Q.
T Cô giáo dương cầm của tôi.
(Lời
giới thiệu - VNN) Theo lời giới thiệu của tạp chí Khởi
Hành : Thượng tọa Tuệ Sỹ còn là một thi sĩ, một học
giả, một nhà văn. Trước 1975, ông là Khoa trưởng Phật học
Viện Đại Học Vạn Hạnh, tác giả nhiều cuốn sách biên
thảo đặc sắc về Văn học và Triết học Trung Hoa; thơ Tô
Đông Pha, một số thơ, truyện và thơ dịch đã đăng liên
tiếp trên nhiều Tạp chí Văn học tại Sài Gòn, trong đó
đa số đăng trên tờ Thời Tập.
Tuệ
Sỹ, thế danh Phạm Văn Thương, sinh năm 1943, xuất gia tiểu
đồng khi còn cư ngụ bên Lào. Là một trí thức Phật giáo
mà tâm thức và hành sử hướng về Dân tộc, Đạo Pháp,
Tuệ Sỹ Phạm Văn Thương đã bị nhà cầm quyền Cộng Sản
Việt Nam bắt giữ cùng Thượng tọa Trí Siêu Lê Mạnh Thát
và 19 Tăng Ni, Cư Sĩ khác vào năm 1984, bị Tòa Án CSVN đem
ra tòa ngày 30-9-1988, và bị kết án tử hình.
Do
sự phản đối của các tổ chức Nhân quyền và Văn Bút quốc
tế cũng như Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, Hà Nội giảm án
thành 20 năm khổ sai. Về sau, ngày 2 tháng 9 năm 1998, Hà Nội
lại phải hủy án. Tuy vậy, ông đã ở trong tù 14 năm. Khởi
hành đang thực hiện Số Đặc Biệt Tuệ Sỹ, với ít nhất
là 4 truyện ngắn, và một số thơ mới cũ và hình ảnh tiểu
sử đầy đủ. Truyện ngắn đăng trước kỳ này, Piano Sonata
14... của ông đáng kể là một trong những truyện ngắn hay
nhất của Việt Nam.
Tháng
3 năm 1999, Hòa thượng Huyền Quang đã gặp Hòa thượng Quảng
Độ và đề bạt Thượng tọa Tuệ Sỹ làm Tổng thư ký Viện
Hóa Đạo, thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
Đứng
bên ngoài khung cổng sắt đã khóa kỹ, Nghi nép vào hàng dậu
được kết bằng cây dâm bụt, nhìn vào bóng tối yên lặng
đang bao trùm cả tu viện. Đây không phải là lần đầu tiên
chú về trễ, và cũng không phải là người duy nhất về trễ
như vậy. Các chú ranh mắt, hoặc vô tình hoặc cố ý, và
bằng cách nào đó, đã làm cho một chấn song của cửa sắt
gẫy hết một đầu, chỉ cần kéo nhẹ qua là lách mình vào
lọt. Rồi sau đó nắn lại, cánh cửa sắt vẫn lầm lì như
không hề biết đến những cuộc vi hành ngoài luật lệ thỉnh
thoảng vẫn xảy ra. Sư trưởng của tu viện không hề hay
biết. Ông vẫn tin ở sự cứng chắc của nó, như tin vào
sự hiện diện vừa hữu tình vừa vô tình của mình ngự
trị khắp tu viện, giám thị mọi sinh hoạt của các sư tăng
trong một thứ kỷ luật nghiêm khắc mà ông cho là đương
nhiên. Không ai nói cho ông biết gì hết. Mọi người đều
chuẩn bị saün cho mình những lối ra vào cần thiết. Cánh
cửa lại không bao giờ biết nói.
Nhưng
lần đầu tiên Nghi vượt ra ngoài giới nghiêm của tu viện
không phải ngang qua cái cổng bao dung ngầm đó. Chú đi bằng
ngõ sau. Đó chỉ là một hàng rào bằng kẽm gai, không có
trồng dâm bụt hay một thứ hoa lá nào, chỉ cần cúi rạp
mình xuống, cẩn thận vén các tà áo, có thể ra vào như không.
Phía sau tu viện này là một vườn rau chạy dọc sát rào của
nó. Băng qua vườn rau khoảng hai chục thước là một con đường
đất, rộng vừa đủ cho hai chiếc xe đạp tránh nhau.
Bấy
giờ là tháng cuối của mùa nghỉ hè. Sau giờ tĩnh niệm thường
lệ mỗi tối, Nghi ra phía sau tu viện để tiểu, vì chỗ này
có nhiều bụi chuối kín đáo. Nhìn dòng nước lấp lánh dội
lên đám cỏ, chú nghe trong người khoan khoái, tâm hồn như
mở rộng. Những luống cải xanh mát của khu vườn trước
mắt đẹp hẳn lên. Chú nghe luồng trăng bạc như sương khuya
lấp lánh đang nhảy múa chập chờn trên các luống cải. Âm
hưởng ngọt ngào và quyến rũ. Cây cối im lìm trong một cảnh
tượng thanh bình và trang nhã. Lắng tai nghe kỹ hơn, chú nhận
ra âm hưởng đó từ phía bên kia con đường đất lan truyền
đến. Ăn cắp chuối trên bàn Phật, hay lẻn qua vườn rau
nhổ bậy vài bụi cải cho những cuộc kiết tập kín đáo,
với bánh tráng mỏng và nước tương dầm ớt thiệt cay, đó
không phải là chuyện hiếm có giữa các chú tiểu. Mặc dù
Nghi chưa lần nào được giao phó công tác hái trộm rau, nhưng
lẻn chui qua bên ấy là một việc hết sức tự nhiên.
Lúc
này thì cái âm hưởng quyến rũ kia cũng tự nhiên một cách
vô tình khiến chú rạp người xuống, chui qua hàng rào kẽm
gai, băng qua vườn, sang tuốt con đường đất. Nơi đây chú
có thể phân định phương hướng phát ra âm thanh chuẩn xác
hơn. Vào giờ này, không chỉ là con đường vắng vẻ, mà
cả một khu vực cũng hoàn toàn vắng vẻ. Suốt con đường
về phía tay trái phỏng chừng đó, duy nhất chỉ có một ngôi
nhà ẩn sau nhiều bóng cây rậm rạp. Chú rẽ phía trái, rõ
ràng đang có người chơi đàn trong đó.
Xuyên
qua khung cửa sổ, chú thấy một mái tóc chảy dài, nghiêng
nghiêng theo âm điệu to nhỏ và tiết điệu buông lơi của
tiếng đàn. Trên cao một chút, bóng đèn sữa đục được
ủ trong một ánh sáng ấm áp của chính nó. Tiếng đàn đột
ngột dừng lại. Chú ngơ ngác. Nhưng bóng người đã hiện
rõ trên khung cửa. Chú muốn bỏ chạy, lại e là vô lễ, hoặc
có thể là bị nghi ngờ. Lỡ người ta sang mách bên chùa,
nhất định chú bị phạt nặng. Hàng xóm cũng hay lên chùa
than phiền các chú phá phách, và các chú có khi bị phạt tập
thể.
Đợi
một lúc, không thấy người đó động tĩnh gì cả, Nghi dợm
chân muốn chạy. Nhưng tiếng nói từ bên trong vọng ra :
-
Ai đó ?
Nghi
không biết phải trả lời mình là ai. Lại có tiếng hỏi
:
-
Điệu bên chùa phải không ?
Cô
này nhất định là người Huế. Giọng nói nghe kiểu cách,
nhưng dịu dàng. Nghi có cảm tình ngay.
-
Dạ.
-
Chừng ni điệu còn đi mô khuya rứa ?
Nghi
không trả lời ngay, và không chút ngần ngại, đẩy cánh cổng
đi vào. Cổng chỉ khép hờ.
-
Dạ, nghe đàn. Chạy đi coi thử.
Gương
mặt chú hiện rõ qua ánh đèn đang hắt ra ngoài. Chỏm tóc
lệch qua một bên, phủ mép trán. Đôi mắt sáng ngây thơ dưới
hàng mi dài và cong. Chú đưa tay lên vuốt chỏm tóc.
-
Dạ, thưa cô.
-
Điệu chun qua rào hả ?
Chú
cười. Chớp hai hàng mi tinh nghịch. Nụ cười của trẻ thơ,
trong trắng và hồn nhiên, nhưng quá nhỏ nhoi và khiêm tốn
giữa một thế giới đòi hỏi quá nhiều sự trang nghiêm và
kính cẩn. Tuổi thơ hiếm hoi cho một tâm hồn tập sự săn
đuổi những ước mơ ngoài tầm với bắt của con người.
Cô
cũng mỉm cười theo chú, đưa tay hất ngược mái tóc về
phía sau :
-
Điệu vô trong ni đi.
Cô
bước sang trái mở cánh cửa. Chú lách mình bước vào. Căn
phòng, ngoài cái bàn nhỏ và một cái kệ sách, chỉ có một
vật lạ đối với Nghi là cây đàn kê sát vách tường nhìn
nghiêng ra khung cửa sổ. Chú đi thẳng lại đó, níu hai tay
lên thùng đàn, cúi nhìn chăm chú những phím đen trắng chen
nhau sắp thành một hàng thẳng. Sự thích thú hiện rõ trên
đôi mắt. Cô ngồi xuống, trên cái băng ngắn đặt trước
cây đàn và tựa một nửa người lên dãy phím.
-
Điệu đi tu chi rứa ?
-
Dạ. Nghi ở với Thầy.
Chú
thừa dịp, đặt cả bàn tay lên phím đàn và ấn xuống. Âm
thanh so le nhau cùng tấu lên. Khi cất tay, chú nghe chúng ngân
dài, lẫn vào thùng đàn như
đang
chìm sâu vào trong bóng tối hun hút phía sau.
-
Điệu thích đàn không ?
-
Thầy cấm. Mấy Thầy lớn bên chùa lén học, bị Thầy bắt
được phạt hoài.
-
Mấy Thầy lớn ?
-
Dạ lớn lắm. Lớn bằng cô.
-
Chú tên chi ?
-
Dạ Nghi.
Chú
nhích người ra, đứng nhìn thẳng xuống phím đàn, nắm chặt
bàn tay phải, chĩa ngón trỏ thọc lên một phím đen. Ngón
tay bị trợt sang, thọc luôn xuống phím trắng. Hai âm thanh
nối nhau, to nhỏ không tề chỉnh.
-
Điệu muốn học đàn hả ?
Tiếng
đàn chạy lui vào vách tường, có lẽ vậy. Chú nhón gót chân
nhìn. Nhưng lưng đàn dựa sát vách.
-
Thầy la chết.
-
Thì cứ chun qua rào như tối ni. Thầy biết mô.
-
Đâu được.
Bỗng
nhiên chú xoay người lại.
-
Thưa cô, Nghi về.
Và
chú tự động đến mở cửa, cắm đầu chạy thẳng. Bóng
người lại xuất hiện qua khung cửa sổ. Nhưng chú không quay
đầu nhìn lại.
Băng
qua vườn cải, rồi lách mình chun qua hàng rào, chú chạy thẳng
về phòng. Trong bóng tối của căn phòng, chợt có tiếng nói
:
-
Mi chết ?
Tiếp
theo, có tiếng người lăn trên giường, tiếng vỗ chát và
tiếng hô :
-
Ê, làm gì kỳ vậy.
Nghi
biết đó là giọng của chú Đảm. Còn kia chắc là chú tiểu
Mùi. Chỉ có chú này mới hay ngủ mớ kiểu đó.
Những
ngày kế tiếp Nghi hình như quên baüng vụ chui rào của mình.
Chú vẫn đùa giỡn, vẫn chăm chỉ làm công việc một chú
tiểu trong chùa. Bổn phận hành điệu của chú là châm trà,
lau bàn ghế và quét dọn trong phòng của sư trưởng. Không
ai biết tuổi thơ trôi qua như vậy đang ấp ủ sự gì. Sự
thành kính khi bưng ấm trà để vào khay. Sự ngăn nắp khi
treo sâu tràng hạt vào tủ kính. Khi sửa lại ngay ngắn một
bình hoa, một cây viết trên bàn, một quyển sách mà sư trưởng
đang học dở. Tất cả những thứ đó không phải là kiểu
cách mà người ta có thể nhìn thấy trong đôi mắt đen láy
kia.
Hằng
ngày, chú lại phải học về ý nghĩa của sự vô thường,
khổ đau và giả tạo đang đè nặng kiếp người. Mắt chú
vẫn trong sáng. Nụ cười vẫn hồn nhiên. Thân tứ đại giả
hợp, như cây bên bờ sông, như cỏ bên bờ giếng. Tất cả
đều là mộng tưởng, thì chắc gì cái vô thường và khổ
não kia của kiếp người không là mộng tưởng. Nhưng chú
thích học những thứ đó. Thích nhìn sự giả tạo đó qua
những hàng chữ nhỏ ngay ngắn và chú lại càng thích nắn
nót sao cho chúng được ngay ngắn trang nghiêm như chữ viết
của sư trưởng.
Đêm
trăng cũng thường quyến rũ chú. Những đêm như thế, chú
hay ra phía sau tu viện, ngồi bó gối thu hình trong bóng cây.
Nội cả tu viện này, chỉ có sư trưởng mới để ý. Vì
sư biết rằng, đó là lúc chú đang ngồi khóc một mình. Thỉnh
thoảng bắt gặp, sư dẫn chú về phòng. Căn phòng cho các
chú tiểu ngủ chung. Chỉ có bốn chú, hơn kém nhau vài tuổi.
Sát góc phòng là bàn thờ nhỏ. Đó là bàn thờ đặc biệt
sư trưởng lập riêng cho chú. Bây giờ thì các chú nhỏ kia
đã ngủ hết. Sư đốt lên một ngọn nến. Giữa bàn thờ
hiện rõ ảnh bán thân của một thiếu phụ, tuổi khoảng
trên ba mươi, gương mặt hao hao giống chú. Sư đốt nhang cắm
vào bát và nói rất nhỏ :
-
Má con vẫn ở bên con đó. Con không thấy, nhưng má con thấy.
Con đừng khóc như vậy nữa mà má con buồn. Ngồi đó với
má con. Lát nữa tắt đèn mà ngủ.
Sư
trở ra. Chú ngồi xuống. Nhìn ảnh. Nhìn ngọn nến bập bùng.
Một năm có biết bao lần như vậy. Hằng ngày chú vẫn chăm
chỉ học, vẫn hăng say đùa giỡn với chúng bạn và thỉnh
thoảng vẫn thường ngồi khóc một mình. Ngọn nến do đó
cũng lần hồi truyền vào da thịt chú sự nóng cháy kín đáo
giữa cảnh khuya tịch mịch trang nghiêm đầy thành kính đó.
Chú
tắt cây nến. Thay vì leo lên giường ngủ, chú bước ra ngoài,
đẩy nhẹ cánh cửa và khép lại. Phía sau tu viện, trăng vẫn
sáng. Vườn cải bên kia vẫn im lặng.
Buổi
chiều, thầy trị sự sai các chú tiểu chuyển đống ngói
ở sân trước ra đây, dự định lợp lại miếu thờ bà Ngũ
Hành. Dạo này, các sư trong chùa hay cãi nhau kịch liệt. Nhất
là thầy trị sự cứ bị phản đối và bị sư trưởng khiển
trách hoài. Thầy cho là các thứ kim, mộc gì đó trong đất
tu viện khắc nhau. Thầy nảy ra ý kiến thờ bà Ngũ Hành để
mọi việc êm thắm. Miễu của bà được xây từ lâu rồi,
trước khi có mặt thầy trị sự và có luôn cả trước sư
trưởng. Tu viện này vốn là một ngôi chùa tư được nhường
lại cho Giáo Hội, làm chỗ tu học cho các sư trẻ. Nhưng các
sư này đa số lại hay nghịch. Về đây chưa bao lâu, họ đã
lật úp bát nhang của bà và viết vào vách miễu ngày chỗ
bà ngự bốn chữ "Bà đã đi rồi". Trải qua hai đời sư trưởng
và bốn đời trị sự, nay đến thầy trị sự này mới có
ý định mời bà về lại. Nghe thầy trị sự giải thích tại
không có bà nên tu viện hay xảy ra những chuyện tranh chấp
tư tưởng, các chú nhỏ lại càng không muốn bà trở lại.
Vì các sư nếu cãi nhau nhiều sẽ bị phạt nhiều, bù vào
chỗ họ hay ăn hiếp các chú. Nhất là chú Đảm và chú Mùi
bị thầy trị sự phạt quỳ nhiều nhất, nên muốn thầy
bị sư trưởng quở trách thích đáng. Hai chú nhỏ này rủ
Nghi tối nay, đợi khi các sư ngủ hết, hè nhau ra đái lên
đống ngói thật nhiều để bà không dám về. Họ dấu chú
Tiểu Đài, vì chú này được thầy trị sự thương, sợ mách
lại.
Sau
bữa cơm tối, họ đã chuẩn bị uống nước thật nhiều
để đái cho thật nhiều. Nhưng các sư chưa ngủ mà hai chú
đó đã ngủ say hết. Nhớ mật ước, quên cả cơn khóc vừa
rồi, quên má và quên sư trưởng, chú phăng phăng leo lên đống
ngói đứng đái, xoay người tứ phía y hệt như tưới rau.
Chú cảm thấy hứng thú vô cùng. Và chợt nhớ mấy người
trước chui qua vườn cải.
Đái
xong, chú chạy thẳng về phía hàng rào, chạy suốt sang con
đường đất, và chạy luôn một mạch vào nhà có người
đánh đàn hôm nọ. Và chú chợt nhớ mình chưa biết tên cô.
Ánh
sáng còn hắt ra ngoài cửa sổ. Nghi thấy cô đang cúi đầu
trên sách, hai tay vo tròn cây viết, vòng lên đầu quyển. Chú
vịn tay leo lên khung cửa sổ.
-
Thưa cô.
Cô
giật mình, quay phắt người lại. Hai mắt mở to kinh ngạc.
Nghi thấy hai con mắt đó dễ thương hết sức. Không đợi
cô trả lời, Nghi hỏi luôn :
-
Nghi chưa biết tên cô.
Cô
mỉm cười. Nghi thấy cái gì ở cô cũng khác má mình hết.
Nhất là nụ cười. Nghi không nhớ má chú đã cười như thế
nào. Thậm chí không nhớ rõ là có cười lần nào không. Ảnh
thờ trong phòng thì không bao giờ cười. Ngày thường, Nghi
không hề để ý xem các cô lên chùa khi nói chuyện với các
sư họ cười như thế nào. Các vong linh thờ sau điện Phật
cũng có người cười. Mỗi khi các chú được sai lau ảnh,
chú Đảm thường hay la lên :
-
Người chết cũng cười tụi bây ơi.
Chú
Mùi lẩn quẩn đâu đó, chạy lại nói :
-
Ê ! Coi chừng quả báo chết mi không được cười đa nghen.
Quả
báo rụng răng hết.
Nụ
cười của cô, Nghi thấy cũng dễ thương như đôi mắt của
cô.
-
Như Khuê. Được chưa ? Điệu ni coi rứa mà hoang quá hỉ.
Nghi
nhảy vào trong. Thất vọng, thất vọng nhìn cây đàn đã bị
đậy nắp phím. Chú nhớ lại tiếng đàn hôm trước. Cô có
thể đọc trên mắt chú thấp thoáng sự tìm kiếm, vì chúng
chập chạp lướt trên thùng đàn. Mặt thùng màu nâu bóng
loáng, mà mắt chú thì lúc nào cũng sáng, và bây giờ chúng
lại lấp lánh trong sự tìm kiếm mơ hồ.
-
Muốn đàn hả ?
-
Cô đàn chớ Nghi đâu biết đàn.
-
Để cô dạy cho, Thầy điệu không biết mô.
Chú
nghiêng đầu ra khung cửa. Nghe ngóng. Bên phải là sân cỏ
nhỏ, chạy lùi về phía sau nhà. Góc rào kia là một cây hòe.
Trước mắt, rải rác vài khóm hoa mà Nghi không biết là thứ
hoa gì. Như Khuê cũng đến đứng dựa cửa sổ nhìn ra với
chú. Cô nhắc :
-
Cô dạy Nghi học đàn nghe.
-
Học liền hả cô ? Thích thiệt. Nghi dở đàn nghe.
Quả
tình, Nghi đang khoái chí. Chú quay lại với cây đàn. Rảo
mắt nhìn quanh, rồi đặt tay vào hai núm sắt. Khắp cả cây
đàn, chỉ có hai cái núm đó là Nghi thấy có thể nắm được.
Nắm và kéo, mảnh gỗ bật lên, nhưng kéo không ra. Phần trên
nắp phím vẫn không động đậy. Chú dở ngược lên, định
giật mạnh. Như Khuê chận lại :
-
Coi, hư của người ta.
Cô
đẩy nhẹ nắp phím thụt vào thùng đàn. Nghi cao hứng. Mười
ngón tay bấu luôn cả vào phím. Chúng thi nhau chạy nhảy tứ
tung. Âm thanh rộn rã.
-
Bữa ni học chi kịp. Khuya rồi. Bữa khác, Nghi nhớ qua thiệt
sớm nghe.
-
Dạ đâu có được. Giờ đó Nghi phải trả bài cho thầy.
Mà qua hoài, thầy biết phạt chết.
Đêm
đã khuya. Mặc dù đây chỉ là một khu ngoại ô cách trung
tâm Sài Gòn không mấy xa, nhưng vào giờ này, có lẽ cả xóm
đã ngủ hết. Nhà cửa thưa thớt, cách nhau vài chục thước.
Thêm nhiều cây cối và tàn rộng khiến cho chúng càng thêm
biệt lập và khuất nhau. Chú tiểu ở chùa, quen sự tự nhiên
của mình đối với khách thập phương lai vãng, nên không
biết thế nào là thân hay sơ. Biết mặt và biết tên, chừng
đó như đã để đủ trở thành bà con ruột thịt. Nghi lúc
nào cũng cao hứng, Như Khuê tự nhiên thấy mình đã thân thiết
với chú vô cùng. Cô muốn hôn lên đôi mắt thần tiên của
chú. Cửa chùa không biết có vĩnh viễn khép kín nổi con người
có cái phong vận như thế. Nhưng chắc cũng có mấy ai có thể
nhìn suốt qua đôi mắt kia mà thấy được bóng dáng của
huyễn mộng phù sinh. Cô đâu biết, và chưa bao giờ thấy
sự thành kính của chú và đôi mắt mông lung như khói trầm.
Dù vậy, ngay lúc này, cô thấy rõ hơn ai hết, có lẽ vậy,
sự nóng cháy đam mê trong đôi mắt thần tiên đó. Thế mà
cô cũng chưa bao giờ thấy được sự nóng cháy của một
ngọn nến lẻ loi giữa đêm khuya tịch mịch. Cô bỗng thấy
trong thâm tâm mình bây giờ y hệt như một họa sĩ vẽ trúc
đã mọc đầy trúc trong bụng. Cô mong cho sự nóng cháy kia
không sớm bị dập tắt dưới những kỷ luật lạnh lùng
nơi tu viện. Cô có cảm giác mười đầu ngón tay của mình
đang vuốt nhẹ lên mặt hồ với những lượn sóng nhỏ.
Cô
ngồi lại trước cây đàn. Bàn tay trái mở rộng, đầu ngón
trái và ngón út cũng ấn nhẹ lên hai phím đen, ngón trỏ và
ngón áp út điểm đều đặn trên các phím đen trắng bất
thường. Nghi chưa bao giờ thấy ở đâu có sự dịu dàng bao
la như những ngón tay đó của cô bây giờ. Chú đưa tay lên
vuốt chỏm tóc. Bất chợt, chú cũng xòe rộng bàn tay trái,
đập lên các phím đàn. Như Khuê vừa đàn vừa la :
-
Đừng phá. Để người ta đàn cho mà nghe.
Nghi
rút tay lại. Chạy vòng qua phía tay phải của cô. Nhìn một
lúc, chú lại thò tay phải ra, đập một lượt bốn phím trắng.
-
Phá hoài hà. Không đàn nữa.
Chú
đứng lui, núp sau lưng cô. Như Khuê đứng dậy. Cô nhìn thấy
chú ngơ ngác, thất vọng.
-
Nghi mấy tuổi ?
-
Mười hai.
-
Học ở mô ?
-
Nghi sắp lên đệ lục. Nghi đi học buổi sáng. Ngoài trường
Hồ Ngọc Cẩn đó, cô biết không ?
-
Hằng ngày Nghi có hay ra khỏi chùa đi chơi không ?
-
Cô hỏi nhiều vậy. Nghi mỏi chân rồi.
Chú
chống tay, nhảy lên ngồi trên khung cửa sổ.
Đâu
có được. Phải có Thầy dẫn mới được đi. Còn không thì
trốn đi tối nay đó.
Như
Khuê cười. Chú tiểu này quả có lí lắc thật. Cô thích
được nắm chỏm tóc của chú mà vuốt dài xuống, Cô đứng
tựa mình lên khung cửa và nhìn lên bầu trời. Trăng khuya,
lác đác vài ngôi sao. Một ngôi sao.... Xa quá....
-
Nghi buồn ngủ chưa.
-
Chưa. Nghi thức suốt đêm 30 rạng mùng 1 tết.
-
Chi rứa.
-
Tại quen. Hồi trước, má Nghi dẫn Nghi tới Thầy, rồi đi
đâu mất. Tết năm đó, nhớ má Nghi không ngủ được.
Mấy
tháng sau nghe thầy nói má Nghi chết rồi. Ở đâu không biết.
Nghi có bàn thờ má trong phòng.
Như
Khuê nghe cánh tay chú đụng vào người, Cô nhìn lại. Chú
đang kéo chỏm tóc sang một bên.
-
Nghi muốn về chưa ?
-
Chừng nào cô buồn ngủ Nghi về. Thầy chắc tưởng Nghi ngủ
trong phòng. Ủa. Nghi về chớ. Mai mốt cô qua chùa chơi nghe.
Chú
nhảy ngay xuống đất và chạy thẳng ra cổng. Như Khuê đứng
nhìn bóng trắng khuất ngoài hàng rào bông bụp.
Ngang
qua thiền thất, Nghi thấy sư trưởng bắc ghế ngồi nhìn
ra phía trước cổng. Cổng sắt đã khép kín. Con đường kéo
dài bất tận. Tiếng đàn buông lơi và chạy suốt, mất hút
ngoài kia. Nghi lén nhìn sau lưng sư trưởng và sư trưởng thì
nhìn vào bóng tối của con đường vì sư biết đó là Piano
Sonata 14 với tiến nhịp của sustenuto, chậm nhưng vĩnh viễn
chìm sâu trong bóng tối như những làn sóng nhỏ ôm bóng trăng
mà ngủ vùi trên bến cát.
Cho
đến lúc, Nghi cũng biết được rằng, đó là Piano Sonata 14....