2. Kinh
Tất cả các lậu hoặc
(Sabbàsava sutta)
Như
vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm),
vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Khi ở tại chỗ ấy,
Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo!" --"Bạch Thế
Tôn", các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói: "Này
các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Người pháp môn phòng hộ
tất cả lậu hoặc". Hãy nghe và khéo tác ý. Ta sẽ nói". --"Thưa
vâng, bạch Thế Tôn". Thế Tôn nói như sau:
(Tóm
lược)
--
Này các Tỷ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho
người biết, cho người thấy, không phải cho người không
biết, cho người không thấy. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người
thấy: có như lý tác ý và không như lý tác ý. Này các Tỷ-kheo,
do không như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh được sanh
khởi, và các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng. Này
các Tỷ-kheo, do như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh không
sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt. Này
các Tỷ-kheo, có những lậu hoặc phải do tri kiến được
đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do phòng hộ được
đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do thọ dụng được
đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do kham nhẫn được
đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do tránh né được đoạn
trừ, có những lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn
trừ, có những lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ.
(Các
lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ)
Này
các Tỷ-kheo, và thế nào là các lậu hoặc phải do tri kiến
được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây có kẻ phàm phu
ít nghe, không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục
pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không
được thấy các bậc Chơn nhơn, không thuần thục pháp các
bậc Chơn nhơn, không tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, không
tuệ tri các pháp cần phải tác ý, không tuệ tri các pháp
không cần phải tác ý; vị này vì không tuệ tri các pháp
cần phải tác ý, vì không tuệ tri các pháp không cần phải
tác ý nên tác ý các pháp không cần phải tác ý và không
tác ý các pháp cần phải tác ý.
Này
các Tỷ-kheo, và thế nào là các pháp không cần phải tác
ý mà vị ấy tác ý? Này các Tỷ-kheo, nghĩa là các pháp do
vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh được sanh khởi, hay
dục lậu đã sanh được tăng trưởng; hay hữu lậu chưa sanh
được sanh khởi, hay hữu lậu đã sanh được tăng trưởng,
hay vô minh lậu chưa sanh được sanh khởi, hay vô minh lậu
đã sanh được tăng trưởng. Những pháp ấy là những pháp
không cần phải tác ý mà vị ấy tác ý. Này các Tỷ-kheo,
và thế nào là các pháp cần phải tác ý mà vị ấy không
tác ý? Này các Tỷ-kheo, nghĩa là các pháp do vị ấy tác ý
mà dục lậu chưa sanh không sanh khởi, hay dục lậu đã sanh
được trừ diệt, hay hữu lậu chưa sanh không sanh khởi, hay
hữu lậu đã sanh được trừ diệt, hay vô minh lậu chưa sanh
không sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh được trừ diệt.
Những pháp ấy là những pháp cần phải tác ý mà các vị
ấy không tác ý. Do vị ấy tác ý các pháp không nên tác ý,
do vị ấy không tác ý các pháp cần phải tác ý, nên các
lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, và các lậu hoặc đã
sanh được tăng trưởng.
Vị
ấy không như lý tác ý như sau: "Ta có mặt trong thời quá
khứ, hay ta không có mặt trong thời quá khứ? Ta có mặt trong
thời quá khứ như thế nào? Ta có mặt trong thời quá khứ
hình vóc như thế nào? Trước kia ta-là gì và ta đã có mặt
như thế nào trong thời quá khứ? Ta sẽ có mặt trong thời
vị lai hay ta sẽ không có mặt trong thời vị lai? Ta sẽ có
mặt trong thời vị lai như thế nào? Ta sẽ có mặt trong thời
vị lai, hình vóc như thế nào? Trước kia ta là gì và ta sẽ
có mặt như thế nào trong thời vị lai?" Hay nay vị ấy có
nghi ngờ về mình trong thời hiện tại: "Ta có mặt hay ta không
có mặt? Ta có mặt như thế nào? Ta có mặt hình vóc như thế
nào? Chúng sanh này từ đâu đến? Và rồi nó sẽ đi đâu?".
Với
người không như lý tác ý như vậy, một trong sáu tà kiến
này khởi lên: "Ta có tự ngã", tà kiến này khởi lên với
người ấy như thật, như chơn; "Ta không có tự ngã", tà kiến
này khởi lên với người ấy như thật như chơn; "Do tự mình,
ta tưởng tri ta có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người
ấy như thật, như chơn; "Do tự mình, ta tưởng tri ta không
có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người ấy như thật,
như chơn. "Không do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã", tà
kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; hay
tà kiến này khởi lên với người ấy: "Chính tự ngã của
ta nói, cảm giác, hưởng thọ quả báo các nghiệp thiện ác
đã làm chỗ này, chỗ kia, chính tự ngã ấy của ta-là thường
trú, thường hằng, hằng tồn, không chuyển biến, và sẽ
vĩnh viễn tồn tại". Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là tà
kiến, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh
chấp, kiến kiết phược. Này các Tỷ-kheo, trói buộc bởi
kiến kiết sử, kẻ phàm phu ít nghe không được giải thoát
khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói kẻ ấy
không thoát khỏi khổ đau.
Này
các Tỷ-kheo, và vị Thánh đệ tử nghe nhiều, được thấy
các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp
các bậc Thánh; được thấy các bậc Chơn nhơn, thuần thục
pháp các bậc Chơn nhơn, tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, tuệ
tri các pháp cần phải tác ý, tuệ tri các pháp không cần
phải tác ý. Vị này, nhờ tuệ tri các pháp cần phải tác
ý, nhờ tuệ tri các pháp không cần phải tác ý, nên không
tác ý các pháp không cần phải tác ý và tác ý các pháp cần
phải tác ý.
Và
này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp không cần phải tác
ý và vị này không tác ý? Này các Tỷ-kheo, những pháp nào
do tác ý mà dục lậu chưa sanh được sanh khởi, hay dục lậu
đã sanh được tăng trưởng; hay hữu lậu chưa sanh... (như
trên)... hay vô minh lậu chưa sanh được khởi, hay vô minh lậu
đã sanh được tăng trưởng. Ðó là những pháp không nên
tác ý và vị ấy không tác ý. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là các pháp cần phải tác ý và vị ấy tác ý? Này các Tỷ-kheo,
những pháp nào do tác ý mà dục lậu chưa sanh không sanh khởi,
hay dục lậu đã sanh được trừ diệt, hay hữu lậu chưa
sanh... (như trên)... hay vô minh lậu chưa sanh không sanh khởi,
hay vô minh lậu đã sanh được trừ diệt, đó là những pháp
cần phải tác ý và vị ấy tác ý. Nhờ vị ấy không tác
ý các pháp không cần phải tác ý, tác ý các pháp cần phải
tác ý nên các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi và các lậu
hoặc đã sanh được trừ diệt.
Vị
ấy như lý tác ý: "Ðây là khổ", như lý tác ý: "Ðây là
khổ tập", như lý tác ý: "Ðây là khổ diệt", như lý tác
ý: "Ðây là con đường đưa đến khổ diệt". Nhờ vị ấy
tác ý như vậy, ba kiết sử được trừ diệt: thân kiến,
nghi, giới cấm thủ. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được
gọi là các lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ.
(Các
lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ)
Và
này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do phòng
hộ được đoạn trừ? Ở đây, có Tỷ-kheo như lý giác sát,
sống phòng hộ với sự phòng hộ con mắt. Này các Tỷ-kheo,
nếu Tỷ-kheo ấy sống không phòng hộ với sự phòng hộ con
mắt, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên.
Nếu sống phòng hộ với sự phòng hộ con mắt, các lậu hoặc
tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Vị ấy như lý
giác sát, sống phòng hộ với sự phòng hộ lỗ tai... (như
trên)... sống phòng hộ với sự phòng hộ lỗi mũi... (như
trên)... sống phòng hộ với sự phòng hộ lưỡi... (như trên)...
sống như lý giác sát phòng hộ với sự phòng hộ thân căn...
(như trên)... sống như lý giác sát phòng hộ với sự phòng
hộ ý căn. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy sống không phòng
hộ với sự phòng hộ ý căn, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt
não ấy có thể khởi lên. Nếu sống phòng hộ ý căn, các
lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các
Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải
do phòng hộ được đoạn trừ.
(Các
lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ)
Và
này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do thọ dụng
được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như
lý giác sát, thọ dụng y phục, chỉ để ngăn ngừa lạnh,
ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc phạm của ruồi, muỗi,
gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, chỉ với mục
đích che đậy sự trần truồng.
Vị
ấy như lý giác sát, thọ dụng món ăn khất thực không phải
để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang
sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân
này được sống lâu và được bảo dưỡng, để (thân này)
khỏi bị thương hại, để hổ trợ phạm hạnh, nghĩ rằng:
"Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi
lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống
được an ổn".
Vị
ấy như lý giác sát, thọ dụng sàng tọa, chỉ để ngăn ngừa
lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc phạm của ruồi,
muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loại bò sát, chỉ để
giải trừ nguy hiểm của thời tiết, chỉ với mục đích
sống độc cư an tịnh.
Vị
ấy như lý giác sát thọ dụng dược phẩm trị bệnh, chỉ
để ngăn chận các cảm giác khổ thống đã sanh, để được
ly khổ hoàn toàn.
Này
các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không thọ dụng như vậy, các lậu
hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu vị ấy
thọ dụng như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não
ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi
là các lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ.
(Các
lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ)
Và
này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do kham nhẫn
được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, có Tỷ-kheo như
lý giác sát, kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc phạm
của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát;
kham nhẫn những cách nói mạ l, phỉ báng. Vị ấy có tánh
kham nhẫn các cảm thọ về thân, những cảm thọ thống khổ,
khốc liệt, đau nhói, nhức nhối, không sung sướng, không
thích thú, chết điếng người. Này các Tỷ-kheo, nếu vị
ấy không kham nhẫn như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt
não có thể khởi lên. Nếu vị ấy kham nhẫn như vậy, các
lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các
Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải
do kham nhẫn được đoạn trừ.
(Các
lậu hoặc phải do tránh né được đoạn trừ)
Và
này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do tránh
né được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như
lý giác sát tránh né voi dữ, tránh né ngựa dữ, tránh né
bò dữ, tránh né chó dữ, rắn, khúc cây, gai góc, hố sâu,
vực núi, ao nước nhớp, vũng nước. Có những chỗ ngồi
không xứng đáng ngồi, những trú xứ không nên lai vãng, những
bạn bè ác độc mà nếu giao du thì bị các vị đồng phạm
hạnh có trí nghi ngờ, khinh thường; vị ấy như lý giác sát
tránh né chỗ ngồi không xứng đáng ấy, trú xứ không nên
lai vãng ấy và các bạn độc ác ấy. Này các Tỷ-kheo, nếu
vị ấy không tránh né như vậy, các lậu hoặc tàn hại và
nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy tránh né như
vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa.
Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc
phải do tránh né được đoạn trừ.
(Các
lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn trừ)
Và
này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do trừ diệt
được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như
lý giác sát không có chấp nhận dục niệm đã khởi lên,
từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (dục niệm
ấy); không có chấp nhận sân niệm đã khởi lên, từ bỏ,
trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (sân niệm ấy);
không có chấp nhận hại niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ
diệt, diệt tận, không cho tồn tại (hại niệm ấy); không
chấp nhận các ác bất thiện pháp luôn luôn khởi lên, từ
bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (các ác bất
thiện pháp ấy). Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không trừ
diệt như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có
thể khởi lên. Nếu vị ấy trừ diệt như vậy, các lậu
hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo,
các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do trừ diệt
được đoạn diệt.
(Các
lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ)
Và
này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do tu tập
được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như
lý giác sát tu tập niệm giác chi, niệm giác chi này y viễn
ly, y ly tham, y đoạn diệt, hướng đến từ bỏ; như lý giác
sát tu tập trạch pháp giác chi... (như trên)... tu tập tinh
tấn giác chi... tu tập hỷ giác chi... tu tập khinh an giác chi...
tu tập định giác chi... tu tập xả giác chi; xả giác chi này
y viễn ly, y ly tham, y đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Này
các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không tu tập như vậy, các lậu
hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị
ấy tu tập như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não
ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi
là các lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ.
(Kết
luận)
Này
các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo những lậu hoặc nào phải
do tri kiến được đoạn trừ đã được tri kiến đoạn trừ,
những lậu hoặc nào phải do phòng hộ được đoạn trừ
đã được phòng hộ đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải
do thọ dụng dược đoạn trừ đã được thọ dụng đoạn
trừ, những lậu hoặc nào phải do kham nhẫn được đoạn
trừ đã được kham nhẫn đoạn trừ, những lậu hoặc nào
phải do tránh né được đoạn trừ đã được tránh né đoạn
trừ, những lậu hoặc nào phải do trừ diệt được đoạn
trừ đã được trừ diệt đoạn trừ, những lậu hoặc nào
phải do tu tập được đoạn trừ đã được tu tập đoạn
trừ; này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là đã sống
phòng hộ với sự phòng hộ tất cả lậu hoặc, đã đoạn
diệt khát ái, đã thoát ly kiết sử, đã chánh quán kiêu mạn,
đã diệt tận khổ đau.
Như
vậy Thế Tôn thuyết giảng. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín
thọ lời dạy của Thế Tôn.
Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Majjhima Nikaya
2
Sabbasava Sutta
All the Fermentations
English
translation by Bhikkhu Thanissaro
For
free distribution only, as a gift of Dhamma
I have
heard that on one occasion the Blessed One was staying at Savatthi,
in Jeta's Grove, Anathapindika's monastery. There
he addressed the monks: "Monks!"
"Yes,
lord," the monks replied.
The
Blessed One said, "Monks, the ending of the fermentations is for one who
knows and sees, I tell you, not for one who does not know and does not
see. For one who knows what and sees what? Appropriate attention and inappropriate
attention. When a monk attends inappropriately, unarisen fermentations
arise, and arisen fermentations increase. When a monk attends appropriately,
unarisen fermentations do not arise, and arisen fermentations are abandoned.
There are fermentations to be abandoned by seeing, those to be abandoned
by restraining, those to be abandoned by using, those to be abandoned by
tolerating, those to be abandoned by avoiding, those to be abandoned by
destroying, and those to be abandoned by developing.
"[1]
And what are the fermentations to be abandoned by seeing? There is the
case where an uninstructed, run-of-the-mill person -- who has no regard
for noble ones, is not well-versed or disciplined in their Dhamma; who
has no regard for men of integrity, is not well-versed or disciplined in
their Dhamma -- does not discern what ideas are fit for attention or what
ideas are unfit for attention. This being so, he does not attend to ideas
fit for attention and attends [instead] to ideas unfit for attention.
"And
what are the ideas unfit for attention that he attends to? Whatever ideas
such that, when he attends to them, the unarisen fermentation of sensuality
arises in him, and the arisen fermentation of sensuality increases; the
unarisen fermentation of becoming arises in him, and arisen fermentation
of becoming increases; the unarisen fermentation of ignorance arises in
him, and the arisen fermentation of ignorance increases. These are the
ideas unfit for attention that he attends to.
"And
what are the ideas fit for attention that he does not attend to? Whatever
ideas such that, when he attends to them, the unarisen fermentation of
sensuality does not arise in him, and the arisen fermentation of sensuality
is abandoned; the unarisen fermentation of becoming does not arise in him,
and arisen fermentation of becoming is abandoned; the unarisen fermentation
of ignorance does not arise in him, and the arisen fermentation of ignorance
is abandoned. These are the ideas fit for attention that he does not attend
to. Through his attending to ideas unfit for attention and through his
not attending to ideas fit for attention, both unarisen fermentations arise
in him, and arisen fermentations increase.
"This
is how he attends inappropriately: 'Was I in the past? Was I not in the
past? What was I in the past? How was I in the past? Having been what,
what was I in the past? Shall I be in the future? Shall I not be in the
future? What shall I be in the future? How shall I be in the future? Having
been what, what shall I be in the future?' Or else he is inwardly perplexed
about the immediate present: 'Am I? Am I not? What am I? How am I? Where
has this being come from? Where is it bound?'
"As
he attends inappropriately in this way, one of six kinds of view arises
in him: The view I have a self arises in him as true and established,
or the view I have no self ...or the view It is precisely by
means of self that I perceive self ...or the view It is precisely
by means of self that I perceive not-self ...or the view It is precisely
by means of not-self that I perceive self arises in him as true and
established, or else he has a view like this:
This very self of mine
-- the knower that is sensitive here and there to the ripening of good
and bad actions -- is the self of mine that is constant, everlasting, eternal,
not subject to change, and will endure as long as eternity. This is
called a thicket of views, a wilderness of views, a contortion of views,
a writhing of views, a fetter of views. Bound by a fetter of views, the
uninstructed run-of-the-mill person is not freed from birth, aging, and
death, from sorrow, lamentation, pain, distress, and despair. He is not
freed, I tell you, from suffering and stress.
"The
well-instructed noble disciple -- who has regard for noble ones, is well-versed
and disciplined in their Dhamma; who has regard for men of integrity, is
well-versed and disciplined in their Dhamma -- discerns what ideas are
fit for attention and what ideas are unfit for attention. This being so,
he does not attend to ideas unfit for attention and attends [instead] to
ideas fit for attention.
"And
what are the ideas unfit for attention that he does not attend to? Whatever
ideas such that, when he attends to them, the unarisen fermentation of
sensuality arises in him, and the arisen fermentation of sensuality increases;
the unarisen fermentation of becoming arises in him, and arisen fermentation
of becoming increases; the unarisen fermentation of ignorance arises in
him, and the arisen fermentation of ignorance increases. These are the
ideas unfit for attention that he does not attends to.
"And
what are the ideas fit for attention that he does attend to? Whatever ideas
such that, when he attends to them, the unarisen fermentation of sensuality
does not arise in him, and the arisen fermentation of sensuality is abandoned;
the unarisen fermentation of becoming does not arise in him, and the arisen
fermentation of becoming is abandoned; the unarisen fermentation of ignorance
does not arise in him, and the arisen fermentation of ignorance is abandoned.
These are the ideas fit for attention that he does attend to. Through his
not attending to ideas unfit for attention and through his attending to
ideas fit for attention, unarisen fermentations do not arise in him, and
arisen fermentations are abandoned.
"He
attends appropriately, This is stress...This is the origination of stress...This
is the cessation of stress...This is the way leading to the cessation of
stress. As he attends appropriately in this way, three fetters are
abandoned in him: identity-view, doubt, and grasping at precepts and practices.
These are called the fermentations to be abandoned by seeing.
"[2]
And what are the fermentations to be abandoned by restraining? There is
the case where a monk, reflecting appropriately, dwells restrained with
the restraint of the eye-faculty. The fermentations, vexation, or fever
that would arise if he were to dwell unrestrained with the restraint of
the eye-faculty do not arise for him when he dwells restrained with the
restraint of the eye-faculty.
Reflecting
appropriately, he dwells restrained with the restraint of the ear-faculty...
Reflecting
appropriately, he dwells restrained with the restraint of the nose-faculty...
Reflecting
appropriately, he dwells restrained with the restraint of the tongue-faculty...
Reflecting
appropriately, he dwells restrained with the restraint of the body-faculty...
Reflecting
appropriately, he dwells restrained with the restraint of the intellect-faculty.
The fermentations, vexation, or fever that would arise if he were to dwell
unrestrained with the restraint of the intellect-faculty do not arise for
him when he dwells restrained with the restraint of the intellect-faculty.
These are called the fermentations to be abandoned by restraining.
"[3]
And what are the fermentations to be abandoned by using? There is the case
where a monk, reflecting appropriately, uses the robe simply to counteract
cold, to counteract heat, to counteract the touch of flies, mosquitoes,
wind, sun, and reptiles; simply for the purpose of covering the parts of
the body that cause shame.
"Reflecting
appropriately, he uses almsfood, not playfully, nor for intoxication, nor
for putting on bulk, nor for beautification; but simply for the survival
and continuance of this body, for ending its afflictions, for the support
of the holy life, thinking, 'Thus will I destroy old feelings [of hunger]
and not create new feelings [from overeating]. I will maintain myself,
be blameless, and live in comfort.'
"Reflecting
appropriately, he uses lodging simply to counteract cold, to counteract
heat, to counteract the touch of flies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles;
simply for protection from the inclemencies of weather and for the enjoyment
of seclusion.
"Reflecting
appropriately, he uses medicinal requisites that are used for curing the
sick simply to counteract any pains of illness that have arisen and for
maximum freedom from disease.
"The
fermentations, vexation, or fever that would arise if he were not to use
these things [in this way] do not arise for him when he uses them [in this
way]. These are called the fermentations to be abandoned by using.
"[4]
And what are the fermentations to be abandoned by tolerating? There is
the case where a monk, reflecting appropriately, endures. He tolerates
cold, heat, hunger, and thirst; the touch of flies, mosquitoes, wind, sun,
and reptiles; ill-spoken, unwelcome words and bodily feelings that, when
they arise, are painful, racking, sharp, piercing, disagreeable, displeasing,
and menacing to life. The fermentations, vexation, or fever that would
arise if he were not to tolerate these things do not arise for him when
he tolerates them. These are called the fermentations to be abandoned by
tolerating.
"[5]
And what are the fermentations to be abandoned by avoiding? There is the
case where a monk, reflecting appropriately, avoids a wild elephant, a
wild horse, a wild bull, a wild dog, a snake, a stump, a bramble patch,
a chasm, a cliff, a cesspool, an open sewer. Reflecting appropriately,
he avoids sitting in the sorts of unsuitable seats, wandering to the sorts
of unsuitable habitats, and associating with the sorts of bad friends that
would make his knowledgeable friends in the holy life suspect him of evil
conduct. The fermentations, vexation, or fever that would arise if he were
not to avoid these things do not arise for him when he avoids them. These
are called the fermentations to be abandoned by avoiding.
"[6]
And what are the fermentations to be abandoned by destroying? There is
the case where a monk, reflecting appropriately, does not tolerate an arisen
thought of sensuality. He abandons it, destroys it, dispels it, and wipes
it out of existence.
Reflecting
appropriately, he does not tolerate an arisen thought of ill will ...
Reflecting
appropriately, he does not tolerate an arisen thought of cruelty...
Reflecting
appropriately, he does not tolerate arisen evil, unskillful mental qualities.
He abandons them, destroys them, dispels them, and wipes them out of existence.
The fermentations, vexation, or fever that would arise if he were not to
destroy these things do not arise for him when he destroys them. These
are called the fermentations to be abandoned by destroying.
"[7]
And what are the fermentations to be abandoned by developing? There is
the case where a monk, reflecting appropriately, develops mindfulness
as a factor of awakening dependent on seclusion...dispassion...cessation,
resulting in letting go. He develops analysis of qualities as a
factor of awakening...persistence as a factor of awakening...rapture
as a factor of awakening...serenity as a factor of awakening...concentration
as a factor of awakening...equanimity as a factor of awakening dependent
on seclusion...dispassion...cessation, resulting in letting go. The fermentations,
vexation, or fever that would arise if he were not to develop these qualities
do not arise for him when he develops them. These are called the fermentations
to be abandoned by developing.
"When
a monk's fermentations that should be abandoned by seeing have been abandoned
by seeing, his fermentations that should be abandoned by restraining have
been abandoned by restraining, his fermentations that should be abandoned
by using have been abandoned by using, his fermentations that should be
abandoned by tolerating have been abandoned by tolerating, his fermentations
that should be abandoned by avoiding have been abandoned by avoiding, his
fermentations that should be abandoned by destroying have been abandoned
by destroying, his fermentations that should be abandoned by developing
have been abandoned by developing, then he is called a monk who dwells
restrained with the restraint of all the fermentations. He has severed
craving, thrown off the fetters, and -- through the right penetration of
conceit -- has made an end of suffering and stress."
That
is what the Blessed One said. Gratified, the monks delighted in the Blessed
One's words.
Revised:
9 November 1998 , http://world.std.com/~metta/canon/majjhima/mn2.html