi
trên con đường giữa Gaya và cây Bồ-đề. Sau khi thấy, vị
ấy nói với Ta:
"-- Các căn của Hiền
giả thật sáng suốt. Da sắc của Hiền giả thật thanh tịnh,
thật thanh khiết. Này Hiền giả, vì mục đích gì, Hiền giả
xuất gia? Ai là bậc Ðạo Sư của Hiền giả? Hiền giả hoan
hỷ thọ trì pháp của ai?"
Này các Tỷ-kheo, khi
nghe nói vậy, Ta nói với tà mạng đạo Upaka bài kệ như sau:
"-- Ta, bậc Thắng
tất cả,
Ta, bậc Nhất thiết
Trí.
Hết thảy pháp, không
nhiễm,
Hết thảy pháp, xả
ly.
Ta sống chân giải
thoát,
Ðoạn tận mọi khát
ái.
Như vậy Ta tự giác,
Còn phải y chỉ ai?
Ta không có Ðạo Sư,
Bậc như Ta không
có.
Giữa thế giới Nhơn,
Thiên,
Không có ai bằng
Ta.
Bậc ng Cúng trên
đời,
Bậc Ðạo Sư vô
thượng.
Tự mình Chánh Ðẳng
Giác,
Ta an tịnh, thanh thoát.
Ðể chuyển bánh xe
Pháp.
Ta đến thành Kàsi.
Gióng lên trống bất
tử,
Trong thế giới mù
lòa."
"-- Như Hiền giả đã
tự xưng, Hiền giả xứng đáng là bậc Chiến thắng Vô tận.
"
"-- Như Ta, bậc Thắng
giả,
Những ai chứng lậu
tận,
Ác pháp, Ta nhiếp
phục,
Do vậy, Ta vô địch".
(Này Upaka)
Này các Tỷ-kheo, sau
khi được nói vậy, tà mạng ngoại đạo Upaka nói với Ta:
"-- Này Hiền giả, mong
rằng sự việc là vậy".
Nói xong, Upaka lắc đầu
rồi đi theo một ngã khác.
Này các Tỷ-kheo, rồi
Ta tuần tự đi đến Baranasi, Isipatana, vườn Lộc Uyển, đi
đến chỗ nhóm năm Tỷ-kheo ở. Này các Tỷ-kheo, nhóm năm
Tỷ-kheo khi thấy Ta từ xa đi đến, đã cùng nhau thỏa thuận
như sau: "Này các Hiền giả, nay Sa-môn Gotama đang đi đến;
vị này sống trong sự sung túc, đã từ bỏ tinh cần, đã
trở lui đời sống đầy đủ vật chất. Chúng ta chớ có
đảnh lễ, chớ có đứng dậy, chớ có lấy y bát. Hãy đặt
một chỗ ngồi, và nếu vị ấy muốn, vị ấy sẽ ngồi".
Này các Tỷ-kheo, nhưng khi Ta đi đến gần, năm Tỷ-kheo ấy
không thể giữ đúng điều đã thỏa thuận với nhau. Có người
đến đón Ta và cầm lấy y bát, có người sắp đặt chỗ
ngồi, có người đem nước rửa chân đến. Nhưng các vị
ấy gọi Ta bằng tên với danh từ Hiền giả (Avuso).
Này các Tỷ-kheo khi ta
nghe nói vậy, Ta nói với nhóm năm Tỷ-kheo:
"-- Này các Tỷ-kheo,
chớ có gọi Ta bằng tên và dùng danh từ Hiền giả. Này các
Tỷ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Hãy lóng
tai, Pháp bất tử đã chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết
pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không bao lâu,
sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt ngay trong hiện tại, mục
đích vô thượng của phạm hạnh mà các Thiện nam tử, xuất
gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông sẽ an trú.
"
Này các Tỷ-kheo, khi
nghe nói vậy, nhóm năm Tỷ-kheo nói Ta:
"-- Hiền giả Gotama,
với nếp sống này, với đạo tu này, với khổ hạnh này,
Hiền giả đã không chứng được Pháp siêu nhân, tri kiến,
thù thắng xứng đáng bậc Thánh, thì này làm sao Hiền giả,
với nếp sống sung túc, với sự từ bỏ tinh cần, với sự
trở lui đời sống vật chất đầy đủ, lại có thể chứng
được Pháp siêu nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc
Thánh?"
Này các Tỷ-kheo, khi
nghe nói vậy, Ta nói với nhóm năm Tỷ-kheo:
"-- Này các Tỷ-kheo,
Như Lai không sống sung túc, không từ bỏ tinh cần, không trở
lui đời sống vật chất đầy đủ. Này các Tỷ-kheo, Như
Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này các Tỷ-kheo, hãy
lóng tai, Pháp bất tử đã chứng được, Ta giảng dạy, Ta
thuyết pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không
bao lâu, sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt ngay trong hiện
tại mục đích vô thượng của Phạm hạnh mà các Thiện nam
tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông
sẽ an trú."
Này các Tỷ-kheo, lại
lần thứ hai, nhóm năm Tỷ-kheo nói với Ta:
"-- Hiền giả Gotama,
với nếp sống này... (như trên)... tri kiến thù thắng xứng
đáng bậc Thánh?"
Này các Tỷ-kheo, lại
lần thứ hai Ta nói với nhóm năm Tỷ-kheo:
"-- Này các Tỷ-kheo,
Như Lai không sống sung túc... (như trên)... các Ông sẽ an trú."
Này các Tỷ-kheo, lại
lần thứ ba, nhóm năm Tỷ-kheo nói với Ta:
"-- Hiền giả Gotama,
với nếp sống này... (như trên)... tri kiến thù thắng xứng
đáng bậc Thánh?"
Này các Tỷ-kheo, khi
nghe nói vậy, Ta nói với nhóm năm Tỷ-kheo:
"-- Này các Tỷ-kheo,
từ trước đến nay, các Ông có chấp nhận là Ta chưa bao
giờ nói như vậy chăng?"
"-- Bạch Thế Tôn chưa
bao giờ như vậy. "
"-- Này các Tỷ-kheo,
Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Hãy lóng tai, Pháp
bất tử đã chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết pháp.
Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không bao lâu, sau
khi tự tri, tư chứng, tự đạt được ngay trong hiện tại
mục đích vô thượng của phạm hạnh mà các Thiện nam tử
xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông sẽ
an trú".
Này các Tỷ-kheo, Ta đã
làm cho nhóm năm Tỷ-kheo chấp nhận. Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết
giảng cho hai Tỷ-kheo. Ba Tỷ-kheo kia đi khất thực. Ðồ ăn
mà ba Tỷ-kheo này khất thực mang về, đủ nuôi sống cho nhóm
sáu người. Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết giảng cho ba Tỷ-kheo.
Hai Tỷ-kheo kia đi khất thực.. Ðồ ăn mà hai Tỷ-kheo này
khất thực mang về, đủ nuôi sống cho nhóm sáu người. Này
các Tỷ-kheo, chúng năm Tỷ-kheo, sau khi được Ta thuyết giảng,
sau khi được Ta khuyến giáo, tự mình bị sanh, sau khi biết
được sự nguy hại của cái bị sanh, tìm cầu cái không sanh,
vô thượng an ổn, thoát khỏi các (khổ) ách, chứng Niết-bàn
và đã chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn, thoát
khỏi các (khổ) ách, chứng Niết-bàn, tự mình bị già...
cái không già... tự mình bị bệnh... cái không bệnh... tự
mình bị chết... cái không chết... tự mình bi sầu... cái
không sầu... tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết được sự
nguy hại của cái bị ô nhiễm, tìm cầu cái không ô nhiễm,
vô thượng an ổn, thoát khỏi các (khổ) ách, chứng Niết-bàn,
và đã chứng được cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn,
thoát khỏi các (khổ) ách, chứng Niết-bàn. Tri và kiến khởi
lên nơi họ: "Sự giải thoát của chúng ta không bị dao động,
đây thức gì được hiện khởi như vậy đều quy là đời
sống cuối cùng. Nay không còn tái sanh nữa".
(Năm dục)
Này các Tỷ-kheo, có
năm dục trưởng dưỡng. Thế nào là năm? Các sắc do mắt
nhận thức, sắc này khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý,
kích thích lòng dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức...
(như trên)... các hương do mũi nhận thức... các vị do lưỡi
nhận thức... các xúc do thân cảm xúc là khả ái, khả hỷ,
khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn. Này các
Tỷ-kheo, như vậy, là năm dục trưởng dưỡng.
Này các Tỷ-kheo, những
Sa-môn hay Bà-la-môn nào bị trói buộc, bị tham đắm, bị
mê say bởi năm dục trưởng dưỡng này, không thấy sự nguy
hại của chúng, không biết rõ sự xuất ly khỏi chúng, mà
thọ dụng chúng, những vị ấy cần phải được hiểu là:
"Các Người đã rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa, đã
bị Ác ma sử dụng như ý muốn". Này các Tỷ-kheo, như một
con nai sống trong rừng bị sập bẫy nằm xuống, con nai ấy
cần phải được hiểu là: "Nó đã rơi vào bất hạnh, đã
rơi vào tai họa, đã bị thợ săn sử dụng như ý muốn. Khi
người thợ săn đến, con nai không thể bỏ đi như ý muốn.
Này các Tỷ-kheo, cũng vậy, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn
nào bị trói buộc... (như trên)... đã bị Ác ma sử dụng
như ý muốn.
Này các Tỷ-kheo, những
Sa-môn hay Bà-la-môn nào không bị trói buộc, không bị tham
đắm, không bị mê say bởi năm dục trưởng dưỡng này, thấy
sự nguy hại của chúng, biết rõ sự xuất ly khỏi chúng,
và thọ dụng chúng, những vị ấy cần phải được hiểu
là: "Các Người không rơi vào bất hạnh, không rơi vào tai
họa, không bi Ác ma sử dụng như ý muốn". Này các Tỷ-kheo,
như một con nai sống trong rừng, không bị sập bẫy phải
nằm xuống, con nai ấy cần phải được hiểu là: "Nó không
rơi vào bất hạnh, nó không rơi vào tai họa, nó không bị
người thợ săn sử dụng như ý muốn". Khi người thợ săn
đến, con nai có thể bỏ đi như ý muốn. Này các Tỷ-kheo,
cũng vậy, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không bị trói buộc...
không bị Ác ma sử dụng như ý muốn.
Chư Tỷ-kheo, ví như
con nai sống trong rừng, đi qua đi lại trong rừng, an tâm nó
đi, an tâm nó đứng, an tâm nó ngồi, an tâm nó nằm. Tại
sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì nó vượt khỏi tầm tay của
người thợ săn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo
ly dục, ly ác bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất,
một trạng thái hỷ lạc, do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là: một vị đã làm
Ác Ma mù mắt, đã diệt trừ mọi vết tích, đã vượt khỏi
tầm mắt Ác ma.
Này các Tỷ-kheo, lại
nữa Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai,
một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ,
nội tĩnh nhất tâm. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi
là... đã vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.
Này các Tỷ-kheo, lại
nữa Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm
sự lạc thọ mà các vị Thánh gọi là xả niệm lạc trú,
chứng và trú Thiền thứ ba. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy
được gọi là... đã vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.
Này các Tỷ-kheo, lại
nữa Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ
trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc,
xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được
gọi là... vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.
Này các Tỷ-kheo, lại
nữa Tỷ-kheo vượt lên mọi sắc tướng, diệt trừ mọi chướng
ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng, Tỷ-kheo nghĩ
rằng: "Hư không là vô biên", chứng và trú Không vô biên xứ.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là... đã vượt
khỏi tầm mắt của Ác ma.
Này các Tỷ-kheo, lại
nữa Tỷ-kheo vượt lên mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng:
"Thức là vô biên", chứng và trú Thức Vô biên xứ. Này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là... đã vượt khỏi tầm
mắt của Ác ma.
Này các Tỷ-kheo, lại
nữa Tỷ-kheo vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng:
"Không có vật gì", chứng và trú Vô sở hữu xứ. Này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là... đã vượt khỏi tầm
mắt của Ác ma.
Này các Tỷ-kheo, lại
nữa Tỷ-kheo vượt lên mọi Vô sở hữu xứ, chứng và trú
Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ- kheo ấy
được gọi là...đã vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.
Này các Tỷ-kheo, lại
nữa Tỷ-kheo vượt lên mọi Phi tưởng phi phi tưởng xứ,
chứng và trú Diệt thọ tưởng (định). Sau khi thấy bằng
trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn trừ. Này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo ấy được gọi là một vị đã làm Ác ma mù mắt,
đã diệt trừ mọi vết tích, đã vượt khỏi tầm mắt Ác
ma. Vị ấy đã vượt khỏi mọi triền phược ở đời. An
tâm vị ấy đi, an tâm vị ấy đứng, an tâm vị ấy ngồi,
an tâm vị ấy nằm. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì vị ấy
vượt khỏi tầm tay của Ác ma.
Thế Tôn thuyết giảng
như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch Việt