(1) Giới
kinh ở đây là Tỷ-kheo giới bản. Giới kinh ở đây còn có
2 trường hợp nữa. Có trường hợp chỉ cho Tứ phần luật.
Có trường hợp chỉ cho mỗi bài tụng của 7 đức Phật nói
Giới kinh.
(2) Chính văn là
thánh pháp tài (tài sản chánh pháp của các vị thánh), thường
nói tắt là thánh tài. Thánh tài có 7 thứ, là tín, giới,
tàm, quí, văn, xả, tuệ. Có 7 thứ này thì gọi là thánh nhân
(kinh Niết bàn).
(3) Tỷ-kheo giới
có 8 loại:
1. ba-la-di
(khí), có 4;
2. tăng-già bà-thi-sa
(tăng tàn), có 13;
3. bất định,
có 2;
4. ni-tát-kỳ
ba-dật-đề (xả đọa), có 30;
5. ba-dật-đề
(đọa), có 90;
6. ba-la-đề-xá-ni
(hối quá), có 4;
7. thức-xoa-ca-la
(học pháp), có 100;
8. diệt tránh,
có 7.
Chính văn này
chỉ đưa ra 3 loại là nói tắt.
(4) Dịch đúng chính
văn là nói việc ấy cho tôi. Chính văn này không chỉnh. Ở
đây là các đức Phật đều nói Giới kinh.
(5) Giới luật
của các dị giáo, ngoại đạo.
(6) Hỏi hòa hợp
trước (theo Hàm chú) thì đúng sách và đúng việc hơn.
(7) Ðại khái
gửi lời thưa rằng mình cũng muốn bố-tát và trong nửa tháng
vừa qua mình không vi phạm giới nào.
(8) Chính văn là
thời đáo, có nghĩa đến lúc, đúng lúc, thì gian thích hợp.
(9) Tác bạch thành
không? (Ðáp: thành), là dịch theo Tứ phần Tỷ-kheo giới bản
(của ngài Hoài tố) và theo thông thường. Ðúng chính văn
của Tứ phần luật hàm chú giới bản (của ngài Ðạo tuyên,
tổ sư sáng lập Luật tông) thì không có câu hỏi đáp này,
tức Kiết-ma ở đây là đan bạch.
(10) Chỉ cho 37
giác phần, đặc biệt chỉ cho 8 chánh đạo.
(11) Chính văn
là trì, có nghĩa nắm giữ trong trí, tức là nhớ, ghi nhận.
(12) Dịch nghĩa
là khí (bị bỏ ra ngoài tăng chúng), nhưng chính nghĩa là tha
thắng (bị chiến thắng).
(12b) Tăng kỳ
luật nói Tỷ-kheo thọ cụ túc giới trong tăng hòa hợp. Thập
tụng luật nói Tỷ-kheo nhập vào trong giới pháp. Ngũ phần
luật nói Tỷ-kheo đồng được giới pháp. Hữu bộ luật
nói đồng được học xứ.
(13) Sự dâm dục,
Luật gọi là phi phạn hạnh, là bất tịnh hạnh.
(14) Không được
cùng tăng chúng Kiết-ma và thuyết giới.
(15) Tăng thượng
mạn là chưa được mà tự cho đã được. Nhưng rồi có người
sau đó được thật. Ở đây trừ là trừ người này.
(16) Dịch nghĩa
là tăng tàn, là phạm những tội này còn có thể cứu vãn
được nếu biết sám hối trước 20 vị Tỷ-kheo, không thì
cũng như phạm tội ba-la-di.
(17) Là thủ dâm.
(18) Dịch đủ
là nói năng thô tục dâm đãng, tức nói về sự dâm dục,
nói về những bộ phận sinh dục.
(19) Dịch đủ
là khen mình để đòi nữ nhân hiến dâng sự dâm dục.
(20) Tức làm cốc,
tịnh thất.
(21) Dịch đủ
là làm nhà có thí chủ, làm cho mình, nhưng không thỉnh chư
Tỷ-kheo chỉ định nơi chỗ.
(22) Dịch đủ
và sát là một cách không có căn cứ mà phỉ báng người
khác phạm tội ba-la-di.
(23) Dịch sát
và đủ là mượn căn cứ khác mà phỉ báng phạm tội ba-la-di.
(24) Dịch sát
và đủ là phá hoại tăng hòa hợp mà chống lại sự can gián.
(25) Tăng hòa hợp
là 4 vị Tỷ-kheo sắp lên, cùng Kiết-ma và cùng tụng giới.
(26) Dịch đủ
là hỗ trợ sự phá hoại tăng hòa hợp mà còn chống đối
can gián.
(27) Dịch sát
và đủ là làm hoen ố tín đồ, bị đuổi thì phỉ báng,
chống đối can gián.
(28) Làm hoen ố
tín đồ, chính văn là ô tha gia (làm bẩn người khác). Ô
tha gia có 4 hình thức mà đứng đầu là đem vật của người
này cho mà cho lại người khác, làm cho tâm lý người nào
cũng không còn bình thường. Làm những việc xấu là những
việc xấu dẫn ra từ sự ô tha gia.
(29) Dịch đủ
là ngoan cố, chống cự chư tăng, chống đối can gián. Ngoan
cố, chính văn là ác tính (tính tình ngang bướng).
(30) Sống riêng,
chính văn là ba-lị-bà-sa, dịch nghĩa là biệt trú. Biệt trú
là ở riêng một mình trong 1 phòng xấu, với giường nằm
xấu, trong thì gian bằng thì gian che giấu (kể từ khi phạm
cho đến khi phát giác).
(31) Hoan hỷ, chính
văn là ma-na-đỏa, dịch nghĩa là ý hỷ. Ý hỷ là ở sát
cạnh chư tăng, chân thành ân hận, làm cho chư tăng hoan hỷ
mà mình cũng hoan hỷ.
(32) Trường hợp,
chính văn là thời. Chính văn trọn câu này là thử thị thời
(đó là thời). Tra các bộ luật khác thì Ngũ phần và Thập
tụng là thị pháp ưng nhĩ (giới này phải thế), Tăng kỳ
là thị sự pháp nhĩ (việc này là thế), Hữu bộ là thử
thị xuất tội pháp (ấy là cách giải tội). Như vậy chữ
thời ở đây có thể hiểu và dịch là trường hợp. Sau đây
có tất cả 9 chữ thời như vậy nữa.
(33) Bất định
là tùy sự tố giác mà định tội danh và xử trị theo 1 trong
3 tội (ba-la-di, tăng-già bà-thi-sa, ba-dật-đề) hay theo 1 trong
2 tội (trừ ba-la-di).
(34) Nữ tín đồ
chánh tín Tam bảo, chấp trì ngũ giới, trí nhớ tốt và nói
chắc thật.
(35) Dịch nghĩa
là xả đọa, là xả thí những vật dụng dư thừa rồi sám
hối, nếu không thì sẽ bị đọa lạc ác đạo.
(36) Là tăng-già-lê,
uất-đa-la-tăng, an-đà-hội.
(37) Y công đức
(ca-thy-na y) là y được xét thưởng sau 3 tháng an cư thanh tịnh.
Ai được xét thưởng thì có 5 tháng (16/7 đến 15/12) được
hưởng 5 điều Luật định.
(38) Trường y
(y dài) là dài bằng 8 ngón tay và rộng bằng 4 ngón tay của
Phật. Danh nghĩa (Vạn 70/346) nói trường y là y dư thừa; hễ
vải dài 1 thước 6, rộng 8 tấc, thì đã gọi là trường
y.
(39) Tịnh thí
nghĩa là cho một cách trong sạch. Tịnh thí ở đây là Tỷ-kheo
có thừa những vật dụng (như y bát v/v) thì phải thí xả.
Có 2 cách tịnh thí. Một là chân thật tịnh thí, là đem vật
dụng thừa ra giữa chư tăng mà thí xả cho người khác. Hai
là triển chuyển tịnh thí, là thí xả giữa chư tăng mà nói
tên người mình muốn cho. Nếu người ấy vắng mặt thì chư
tăng nói: Ðại đức đã cho người ấy rồi thì đó là vật
của người ấy; đại đức nên cất giữ giúp người ấy,
và nếu cần thì mượn mà dùng.
(39b) Có bản chép:
ngủ khác chỗ trong 1 đêm. Nhưng tra Tứ phần luật (Chính
22/603d) thì đúng như bản Ðạo tuyên chép: không có những
chữ trong 1 đêm.
(40) Kiết-ma, dịch
nghĩa là tác pháp biện sự. Việc gì của tăng cũng phải
do chư tăng quyết định mới thành tựu, đó gọi là Kiết-ma.
Kiết-ma có đan bạch, bạch nhị và bạch tứ. Ðan bạch là
gặp những việc quá thường xuyên thì chỉ cần 1 lần tuyên
cáo (tác bạch) mà thôi, không cần hỏi lại. Bạch nhị là
gặp những việc hơi quan trọng, sợ xảy bất đồng ý về
sau, nên phải 1 lần tuyên cáo rồi hỏi lại 1 lần. Bạch
tứ là gặp những việc quan trọng thì phải 1 lần tuyên cáo
rồi hỏi lại 3 lần. Tăng Kiết-ma có 4 loại, đó là 4 vị
cho đan bạch, 5 vị cho bạch nhị, 10 vị cho bạch tứ, 20 vị
cho sự xử tội tăng tàn. Số lượng này nhiều hơn thì được,
thiếu đi thì không được.
(41) Ðáng lẽ
phải nói 3 y có cái cũ và hỏng. Nguyên do của giới này là
vì có Tỷ-kheo y tăng già lê bị cũ và hỏng.
(42) Dịch sát
và đủ, là nhận y của Tỷ-kheo ni không phải thân quyến
của mình.
(43) Dịch sát
và đủ, là bảo Tỷ-kheo ni không phải thân quyến của mình
giặt giúp y cũ. Y cũ là y dầu mới mặc 1 lần.
(44) Dịch sát
và đủ, là xin y nơi người cư sĩ không phải thân quyến.
(45) Dịch đủ
và sát, là khuyên cư sĩ thêm giá tiền may y.
(45b) Lời xin tùy
ý là thí chủ có lời xin nói trước rằng người lãnh nhận
muốn sao cũng được.
(46) Dịch sát
và đủ, là khuyên 2 nhà tăng thêm số tiền sắm y.
(46b) Có người
hiểu và dịch 2/4 màu đen, 1/4 màu trắng, 1/4 màu lẫn lộn,
nhưng không thể đồng ý là vì có chữ trái chính văn, và
trộn lẫn lông dê như vậy thì cũng gần như đen. Dịch đúng
chính văn là như đã dịch, và trộn lẫn lông dê như vậy
thì sẽ ra hoại sắc hơn.
(47) Dịch sát
và đủ, là ngọa cụ dùng dưới 6 năm.
(48) Dịch sát
là tọa cụ không may chồng.
(49) Dịch sát
là cầm lông dê quá hạn.
(50) Dịch sát
và đủ là bảo Tỷ-kheo ni không phải thân quyến giặt giúp
lông dê.
(51) Dịch sát
là cất giữ tiền, của báu.
(52) Dịch đủ
là đổi chác tiền, của báu.
(53) Chính văn
là mại mãi (bán mua) thì không chỉnh.
(53b) Trường bát,
có ý kiến nói là bát dư thừa.
(53c) Chính văn
là tối hạ, có người hiểu là bát cuối cùng, tức cái bát
không ai muốn lấy, muốn đổi, nên cái bát ấy có thể chính
là cái bát mới, được đem ra xả bỏ đó. Hiểu như vậy
không đúng, bởi vì giới này bên Tỷ-kheo ni nói rõ là hạ
tọa (người dưới).
(54) Dịch đủ
là xin chỉ sợi, bảo thợ dệt không phải thân quyến của
mình dệt giúp.
(55) Dịch đủ
là bảo thợ dệt dệt thêm chỉ sợi.
(56) Dịch sát
và đủ là cất thuốc 7 ngày dùng quá thì hạn.
(57) Dịch sát
và đủ, là kiếm khăn tắm mưa trước thì hạn, dùng khăn
tắm mưa trước thì hạn. Khăn tắm mưa, chính văn là vũ y
hay vũ dục y (khăn tắm mưa). Chữ y trong Luật có chỗ là
y, có chỗ là vải, có chỗ là khăn. Ở đây là khăn.
(58) Mùa xuân còn
1 tháng là từ 16/3 đến 15/4. Mùa xuân còn nửa tháng là 1/4
đến 15/4. Trước kiết hạ hơn 1 tháng là trước 16/3. Trước
kiết hạ hơn nửa tháng là trước 1/4. Tất cả đều là âm
lịch.
(59) Dịch đủ
và sát là trước ngày hết kiết hạ nhận y cúng gấp mà
cất quá sau ngày hết kiết hạ.
(60) Dịch sát
là 10 ngày chưa hết của 3 tháng kiết hạ; 10 ngày ấy là
từ 6/7 đến 15/7.
(61) Thì hạn của
y ấy, y ấy là y cúng vội vàng nói trên; thì hạn của y ấy
là 1 tháng (16/7 đến 15/8) nếu không thọ công đức y, hoặc
5 tháng (16/7 đến 15/12) nếu có thọ công đức y.
(62) Dịch sát
và đủ là ở chỗ a lan nhã có sự nghi ngại mà rời y quá
thì hạn.
(63) Là rằm tháng
7 đến rằm tháng 8.
(64) A-lan-nhã là
chỗ thanh vắng, xa làng xóm.
(65) Nói rõ là
xoay vật người ta muốn cúng cho chư tăng mà cúng cho mình.
(66) Ba-dật-đề
dịch nghĩa là đọa, là phạm những giới này nếu không sám
hối giữa chư tăng thì sẽ bị đọa lạc.
(67) Biết ở đây
là nói tắt mọi sự thấy nghe hay biết của 6 thức.
(68) Thành phần,
chính văn là chủng loại, chỉ cho giai cấp, dòng họ, nghề
nghiệp, v/v. Chưởi mắng ở đây bao gồm mọi sự nói hành,
nói lóng, nói mỉa, v/v.
(69) Nói để ly
gián, chính văn là lưỡng thiệt ngữ.
(70) Dịch đủ
là ngủ cùng một nhà với nữ nhân.
(71) Dịch đủ
là ngủ quá thì hạn với người chưa thọ cụ túc giới.
(72) Dịch đủ
là cùng đọc tụng một cách ồn náo với người chưa thọ
cụ túc giới.
(73) Dịch đủ
là thật đắc đạo mà nói với cư sĩ.
(74) Dịch đủ
là một mình thuyết pháp cho nữ nhân.
(75) 5, 6 lời,
cũng có thể dịch là pháp số 5 (như nói 5 uẩn vô ngã) và
pháp số 6 (như nói 6 thức vô thường).
(76) Cây cối là
chỗ ở của quỉ thần và sinh vật, nên những chữ chặt
phá cây cối và sinh vật là bổ túc.
(77) Dịch đủ
là trải đồ của chư tăng ra trên mặt đất trống.
(78) Giường giây
là lòng giường đan sợi mây hay bất cứ sợi gì. Có chỗ
giường giây là võng.
(79) Dịch đủ
là trải đồ của chư tăng chỗ che.
(80) Dịch sát
là cưỡng chiếm chỗ mà trải đồ ngồi. Chữ đồ ngồi
không chỉnh.
(81) Dịch đủ
là thuyết pháp cho ni đến trời tối.
(82) Dịch đủ
là đem y cho ni không phải thân quyến của mình.
(83) Dịch đủ
là may y cho ni không phải thân quyến của mình.
(84) Dịch đủ
và rõ, là nhận quá giới hạn đồ ăn của qui phụ và thương
gia.
(85) Phép ăn thừa
(dư thực pháp) là, ví dụ Tỷ-kheo mới ăn mà có việc đứng
dậy, thì như thế là kể như ăn xong rồi. Vậy nếu cần
ăn thêm thì phải làm phép ăn thừa, là đem đồ mình muốn
ăn dọn cho một vị nào chưa ăn và nói, kính bạch đại đức,
tôi là Tỷ-kheo XX, đến trước đại đức làm phép ăn thừa,
xin đại đức từ mẫn cho. Vị này xúc ăn vài muổng rồi
trao lại, bảo ăn đi.
(86) Không phải
giờ ăn (phi thời) là kể từ xế bóng ngày trước cho đến
ngày sau trời chưa sáng.
(87) Dịch rõ là
ăn thức ăn mà mình không hay chưa nhận lời mời.
(88) Dịch rõ là
thức ăn và thuốc mà mình không hay chưa nhận lời mời mà
đã bỏ vào miệng. Thuốc ở đây là sữa, mật, v/v.
(89) Dịch đủ
thì còn có cá và thịt. Ấy là thức ăn tùy thí tùy thực
(cho gì ăn nấy).
(90) Dịch rõ là
bữa ăn trước hay bữa ăn sau đều bỏ mà đi đến nhà khác.
Bữa ăn trước là khi trời sáng cho đến giờ ngọ, bữa ăn
sau là giờ ngọ.
(91) Dịch rõ là
tại nhà ăn mà ngồi dai
(92) Nhà ăn (thực
gia) và vật báu ở đây có cái nghĩa riêng ở đây, không
phải cái nghĩa thông thường. Nghĩa thông thường thì nhà
ăn là nhà mời ăn, vật báu là vàng ngọc (hoặc nói bóng
người đẹp). Nhưng nghĩa ở đây thì nhà ăn là nhà có chồng
vợ, ăn là chồng vợ ấy hành dâm hưởng lạc với nhau. (và
vật báu có thể chỉ có nghĩa trong nhà ấy có chỗ cho vợ
chồng hành dâm). Trong nhà ăn có vật báu như vậy mà họ
mời ăn rồi không đi ngay thì rất chướng ngại cho họ, nhất
là cho người chồng.
(93) Dịch rõ là
tại nhà ăn mà ngồi chỗ khuất.
(94) Dịch rõ và
đủ là một mình ngồi với nữ nhân ở chỗ đất trống.
(95) Dịch đủ
là ở lại trong quân đội quá thì hạn.
(96) Dịch đủ
và rõ, là y mình đã tịnh thí, rồi lấy lại dùng mà không
nói cho người chủ của y được cho biết.
(97) Dịch đủ
là gây thắc mắc, bực mình cho Tỷ-kheo khác.
(98) Dịch đủ
là độ cho người thiếu tuổi được thọ cụ túc giới.
(99) Dịch rõ là
khơi lại 4 sự tranh cãi. Sự tranh cãi có 4, đó là 1, ngôn
tranh, là tranh cãi vì bàn luận giới pháp; 2, mích tranh, là
tranh cãi vì xoi bói tội lỗi; 3, phạm tranh, là tranh cãi về
tội lỗi đã phạm; 4, sự tranh, là tranh cãi về công việc
Kiết-ma. Cả 4 sự tranh cãi đều phải diệt bằng 7 cách diệt
tránh. Khi Kiết-ma diệt tránh rồi mà ai còn gợi lại thì
phạm ba-dật-đề.
(100) Dịch đủ
là chống lại sự can gián của chư tăng về sự nói càn rằng
dâm dục không chướng ngại cho đạo.
(101) Dịch rõ
là hùa theo Tỷ-kheo bị cử tội.
(102) Dịch rõ
là hùa theo sa-di bị đuổi.
(103) Dịch rõ
là sợ bị cử tội nên nói trước (về giới điều mình
phạm).
(104) Dịch rõ
là hối tiếc sau khi cùng chúng Kiết-ma.
(105) Dịch đủ
là lén nghe về 4 sự tranh cãi.
(106) Dịch sát
là đánh Tỷ-kheo lớn.
(107) Dịch rõ
là phỉ báng người khác phạm tội tăng tàn.
(108) Dịch sát
và đủ là không phải lúc mà đi vào xóm làng.
(109) Dịch đủ
là dùng đâu-la độn nệm. Ðâu-la là bông của mọi thứ cây
cỏ (trong đó có bông gòn, bông vải) và kén tằm hoang.
(110) Dịch đủ
là làm ống đựng kim bằng xương, nanh, sừng.
(111) Dịch đủ
là làm "ni sư đàn" quá cỡ. Ni sư đàn là ngọa cụ (đồ
nằm) tọa cụ (đồ ngồi) hay tùy tọa y (khăn để ngồi),
nhưng dịch đúng là phu cụ (đồ trải ra để nằm ngồi).
(112) Dịch đủ
là làm khăn che ghẻ quá cỡ.
(113) Dịch nghĩa
là "hướng bỉ hối", là những giới điều mà phạm vào chỉ
cần sám hối với 1 Tỷ-kheo khác.
(114) Dịch đủ
là ở trong làng xóm, nhận lấy đồ ăn của Tỷ-kheo ni không
phải thân quyến.
(115) Dịch đủ
là ăn đồ ăn do ni chỉ bảo.
(116) Chính văn
là canh, nhưng rõ ràng chữ ấy, ở đây và sau đây, là đồ
ăn, chứ không phải là canh như thường nói. Do vậy, chữ
canh ấy được dịch là đồ ăn.
(117) Dịch sát
là nhận đồ ăn của học gia. Học gia là tín đồ hy sinh
cho đạo pháp đến nỗi phải nghèo thiếu. Ðối với tín
đồ như vậy, chư tăng phải Kiết-ma là học gia, chư tăng
không được đến tín đồ ấy khất thực hay quyên góp gì
nữa, trái lại còn giúp đỡ bằng cách đi khất thực rồi
về nhà tín đồ ấy mà ăn để chia bớt cho họ, hoặc giao
tài sản Tam bảo cho tín đồ ấy sinh lợi rồi chia một nửa
lợi tức ấy cho họ. Tỷ-kheo nào đến đâu cũng phải hỏi
ở đó có học gia không kẻo phạm giới này, cũng như phải
hỏi ở đó có hay không có chỗ phú bát (nhà có lỗi với
chư tăng, chư tăng Kiết-ma không liên lạc với, cho đến khi
biết hối lỗi).
(118) Dịch rõ
là ăn ở chỗ vắng vẻ, đáng sợ.
(119) Phải học
(ưng đương học), chính văn của Tứ phần luật hàm chú giới
bản là thức xoa ca la ni. Khác với 6 loại trước, loại thứ
7 này chính văn sách ấy chỉ tiêu đề có 54 giới, 46 giới
còn lại không có tiêu đề (mặc dầu mục lục tiêu đề
đủ cả 100 giới). Vì vậy tôi quyết định lấy chính văn
của Tứ phần luật Tỷ-kheo giới bản (của ngài Hoài tố)
mà thay vào. Chính văn sách này không dùng chữ thức xoa-ca-la
ni, mà dùng chữ chúng học pháp, ưng đương học, và không
tiêu đề ghi số gì cả. Số tôi ghi là của Tứ phần luật
hàm chú giới bản.
(119b) Dịch sát
chính văn là mặc niết-bàn-tăng. Niết-bàn-tăng là nivasana
(hoặc kusulaka), là quần, tức tấm vải quấn phần dưới
thân thể như chư tăng Nam tông. Quần như vậy quấn mặc và
buộc bằng giây, hơi khó làm và giữ cho tề chỉnh. Tôi dịch
thẳng là quần mà bỏ chữ niết-bàn-tăng, vì chữ này xúc
phạm đến Niết bàn và đến Tăng quá.
(120) Xuống dòng
như vầy là có ý sắp loại các giới điều này.
(121) Chú thích:
để khỏi rơi đồ ăn xuống.
(122) Coi lại ghi
chú 116.
(123) Chú thích:
ăn không tuần tự là ngay trong bát mà đã lấy ăn lung tung.
(124) Dịch theo
chú thích là một nửa vào miệng một nửa còn lại nơi tay.
(124b) Dịch đủ
là nhai cơm. Nhưng đủ mà thiếu. Bất cứ nhai gì cũng không
được ra tiếng, không phải chỉ nhai cơm.
(125) Có lẽ phải
dịch là cầm đồ mà thôi (đồ đựng thức ăn thức uống).
(126) Là 7 cách
diệt trừ sự tranh cãi. Phần này cũng lấy chính văn của
Tứ phần luật Tỷ-kheo giới bản. Về 7 cách diệt tránh này,
nếu chư tăng có sự tranh cãi (coi ghi chú 99) thì phải dập
tắt bằng 7 cách ấy. Nói đại khái và giản dị, thì một
thành phần chư tăng có lỗi, nhất là lỗi ấy gây ra tranh
cãi, thì hãy diệt sự tranh cãi ấy bằng cách cho hiện diện,
cho nhớ lại, cho tỉnh trí, cho tự xử, cho tự xét, cho chung
xét và cho qua loa. Nghĩa là bằng cách nào đó có lý có tình
mà đem lại sự phục thiện và hoan hỷ là tốt. Giới của
7 cách này là sau khi diệt tránh bằng 7 cách rồi, ai còn khơi
lại thì phạm tội và bị trị.
Ký hiệu:
- Ðại tạng kinh
bản Ðại chính tân tu. Ký hiệu là Chính, thí dụ Chính
1/100, là Ðại tạng ấy, tập 1, trang 100. Mỗi trang có 3 khoảng
trên giữa dưới, nhưng sách này không ghi rõ khoảng ấy và
dòngchữ.
- Tục tạng kinh
bản chữ Vạn. Ký hiệu là Vạn, thí dụ Vạn 1/100 là
Tục tạng ấy, tập 1 tờ 100. Mỗi tờ có 2 mặt a và b, mỗi
mặt có 2 khoảng trên dưới, nhưng sách này cũng không ghi
rõ những chi tiết ấy.
- Phật học đại
từ điển của Ðinh Phước Bảo. Ký hiệu là Bảo, thí
dụ Bảo 100, là đại từ điển ấy, trang 100. Mỗi trang có
3 khoảng trên giữa dưới, và dĩ nhiên có từ. Nhưng sách
này cũng không ghi những chi tiết ấy.
- Phật học nghiên
cứu thập bát thiên, của Lương Khải Siêu. Sách có 18 bài.
Ký hiệu là Siêu, thí dụ Siêu 1/10, tức sách ấy, bài
1 trang 10.