Chương
Ba - Tăng Bảo
Tiết III
Quả vị Sa-môn
Một hôm vua A-xà-thế
(Ajàtasattu) đến yết kiến Thế Tôn và hỏi về kết quả
thiết thực của hạnh Sa-môn (hạnh xuất gia) và đã được
Thế Tôn dạy đại để có những kết quả sau đây:
1. Dù là kẻ nô bộc của nhà vua
xuất gia thì nhà vua cũng không gọi về mà còn cung kính đảnh
lễ và cúng dường -- nhà vua phát biểu.
2. Dù là nông dân xuất gia, nhà
vua cũng không bảo trở lại đời sống nông dân, nhà vua còn
cung kính đảnh lễ và cúng dường -- nhà vua phát biểu.
3. Dù là các thứ dân khác xuất
gia, cũng thế, nhà vua sẽ cung kính đảnh lễ và cúng dường
-- nhà vua phát biểu.
4. Do trú trên giới nên không dao
động, không sợ hãi, được hoan hỷ, sung sướng ngay trong
hiện tại.
5. Do sống biết đủ, từ bỏ sân
hận, tham ái nên cảm thấy hoan hỷ, sung sướng ngay trong hiện
tại.
6. Do đoạn trừ Năm triền cái mà
tâm hoan hỷ, sung sướng.
7. Do tu Thiền định, dần dần từ
bỏ tầm, tứ, hỷ, lạc, để chứng đắc Tứ Thiền (xả
niệm, lạc trú) được sung sướng, an lạc ngay trong hiện
tại.
8. Do từ bỏ sắc giới, chứng được
các Thiền vô sắc, nên được sung sướng, an lạc.
9. Do từ bỏ các Vô sắc để vào
Diệt thọ tưởng định, chánh trí sinh khởi. Ðây là kết
quả thiết thực, rất thiết thực của hạnh Sa-môn.
10. Từ Diệt thọ tưởng định,
các lậu hoặc được đoạn trừ, giải thoát và tri kiến
giải thoát sinh. Ðây là kết quả thiết thực nhất trong tất
cả kết quả thiết thực của hạnh Sa-môn (theo kinh Sa-môn
Quả, Trường Bộ I; Trường A-hàm, số 26).
Do nhiếp phục Năm triền cái, tu
sĩ chứng Sơ Thiền. Có thể từ Sơ Thiền, Tỷ-kheo đoạn
trừ thân kiến và chứng đắc Tu-đà-hoàn quả. Thông thường
thì từ Tứ Thiền, tu sĩ quán vô ngã, vô thường của các
pháp và có thể chứng đắc từ Sơ quả Thánh (Tu-đà-hoàn)
đến Tứ quả Thánh (A-la-hán).
Lộ trình tu tập của vị Tỷ-kheo
là lần lượt đoạn trừ mười kiết sử. Nếu đoạn trừ
được ba kiết sử đầu (thân kiến, nghi và giới cấm thủ)
thì chứng đắc quả Thất lai (Tu-đà-hoàn, Nhập lưu), nếu
làm muội lược thêm dục và sân kiết sử, thì chứng đắc
quả Nhất lai (Tư-đà-hàm). Nếu hoàn toàn đoạn trừ Năm
hạ phần kiết sử (thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục
và sân) thì chứng đắc quả Bất lai (A-na-hàm). Nếu đoạn
trừ hết Năm thượng phần kiết sử (hữu ái, vô hữu ái,
mạn, trạo cử và vô minh) thì chứng quả A-la-hán. Ðây là
quả vị Sa-môn cao nhất, hoàn toàn giải thoát sanh tử, khổ
đau.
Bốn quả vị Sa-môn này chỉ có
ở Phật giáo mà không thể có ở bất cứ một tôn giáo nào
khác. Chỉ có bốn quả vị ấy là chân chính của bậc Thánh:
quả Tu-đà-hoàn còn được gọi là quả Nhập lưu (bước
vào dòng Thánh), quyết định đi thẳng vào giải thoát đó;
từ quả vị Nhập lưu đến Bất lai là Thánh Hữu học, có
nghĩa là còn có phần phải tu tập; quả vị A-la-hán gọi
là Thánh Vô học hay vô lậu, là quả vị đã đoạn tận tham
ái, chấp thủ và vô minh, hoàn toàn thoát ly sinh tử (theo Kinh
Ðại Sư Tử Hống, Trung Bộ I và Sư Tử Hống Kinh, Trung A-hàm,
số 24).
Có quan điểm cho rằng bốn quả
vị trên chỉ là quả vị nhỏ, thuộc quả Thanh văn. Nhưng
thực sự đi vào nội dung chứng ngộ thì không phải thế.
Quả vị A-la-hán, với sự tận trừ mười kiết sử đã là
quả vị chứng ngộ sau cùng của một đệ tử của Thế Tôn.
Kinh Kim Cương cũng chỉ định nghĩa: chấp thủ ngã, pháp diệt
là đắc A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề; Kinh Lăng-già thì
định nghĩa Thức diệt là Niết bàn; do đó, ở mặt Tuệ
giải thoát, quả A-la-hán đã đoạn tận thức, thủ, ái, vô
minh... nên phải là quả vị chứng ngộ sau cùng, dù tại quả
vị này khả năng thể nhập Pháp thân có khác nhau giữa A-la-hán
Thanh văn, A-la-hán Bích-chi, Bồ-tát và A-la-hán Chánh Ðẳng
Giác.
Mười quả vị tu chứng của Bồ-tát
được trình bày ở Thập Ðịa Kinh (Hoa Nghiêm tông, "Các Tông
Phái Ðạo Phật", của Junjiro Takakusu; bản dịch của Tuệ
Sỹ 1973, Tu thư Ðại học Vạn Hạnh) cũng đến qua ngõ đường
Thiền định (hay Giới, Ðịnh, Tuệ):
- Sơ địa hay Hoan hỷ địa
chỉ là quả vị kiến đạo, thấy rõ ngã không và pháp không.
- Nhị địa hay Ly cấu địa là
quả vị viên mãn về Giới (giới thanh tịnh),
- Tam địa hay Phát quang địa thì
hoàn bị nhẫn nhục.
- Tứ địa hay Diệm huệ thì hoàn
bị tinh tấn.
- Ngũ địa hay là Nan thắng địa
là quả vị viên mãn Thiền định.
- Lục địa hay Hiện tiền địa
thì hoàn bị về Tuệ.
- Thất địa, hay Viễn hành địa
thì đoạn trừ thân kiến và tu tập đại bi.
- Bát địa, hay Bất động địa,
trú vô ngã tưởng, lìa xa ngã và pháp.
- Cửu địa, hay Thiện huệ địa
thì thành tựu mười lực, biết rõ căn cơ chúng sinh đáng
được độ hay chưa đáng được độ.
- Thập địa hay Pháp vân địa,
thì có thể thuyết giảng cho tất cả thế giới. Ðấy thực
sự là quả vị Phật, Thế Tôn.
Hình thức trình bày quả chứng Thập
địa có khác với hình thức trình bày ở Tứ quả Sa-môn.
Tuy nhiên, xét theo nội dung của chứng đắc thì quả vị A-la-hán
được xem tương đương với ba quả vị sau cùng của Thập
địa. Trường hợp Tôn giả Xá-lợi-phất đã được Thế
Tôn xác nhận có thể thay Thế Tôn để chuyển vận bánh xe
pháp, có nghĩa là có thể thuyết pháp cho bất cứ ai muốn
nghe.
Nếu xét về mặt lục độ Ba-la-mật,
như được trình bày ở Bát-nhã, thì vị A-la-hán cũng đầy
đủ sáu Ba-la-mật vậy. Thuyết pháp mà vô trú tướng, đấy
là bố thí Ba-la-mật. Trì giới mà vô trú tướng, như vị
A-la-hán vẫn an trú trong giới mà vẫn lìa khỏi hết mọi
chấp thủ, đấy là trì giới Ba-la-mật. Nhẫn trú ở Không
tánh mà vẫn thuyết pháp giáo hóa quần sinh của A-la-hán,
đó là Nhẫn nhục Ba-la-mật. Vị A-la-hán đã viên mãn hạnh
tinh tấn, lìa hết mọi chấp thủ tướng, đó là Tinh tấn
Ba-la-mật. Vị A-la-hán đắc Chánh trí, đoạn trừ hết lậu
hoặc, đã đạt đỉnh cao của Thiền định mà vừa lìa hết
chấp thủ, vô minh, đấy là Thiền định Ba-la-mật và Trí
tuệ Ba-la-mật.
Nếu đừng để mình vướng mắc
vào ý nghĩa của ngôn từ thì chúng ta có thể dễ dàng đi
ra khỏi ngộ nhận cho rằng A-la-hán là Thanh văn quả nhỏ.
Thực sự A-la-hán đã là quả giải thoát tối hậu của thân
giải thoát.
Ðiểm nhận thức sau rốt mà chúng
ta phải ổn định là: một khi vị A-la-hán đã đoạn hết
vô minh, chấp thủ, thì không còn bất cứ một đối tượng
nào bị chấp thủ nữa; một khi mà vị A-la-hán đã đoạn
hết vô minh, lậu hoặc, thì không còn một tập khí sinh tử
nào còn rơi rớt lại. Chỉ có trường hợp vị Khô đầu
A-la-hán và A-la-hán vừa mới chứng Ðạo thì thật sự chưa
hoàn toàn dứt hết tập khí sinh tử; phải cần một thời
gian ngắn nữa để vị A-la-hán này hành Ðịnh và Tuệ nhuần
nhuyễn, khi còn mang thân Năm uẩn này, cho đến lúc thực sự
đắc A-la-hán quả./.