Mục
Lục
I. Tựa
II. Phần Ðầu
Tỷ-Kheo Ni Giới
III. Tỷ-Kheo
Ni Giới
1. Lời
Mở Ðầu
2. Tám Giới
Khí
3. Mười Bảy
Giới Tăng Tàn
4. Ba Mươi
Giới Xả Ðọa
5. Một Trăm
Bảy Mươi Tám Giới Ðọa
6. Tám Giới
Hối Quá
7. Một Trăm
Giới Học
8. Bảy Pháp
Diệt Tránh
9. Lời Kết
Thúc
IV. Phần Cuối
Tỷ-Kheo Ni Giới
V. Ghi Chú
Ghi sau khi duyệt
Tỷ-Kheo Ni Giới
Ổn thỏa nhất
là những gì cần làm cho Tỷ-kheo giới và Tỷ-kheo ni giới
thì nên làm chung. Nhưng làm cho Tỷ-kheo giới rồi tôi mới
phát nguyện làm cho Tỷ-kheo ni giới. Do đó, Tỷ-kheo ni giới
không có một ít điều tôi đã làm cho Tỷ-kheo giới. Ngay
lời ghi này cũng vậy. Những gì cần ghi, tôi đã ghi bên Tỷ-kheo
giới. Luật không ngăn cản Tỷ-kheo coi Tỷ-kheo ni giới hay
ngăn cản Tỷ-kheo ni coi Tỷ-kheo giới. Vậy những gì bên Tỷ-kheo
giới, chư vị Tỷ-kheo ni có thể thẩm cứu.
Dầu vậy, ở
đây tôi muốn ghi về sự ăn thịt cá mà Tỷ-kheo ni giới
không dịch lược đi được. Mở rộng vấn đề một chút
là nói về sự ăn chay ăn mặn.
Nguyên thỉ Phật
giáo - mà cái này mới chắc là nguyên thỉ - thì "tùy
thí tùy thực" (cho gì ăn nấy). Nếu tôi nhớ không
lầm, thì trước thời Phật, các triết gia U-pa-ni-sát đã
ăn chay. Và ăn một cách nghiêm khắc, cái ăn đó có gây phiền
phức. Cái ăn đó là một cực đoan. Rồi khi chống lại Phật,
muốn lập Phật giáo riêng, Ðề-bà-đạt-đa (Devadatta) đưa
ra 5 sự, trong đó "thứ 5 là suốt đời không ăn thịt cá
máu mỡ bơ sữa" (Bà-sa 116, Phật học đại từ điển trang
533 dẫn). Thế đó lại càng là cực đoan. Bây giờ ta giả
thiết bên ăn chay đòi cho được đồ chay, bên ăn mặn đòi
cho được đồ mặn, thì thế chính là cực đoan, gây bao phiền
phức cho người cho.
Phật không như
vậy. Phật thì tăng ni đến gần giờ ăn mới đi khất thực.
Khất thực thì ngay bữa ăn của người cho, họ bớt ra mà
cúng dường. Bữa ăn của họ có gì, họ cúng dường cũng
cái đó. Khất thực không đòi cho được đồ chay hay đồ
mặn. Do vậy mà trong luật mới có giới điều nói về sự
ăn cá thịt.
Ðại thừa thì
khác. Hãy gác vấn đề đại thừa có phải cũng là Phật
giáo nguyên thỉ không, chỉ nói đại thừa cấm tuyệt sự
ăn mọi thứ thịt, với ý thức ăn thịt là phản Phật tánh,
là phi từ bi. Và sự cấm ăn thịt này thực sự tuyệt đối,
cấm như sắc lịnh là bởi Lương vũ đế. Ngày nay nói Phật
giáo là nói ăn chay. Ăn có thịt cá trở thành lạ lùng, khó
nghe và khó coi.
Ghi như trên đây
là để giải thích sự ăn có cá thịt trong Luật, cho thấy
Phật tử phải ăn chay là vì sao.
Mười
hai tháng 5, PL 2537 (TL 1993)
Trí Quang
I. Tựa
Sau khi dịch Tỷ-kheo
giới rồi, để cầu siêu nhân kỳ mẹ tôi, tôi phát ra cái
ý dịch luôn Tỷ-kheo ni giới và Thức-xoa-ma-na ni giới. Trước
đây tôi đã dịch Sa-di giới (Sa-di luật nghi yếu lược) và
Sa-di ni giới (Sa-di ni luật nghi yếu lược). Bồ-tát giới
thì đã được dịch lại, và lược giải khá kỹ, năm 2531
(1987). Như vậy là tất cả giới luật của 5 chúng xuất gia
đã dịch xong.
Tỷ-kheo ni giới,
khi tôi dịch, chỉ tìm thấy 3 bản. Bản 1 mang số 1481 của
Ðại tạng kinh bản Ðại chính, do ngài Hoài tố biên tập.
Bản 2 của ngài Nguyên chiếu, nằm trong Tục tạng kinh bản
chữ Vạn, tập 64 các trang 1-12. Bản 3 là giới kinh thường
tụng nếu tụng Hoa văn, do Phật giáo Bắc tông khắc và ấn
hành. Cả 3 bản, không có bản nào được như Tứ phần luật
hàm chú giới bản của Tỷ-kheo giới, nên tôi chọn bản thường
tụng làm chính văn.
Tài liệu tham
khảo thì ngoài phần chính là Tứ phần luật (các cuốn 22-30),
còn có những tài liệu sau đây: Tứ phần luật danh nghĩa
tiêu thích (gọi tắt là Danh nghĩa), bộ này đích xác là tự
điển và từ điển của Tứ phần luật, nằm trong Vạn 70/201-501;
Trùng trị, phần Tỷ-kheo ni giới (Vạn 63/292-307); Tỷ-kheo
giới, bản dịch của tôi; Một bản dịch Tỷ-kheo ni giới
không thấy tư tên người dịch.
Tỷ-kheo ni giới
không có cái phước được chính ngài Ðạo tuyên làm việc
cho, như cuốn Tứ phần luật hàm chú giới bản.
Trong cách dịch
của tôi nên nói về tên của các giới điều. Bởi thấy
đa số tên ấy tóm tắt và nêu lên ý chính, nên tôi dịch
và để trước các giới điều. Thế nhưng đến loại 6 và
loại 7, tác dụng ấy không có bao nhiêu nên tôi không dịch
nữa.
Nay nên nói nội
dung của Tỷ-kheo ni giới, bằng cách đối quán sơ lược với
nhau giữa 5 bản Tỷ-kheo ni giới của 5 bộ luật. Tỷ-kheo
ni giới có 7 loại. Trong đó, loại một là khí, thì 5 bộ
luật đồng nhau; loại hai là tăng tàn, thì Tăng-kỳ có 19,
Ngũ phần, Thập tụng và Tứ phần đều có 17, Hữu bộ có
20; loại ba là xả đọa, thì Tăng-kỳ, Ngũ phần, Thập tụng
và Tứ phần đều có 30, Hữu bộ có 33; loại bốn là đọa,
thì Tăng-kỳ có 141, Ngũ phần có 210, Thập tụng có 178, Tứ
phần có 178, Hữu bộ có 180; loại năm là hối quá, thì Tăng-kỳ,
Ngũ phần, Thập tụng và Tứ phần đều có 8, Hữu bộ có
11; loại sáu là học pháp, thì Tăng-kỳ có 65, Ngũ phần và
Tứ phần đều có 100, Thập tụng có 107, Hữu bộ có 42; loại
bảy là diệt tránh, thì 4 bộ đều có 7, trừ Ngũ phần không
có.
Bây giờ nói về
đại thể của Tỷ-kheo ni giới. Ðại thể ấy có 2 phần:
phần 1 là giới luật, phần 2 là oai nghi. Phần 1 là những
giới điều cấm tội lỗi thật sự, phần 2 là những giới
điều cấm cử động bất xứng. Tức như loại khí có thể
nói là giới luật cả, loại học pháp có thể nói là oai
nghi cả. Còn các loại khác thì có giới là giới luật, có
giới là oai nghi, có giới là cả hai. Tất cả giới luật
và oai nghi như vậy tạo thành một bậc Chúng trung tôn.
Ðến đây hãy
nêu lên mấy điều. Một, "ngôn ngữ của giới này ai nghe
thì đừng kinh quái, phát ngượng, mà phải nghĩ đến ơn Phật,
đã ly ái nhiễm, đã đắc thanh tịnh, nhưng vì chúng ta nên
kiết giới với những lời chữ không phải mỹ từ" (Thiện
kiến, Vạn 64/1 dẫn). Hai, về trường hợp có ra giới pháp
thì đời Phật, tập thể Tỷ-kheo ni cũng không ít, vậy mà
chỉ có 6 bà gọi là "lục quần Tỷ-kheo ni", và năm ba vị
nữa, có những cử động bất xứng, chứng tỏ tập thể
Tỷ-kheo ni ấy xứng đáng không ít. Ba, số lượng của giới
điều thật ra cũng không nhiều lắm, dò kỷ sẽ thấy con
số 348 có thể qui nạp còn quá nửa mà thôi. Bốn, giới điều
nhiều đến mấy đi nữa mà, như Tứ phần luật nói, hễ
có thiểu dục tri túc (kèm theo là tàm quí) thì giữ được
hết cả, kể cả khai giá (linh động và hạn chế) của mỗi
giới điều cũng thấy ra và giữ trọn.
Ai cũng có cái
hảo tâm xuất gia ban đầu. Ai đứng trước Phật cũng muốn
mình xứng đáng với Ngài. Nhưng chỉ có giới luật mới làm
mình xứng đáng với Phật và không phụ hảo tâm của mình.
Mồng 7 tháng
6, PL 2535 (TL 1991)
Trí Quang