Chương
Ba - Tăng Bảo
Tiết I
Ðời sống của
chư tăng
(tiếp theo)
Bốn thứ cần
thiết của chư Tăng (Ni):
Tài sản của một vị Tỷ-kheo gồm
có ba y (y lót hay áo lót ở trong, một tấm vải vắt trên
nửa mình và tấm y quấn tròn quanh mình) và một bình bát.
Chỉ có thế, ngoài y bát, chư Tăng còn cần đến một bữa
ăn trưa mỗi ngày (gọi là thực phẩm) mà không tích lũy,
một chỗ nằm khiêm tốn gọi là sàng tọa (có thể chỉ một
tấm ván hay một chiếc giường tre hay giường dây thấp và
hẹp) và một ít thuốc men tùy thân phòng để chữa bệnh
khi đau ốm. Tất cả các thứ cần thiết này đều chờ đợi
lòng tốt của các thí chủ cúng dường. Chư Tăng không cổ
động hay vận động cúng dường, cũng không cất chứa sẵn;
hoàn toàn sống không có tài sản. Về phần phục vụ bốn
thứ cần thiết ấy, Thế Tôn đã dạy các Phật tử tại
gia (gọi là cận sự nam và cận sự nữ) lo liệu, xem như
là một trong các bổn phận hộ pháp của mình.
Sự nghiệp tu hành của một Tỷ-kheo
chỉ có Giới, Ðịnh và Tuệ bên cạnh bốn vật dụng cần
thiết ấy.
Chư Tăng mặc thì không cầu đẹp,
ăn thì không cầu ngon, ngủ thì không cầu đủ. Ngày nay nếp
sống ấy còn được duy trì trong châm ngôn của nhà chùa là
"Tam thường bất túc" (ba điều thường sống là ăn, mặc,
ngủ không cần đủ; chỉ vừa phải). Nếp sống ấy, một
mặt vừa để tiết chế dục vọng, biểu hiện bên ngoài
cái vẻ kham khổ, nhưng một mặt nói lên một nghệ thuật
sống cao: mặc thiếu (hay vừa đủ) thì sẽ thấy rõ hạnh
phúc của mặc, ăn ít sẽ thấy rõ hạnh phúc của ăn; và
ngủ ít sẽ cảm nhận hạnh phúc của ngủ sâu sắc hơn. Ðời
sống vật chất của chư Tăng có vẻ thiếu thốn, nhưng chính
vì thế mà nuôi sống tâm hồn rất sung mãn. Các vị trọn
hưởng các hạnh phúc của cuộc sống và hạnh phúc của Thiền
định một cách rất nhẹ nhàng và thanh thoát. Làm sao chúng
ta có thể diễn đạt được nguồn sống ấy, nếu chính chúng
ta không là một tu sĩ và không là một tu sĩ thể hiện đúng
nếp sống ấy?
Bạn thử tưởng tượng nếu một
người có đến hơn ba mươi chiếc ấo (chemise hay áo dài),
người ấy sẽ có ít nhiều lúng túng trước khi chọn một
màu áo để mặc hàng ngày hay mặc trong các dịp hội hè,
lễ lược, thì người ấy sẽ cảm thấy mất đi nhiều cảm
thú về ăn mặc. Nếu một người có thật nhiều món ăn thượng
vị (ngon, quý và bổ), thì người ấy hẳn không còn, hay mất
đi nhiều cảm giác thích thú của ăn. Nếu một người có
thật nhiều thì giờ để ngủ và ngủ thật nhiều, thì giấc
ngủ của người ấy trở nên vô vị, lãng phí. Sự dư thừa
về ăn, mặc và ngủ lắm khi đánh mất đi nhiều hạnh phúc
của sự sống.
Há nếp sống của chư Tăng đề
cập ở trên không để lại cho người đời một kinh nghiệm
hữu ích về nghệ thuật sống sao? Ðây là chưa nói đến
nghệ thuật huấn luyện tâm lý để lúc nào quý vị cũng
có thể nhìn đời với đôi mắt trong sáng, lúc nào cũng đón
nhận tại trần thế cảm thọ như tại nước Cực lạc.
Quả thực, chúng ta không còn một
thắc mắc nào cả về chuyện một hệ thống giáo lý giải
thoát kỳ diệu như thế, được lồng vào trong một nếp sống
kỳ diệu như thế, đầy nghệ thuật, nhẹ nhàng, thanh thoát
và lợi tha như thế.
Xuất gia - Thọ
cụ túc giới - Bố-tát và tự tứ
Vào thời Thế Tôn, khi một người
dân thông thường, một người quý tộc, một Phật tử tại
gia hay một người ngoại đạo hiểu được giáo lý giải
thoát và nói lên lời cầu xin xuất gia trước Thế Tôn một
cách thành khẩn, sẽ được Thế Tôn chấp nhận liền. Vậy
là tức thì người ấy trở thành một tu sĩ. Có người được
Thế Tôn cho thọ Cụ túc giới liền; có người phải hành
Sa-di giới một thời gian; có người ngoại đạo phải ở
riêng biệt với chúng Tăng bốn tháng, tùy theo nhân duyên,
căn cơ của từng người.
Ðối với các vị đại đệ tử
của Thế Tôn thì việc trở thành Tỷ-kheo thật là giản dị:
Thế Tôn chỉ gọi "Ðến đây, này Tỷ-kheo" thì vị ấy lập
tức là Tỷ-kheo. Về sau, khi chấp nhận một người xuất
gia, Thế Tôn thường trao qua cho Tôn giả Xá-lợi-phất và
Tôn giả Ưu-ba-ly xử lý. Kinh không thuật rõ các thủ tục
xuất gia mà các Tôn giả Xá-lợi-phất và Ưu-ba-ly đã làm.
Có lẽ vì sự kiện xuất gia thuộc phần Luật tạng. Trường
hợp hoàng tôn La-hầu-la (Rahula) xuất gia, thì Tôn giả Xá-lợi-phất
làm Hoà thượng, Tôn giả Mục-kiền-liên làm Yết-ma và Tôn
giả Ưu-ba-ly làm Giáo thọ.
Sau khi thọ giới, Sa-di La-hầu-la
y chỉ vào Tôn giả Xá-lợi-phất, về sau chư Tăng y chỉ và
nương tựa vào hai Tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên.
Có rất nhiều trường hợp, các vị xuất gia khỏi phải thọ
Sa-di giới, mà được thọ liền Cụ túc giới. Ðiều này
dễ hiểu, bởi vì các vị thời ấy có căn cơ tu tập gần
như đã thuần thục, chín muồi, khác với xã hội tu hành
ngày nay, chỉ cần tuổi đời từ hai mươi.
Lễ truyền thọ Sa-di giới thường
có bốn vị Tỷ-kheo Thượng tọa (hay Trưởng lão). Lễ truyền
thọ Cụ túc giới thường đòi hỏi đủ mười vị gọi là
Tam sư (Hòa thượng Ðàn đầu, Hòa thượng Yết-ma và Hòa
thượng Giáo thọ) và Thất chứng (tất cả bảy vị). Ở
đây, không đi sâu vào Luật tạng để trình bày những chi
tiết.
Về điều kiện của một vị Tỷ-kheo
có khả năng trao truyền giới Cụ túc, Thế Tôn dạy:
"Ở đây, này Ưu-ba-ly, Tỷ-kheo có
giới, sống được chế ngự với sự chế ngự của Giới
bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi
trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các
học pháp. Vị ấy là người nghe nhiều, nắm rõ điều đã
được nghe, cất giữ điều đã được nghe, khéo thông hiểu,
khéo quyết định theo Kinh, theo chi tiết. Vị ấy có khả năng
nuôi dưỡng người bệnh hay khiến người khác nuôi dưỡng;
có khả năng làm chấm dứt bất mãn; có khả năng đoạn trừ
đúng pháp các ác pháp khởi lên; có khả năng phân biệt,
chỉ trích tà kiến khởi lên; có khả năng khích lệ trong
Tăng thượng giới; có khả năng khích lệ trong Tăng thượng
tuệ" (Tăng Chi III-B, tr. 75).
Về một Tỷ-kheo có khả năng trao
truyền y chỉ hay nuôi dưỡng một Sa-di, Thế Tôn dạy:
"Ở đây, này Ưu-ba-ly... (tương
tự như trên)" (Tăng Chi III-B, tr. 75).
Như thế, một Tỷ-kheo có khả năng
trao truyền Cụ túc giới cũng là vị có khả năng trao truyền
y chỉ cho Sa-di và nuôi dưỡng Sa-di. Và ngược lại.
Bốn chúng xuất gia kể trên, ngoài
những sinh hoạt họp mặt để nghe pháp, để học tập, để
dự các buổi cúng dường trai Tăng còn được Thế Tôn quy
định họp mặt mỗi nửa tháng một lần vào ngày mười lăm
và ba mươi Âm lịch (bạch nguyệt và hắc nguyệt) để nghe
tụng đọc Giới bổn. Các Phật tử tại gia cũng được nghe
đọc Giới bổn riêng của mình là "Bát quan trai giới". Ngày
tuĩng đọc Giới bổn được gọi là ngày Bố-tát (Uposatha)
hay còn gọi là ngày trai giới.
Bố-tát hay Bố-sa-tha là dịch âm
của từ Uposatha (Pàli) hay Upovasatha (Sanskrit), có nghĩa là tịnh
trú, hay trưởng tịnh, bởi vì việc nghe đọc Giới bổn sẽ
giúp cho chúng Tăng nuôi dưỡng giới đức thanh tịnh.
Trong thời Bố-tát, không một Tỷ-kheo
nào được phép không Bố-tát. Nếu ở nơi không hội đủ
chúng Tăng (từ bốn vị trở lên) thì sẽ hành Bố-tát theo
thể thức "Ðối thú Bố-tát" cho ba vị; nếu chỉ có một
mình thì hành lễ Bố-tát theo thể thức cho mình, tự mình
âm thầm nói: "Hôm nay là ngày Bố-tát của chúng Tăng, tôi
là Tỷ-kheo.... thanh tịnh" (3 lần).
Thời Bố-tát diễn ra vào sáng sớm
của ngày hắc nguyệt và bạch nguyệt, trước lúc trời sáng.
Trong những năm đầu thì Thế Tôn tụng đọc Giới bổn. Ðến
khi trong Tăng chúng có người không được thanh tịnh thì Thế
Tôn trao việc đọc Giới bổn cho chư Tỷ-kheo, Thế Tôn dạy:
"Này các Tỷ-kheo, không có một sự kiện, không có cơ hội
rằng Như Lai có thể đọc Giới bổn trong một hội chúng
không thanh tịnh". (Tăng Chi III-A, tr. 195; Trung A-hàm, số 37).
Nhưng, ngay cả khi việc đọc Giới
bổn trao về cho các Tỷ-kheo, thì việc tụng đọc Giới bổn
Ba-la-đề-mộc-xoa (Pàtimokkha) vẫn có thể bị ngưng lại vì
mười lý do:
"Khi có một người phạm Ba-la-di
(Pàràjika) ngồi trong hội chúng ấy; khi thảo luận về người
phạm Ba-la-di tội chưa chấm dứt; khi có người chưa thọ
Cụ túc giới ngồi trong hội chúng ấy; khi thảo luận về
người chưa thọ Cụ túc giới chưa chấm dứt; khi một người
từ bỏ học pháp ngồi trong hội chúng; khi cuộc thảo luận
về người từ bỏ học pháp chưa chấm dứt; khi một người
thiếu năm căn ngồi trong hội chúng; khi cuộc thảo luận về
người thiếu năm căn chưa chấm dứt; khi có người 'ô nhục
Tỳ-kheo-ni' còn ngồi trong chúng ấy; khi cuộc thảo luận về
người ô nhục Tỷ-kheo-ni chưa chấm dứt" (Tăng Chi III-B, tr.
73).
Trường hợp một vị Tỷ-kheo bị
tẩn xuất, cần được một hội đồng xét xử, gồm nhiều
vị Tỷ-kheo hội đủ điều kiện tốt, như trường hợp để
truyền thọ Cụ túc giới hay nuôi dưỡng Sa-di.
Sau mỗi mùa an cư, Thế Tôn và chư
Tăng thường họp mặt tại một nơi và tiến hành một thủ
tục kết thúc mùa an cư gọi là Tự tứ.
Ở xứ ta, lễ Tự tứ thường cử
hành vào sáng mười lăm hay mười sáu tháng bảy Âm lịch
cho thủ tục tiền an cư (nếu ngày vào hạ là 15 hay 16 tháng
4 Âm lịch); lễ Tự tứ cử hành vào sáng mười bảy hay mười
tám tháng bảy Âm lịch cho thủ tục hậu an cư (nếu ngày
vào hạ là sau ngày 16 tháng 4 Âm lịch).
Sau đây là khung cảnh và diễn tiến
của một nghi thức Tự tứ dưới thời Thế Tôn:
Nhân ngày trăng tròn của Bố-tát
và Tự tứ, Thế Tôn ra ngồi ở ngoài trời (khoảng trống);
chư vị Tỷ-kheo im lặng ngồi vây quanh Ngài. Thế Tôn nhìn
quanh chúng Tỷ-kheo và mở lời: "Này các Tỷ-kheo, này các
Tỷ-kheo, nay Ta mời các Tỷ-kheo nói lên, các Tỷ-kheo có điều
gì chỉ trích Ta hay không, về thân hay về lời nói" (Tương
Ưng I, tr. 237). Bấy giờ chúng Tỷ-kheo gồm năm trăm vị A-la-hán.
... Tôn giả Xá-lợi-phất (Trưởng
chúng) đắp thượng y chắp tay vái chào Thế Tôn: "Bạch Thế
Tôn, chúng con không có chỉ trích gì Thế Tôn về thân hay
về lời nói. Bạch Thế Tôn, con đường chưa sanh khởi, Thế
Tôn làm cho sanh khởi; con đường chưa được rõ biết, Thế
Tôn làm cho rõ biết; con đường chưa được thuyết giảng,
Thế Tôn đã thuyết giảng. Thế Tôn biết đạo, hiểu đạo,
thiện xảo về đạo; và bạch Thế Tôn, các đệ tử nay là
những người sống hành đạo, và sẽ thành tựu đạo về
sau. Và bạch Thế Tôn, con xin mời Thế Tôn nói lên, có điều
gì chỉ trích con hay không, về thân hay về lời nói?" (Sđd,
tr. 238).
Thế Tôn đáp:
"Này Xá-lợi-phất, Ta không có gì
chỉ trích Ông về thân hay về lời nói. Này Xá-lợi-phất
Ông là bậc đại trí..., quảng trí..., tốc trí...., tiệp
trí..., nhuệ trí... nhập trí. Này Xá-lợi-phất, ví như Trưởng
tử con vua Chuyển luân vương, chân chánh vận chuyển bánh
xe đã được vua cha vận chuyển. Cũng vậy, này Xá-lợi-phất,
Ông chân chánh vận chuyển Pháp luân vô thượng đã được
Ta vận chuyển" (Sđd, tr. 238).
Tôn giả Xá-lợi-phất bạch tiếp:
"Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không có
gì chỉ trích con về thân hay về lời nói, vậy bạch Thế
Tôn, đối với khoảng năm trăm Tỷ-kheo này, Thế Tôn có gì
chỉ trích hay không, về thân hay về lời nói?" (Sđd, tr. 238).
Thế Tôn dạy:
"Này Xá-lợi-phất, đối với năm
trăm Tỷ-kheo này, Ta không có gì chỉ trích về thân hay về
lời nói. Này Xá-lợi-phất, trong khoảng năm trăm Tỷ-kheo
này, sáu mươi Tỷ-kheo là bậc Tam minh, sáu mươi Tỷ-kheo là
bậc chứng được Sáu thắng trí, sáu mươi Tỷ-kheo là bậc
Câu phần giải thoát, và các vị còn lại là bậc Tuệ giải
thoát". (Sđd, tr. 238).
Rồi tiếp theo, Tôn giả Vangìsa
đắp thượng y tác bạch xin phép Thế Tôn trình bày một vấn
đề, và được Thế Tôn cho phép. Vấn đề mà Tôn giả Vangìsa
trình bày là đọc lên một bài kệ (đại khái tương tự
những vần thơ cảm hứng) tán thán buổi lễ Tự tứ với
sự có mặt của tất cả những vị đã đoạn tận khát ái,
dòng dõi mặt trời. Và buổi lễ được kết thúc.
Như thế, các lễ xuất gia, thọ
Cụ túc giới, Bố-tát và Tự tứ là đã có từ năm đầu,
sau ngày Thế Tôn thành đạo. Truyền thống ấy, căn bản vẫn
còn giữ đến ngày nay, tuy hình thức biểu hiện ngày nay có
vẻ nặng phần hình thức hơn.
Giáo Giới -
Buộc Tội - Hành Xử Ðúng Pháp
Khi đã có Giáo hội Ni ra đời thì
việc giáo giới (hay giảng dạy Phật pháp và việc tu tập)
cho chư Ni do một vị đại diện chư Tăng đảm trách được
đặt ra. Vị ấy phải là vị có hiểu biết về giáo lý như
thế nào, có kinh nghiệm tu tập như thế nào về trì giới
và Thiền định, có giới đức như thế nào để có thể
đem lại lợi ích cho Ni chúng? Vì thế, một hôm Tôn giả A-nan
đã bạch hỏi Thế Tôn về tư cách của một vị Tăng được
chọn để giáo giới Ni, và đã được Thế Tôn dạy:
"Ở đây, này A-nan, Tỷ-kheo có giới
đức, sống chế ngự với sự chế ngự của Giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa,
đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi
nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Vị
ấy nghe nhiều, nắm vững ý nghĩa những điều đã được
nghe, nhớ kỹ các điều đã được nghe; những pháp ấy sơ,
trung, hậu thiện, nghĩa lý, văn cú đầy đủ; đề cao đời
sống Phạm hạnh, hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh; ... khéo
thể nhập chánh kiến. Vị ấy đối với hai bản Giới bổn,
được khéo trao truyền rộng rãi, khéo phân tích, khéo thông
hiểu... Vị ấy có một giọng nói dễ nghe, phát âm tốt,
tao nhã, không bập bẹ, giải thích nghĩa lý minh xác. Vị ấy
có khả năng thuyết giảng pháp thoại cho chúng Tỷ-kheo,...
khích lệ, làm cho hoan hỷ, phấn khởi, được phần đông
các Tỷ-kheo-ni ái mộ, thích ý. Trước khi y chỉ Thế Tôn
để xuất gia, vị ấy không có phạm trọng tội nào, được
hai mươi tuổi an cư hay hơn hai mươi tuổi an cư" (Tăng Chi
III-A, tr. 252).
Thế có nghĩa là vị đi giáo giới
Ni cần hội đủ một số điều kiện căn bản này:
- Có giới đức thanh tịnh.
- Thông rõ Kinh và Luật (luật Tăng
và luật Ni).
- Có trình độ văn hóa khá để
có thể trình bày lưu loát các vấn đề Phật pháp, với cú
pháp sáng sủa, rõ ràng.
- Có khả năng thuyết giảng và
có âm thanh nhẹ nhàng, ngôn từ tao nhã, cung cách nghiêm chỉnh
và từ ái.
- Tuổi hạ từ hai mươi trở lên,
nghĩa là tuổi đời ít nhất là bốn mươi. (Ðây là điều
kiện tuổi của một vị Thượng toạ, theo tổ chức của
Giáo hội Phật giáo Tăng-già Việt Nam từ 1964).
Việc buộc tội và hành xử tội trong
trường hợp một Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni vi phạm tội nặng phải
biểu hiện đúng tinh thần của giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa
(như đã được trình bày ở Tiết VIII - Giới học) có nghĩa
là xây dựng cho cá nhân và tập thể Tăng-già. Thành thử
một vị Tỷ-kheo đứng ra buộc tội cũng cần hội đủ một
số điều kiện như sau:
- Thân hành thanh tịnh, khẩu
hành thanh tịnh;
- Có từ tâm, không buộc tội với
tâm sân hận đối với vị Tỷ-kheo phạm tội;
- Là vị có nghe nhiều, hiểu nhiều
và hành trì nhiều về Phật pháp.
- Rành rẽ hai bản Giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa
thì việc buộc tội mới đưa đến kết quả xây dựng tốt.
(Tăng Chi III-A, tr. 81-82).
Các điều kiện nêu trên về tư cách
của một vị Tỷ-kheo đứng ra buộc tội nổi bật nét từ
tâm, xây dựng và hữu hiệu của việc làm.
Trong khi một vị Tỷ-kheo bị làm
phép tìm tội Yết-ma thì bị hạn chế nhiều trong sinh hoạt
chung với chư Tăng; vị ấy bị cấm chỉ một số công việc
như:
- Không được truyền Cụ
túc giới;
- Không được cho Sa-di y chỉ, hay
hầu hạ;
- Không được nói chuyện với Tỷ-kheo;
- Không được giáo giới Tỳ-kheo-ni;
- Không được hưởng các quyết
định của Tăng chúng.
- Không được đặt trong một vị
trí đặc biệt nào; và không được phép trở lại vị trí
cũ, do bất cứ lý do nào. (Tăng Chi III-A, tr. 317).
Vấn Ðề Hòa
Hợp Tăng
Khi Tôn giả Ưu-ba-ly đặt ra vấn
đề thế nào là Tăng hòa hợp và xin Thế Tôn chỉ dạy, Thế
Tôn đã tuyên bố:
"Ở đây, này Ưu-ba-ly, các Tỳ-kheo
thuyết phi pháp là phi pháp; thuyết phi luật là phi luật, thuyết
luật là luật; thuyết điều Như Lai không nói là điều Như
Lai không nói; thuyết điều Như Lai có nói là điều Như Lai
có nói; thuyết điều Như Lai thường không làm là điều Như
Lai thường không làm; thuyết điều Như Lai thường làm là
điều Như Lai thường làm; thuyết điều Như Lai không chế
đặt là điều Như Lai không chế đặt; thuyết điều Như
Lai có chế đặt là điều Như Lai có chế đặt".
"Với mười sự này, chư Tỷ-kheo
không phá hoại, không chia rẽ, không hành Bất cộng Yết-ma,
không tuyên đọc Giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa khác biệt. Cho
đến như vậy, này Ưu-ba-ly, là Tăng chúng được hòa hợp"
(Tăng Chi III-B, tr. 77).
Ngược lại với một trong mười
sự việc trên là ý nghĩa của phá hòa hợp Tăng.
Quan trọng là ở điểm, dù vì bất
cứ lý do nào, dù là do chủ trương hay nhận thức bất đồng
về Pháp và Giới luật của Thế Tôn, hoặc dù là do các ý
đồ khác nhau (danh, lợi, chính trị...) ở ngoài phạm vi tu
hành mà gây ra hiện tượng chia rẽ, lũng đoạn Tăng chúng,
đều là ý nghĩa của phá hòa hợp Tăng cả.
Tội phá hòa hợp Tăng là một trong
năm tội trạng (ngũ nghịch tội) tương lai sẽ bị đọa địa
ngục.
Ðể tạo điều kiện sinh hoạt
hoà hợp của chư Tăng, Thế Tôn đã dạy sáu nguyên tắc sống
hòa hợp gọi là "Lục hòa".
1) Nguyên tắc thứ nhất
gọi là "Thân hòa đồng trú", có nghĩa là chư vị Tỷ-kheo
thân hành từ ái, trước mặt và sau lưng đối với các Tỷ-kheo
cùng tu để tạo nên tương kính, tương ái, đưa đến hòa
hợp, nhất trí, không tranh luận.
2) -3) Nguyên tắc thứ hai và ba gọi
là "Khẩu hòa vô tránh" và "Ý hòa đồng duyệt",
có nghĩa là lời nói từ ái, ý nghĩ từ ái đối với các
vị Tỷ-kheo cùng tu, trước mặt và sau lưng, để tạo thành
tương ái, tương kính, hòa hợp, nhất trí và không tranh luận.
4) Nguyên tắc thứ tư là "Lợi
hòa đồng quân", có nghĩa là đối với các lợi dưỡng
nhận được đúng pháp, gồm cả các thức ăn nhận từ bình
bát, các Tỷ-kheo nên san sẻ với các vị Tỷ-kheo cùng tu,
có giới đức, để tạo thành tương ái, tương kính đi đến
hòa hợp, nhất trí, không tranh cãi.
5) Nguyên tắc thứ năm gọi là "Giới
hòa đồng tu", có nghĩa là các vị Tỷ-kheo giữ gìn các
giới luật của cùng Giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa, không để
bị ô nhiễm, sứt mẻ đối với các Tỷ-kheo cùng tu, cả
trước mặt lẫn sau lưng, để tạo thành tương ái, tương
kính, hòa hợp, nhất trí và không tranh cãi.
6) Nguyên tắc thứ sáu gọi là "Kiến
hòa đồng giải", có nghĩa là các vị Tỷ-kheo nhiệt tâm
nỗ lực để thành tựu các tri kiến của bậc Thánh, có khả
năng đưa đến diệt tận khổ đau; Tỷ-kheo sống như vậy
đối với các Tỷ-kheo khác, cả trước mặt lẫn sau lưng
(nghĩa là dù các Tỷ-kheo khác thấy hay không thấy) để tạo
thành tương ái, tương kính đưa đến hòa hợp, nhất trí,
không tranh cãi.
Sáu nguyên tắc sống hòa hợp trên,
nếu được chúng Tỷ-kheo thực hiện thì sẽ đưa đến một
cuộc sống an ổn, tịnh lạc giữa chúng Tăng, và đưa đến
sự tăng thịnh của chúng Tăng, đem lại nhiều phước lạc
cho loài Người và chư Thiên. (Kinh Hoàng Lô Viên, số 157; Tăng
Chi II-B, tr. 340-341; Kinh Kosambi, Trung Bộ I).
Nguyên tắc "Lục hòa" này không
những chỉ áp dụng có kết quả tốt đẹp ở trong Tăng chúng
mà còn có thể áp dụng tốt đẹp cho bất cứ một sinh hoạt
tập thể nào. Nguyên tắc ấy vừa đầy tình thương, đầy
nhân tính, đầy công bằng hợp lý và nổi bật hẳn nét rất
tâm lý (như đã được đề cập ở phần thái độ giáo dục
của Thế Tôn), có thể được áp dụng rất là hữu hiệu
trong các nhóm tu tập của nam, nữ cư sĩ.
Ngoài pháp "Lục hòa" đem lại sự
tương ái, tương kính, hòa hợp, nhất trí trong Tăng chúng,
Thế Tôn còn chế ra bảy pháp (hay bảy điều luật) khác để
dập tắt các cuộc tranh luận, mỗi khi có cuộc tranh luận
xảy ra. Bảy điều luật ấy là: luật về sự hiện diện
gọi là "Hiện tiền tì-ni", luật về ức niệm gọi là "c
niệm tì-ni"; luật về không si mê gọi là "Bất si tì-ni";
luật về sự thú nhận gọi là "Tự ngôn trị"; luật về
đa số gọi là "Ða nhơn mích tội"; luật về tìm tội tướng
gọi là "Tội xứ sở"; và luật về sự trải cỏ ra gọi
là"Như thảo phú địa" (Tăng Chi III-A, tr. 140; Kinh Xá-di Thôn,
Trung Bộ III).
Về luật Hiện tiền (Sammukhavinaya),
khi xảy ra một tranh chấp nào thì đòi hỏi sự có mặt cả
nguyên cáo lẫn bị cáo, mà không được phép xử vắng mặt.
Nếu dẫn chứng Kinh hay Luật thì cần đem cuốn Kinh hay Luật
cần dẫn chứng ấy trước chúng Tăng. Ðây gọi là "Hiện
tiền tì-ni".
Về luật c niệm (Sativinaya), trường
hợp một người bị các người khác cho là phạm giới, nhưng
đương sự không nhớ rõ mình có vi phạm hay không, bấy giờ
sinh ra tranh cãi. Trong trường hợp này, chúng Tăng nên làm
pháp bạch tứ Yết-ma (một lần tuyên bố và ba lần hỏi
lại) để cho đương sự nhớ kỹ lại có vi phạm hay không.
Nếu đương sự nhớ ra có vi phạm thì sám hối theo luật
định; nếu không thì cho thông qua. Sau khi cho thông qua rồi
thì không một vị Tỳ-kheo nào được gợi lại sự việc
ấy nữa. Nếu vị nào gợi lại chuyện mà Tăng chúng đã
cho thông qua thì sẽ phạm Ba-dật-đề.
Về luật Bất si tì-ni (Amulhavinaya),
trường hợp có một Tỳ-kheo bị cuồng tâm phạm nhiều điều
lỗi do mất ý thức, khi lành bệnh, tỉnh táo thì một số
Tỷ-kheo khác trong Tăng chúng không chấp nhận cho cùng sinh
hoạt bình thường trong Tăng chúng. Trường hợp này có sự
tranh cãi xãy ra, Tăng cần có Yết-ma về Bất si (Bạch tứ
Yết-ma) xác nhận vị Tỷ-kheo bị bệnh kia đã lành bệnh
hẳn, không còn cuồng loạn, để được chấp nhận vào Tăng
chúng. Từ sau lần Yết-ma này, nếu vị Tăng kia phạm lỗi
thì mới bị xử lý theo luật định.
Về luật Tự ngôn trị (Patinnatakaranam),
nếu có một Tỷ-kheo phạm lỗi mà chưa chịu thú nhận, thì
nên tìm cách khuyên nhủ, phân tích thế nào để Tỷ-kheo ấy
tự mình nhận lỗi, sám hối mà Tăng chúng không được dùng
bất cứ một áp lực nào khác.
Về luật Ða nhơn mích tội (Yebhuyyasika),
trường hợp một vị Tỷ-kheo phạm tội mà không chịu nhận
tội, cứ lý luận, trình bày các vấn đề "vòng vo tam quốc"
giữa Tăng chúng gây nên phản ứng tranh cãi, vị thì cho là
phạm, vị thì cho là không phạm. Trường hợp này phải dùng
biểu quyết bỏ thăm kín hoặc biểu quyết công khai để kết
luận theo đa số tương đối.
Về luật Tội xứ sở (Tassapapiyasikà),
trường hợp vị Tỷ-kheo phạm tội mà không chịu nhận tội,
cứ nói vòng vo khiến khởi lên cuộc tranh luận về phạm,
không phạm, nặng, nhẹ v.v... Trường hợp này thì chư Tăng
phải làm pháp Yết-ma; nếu vị ấy thấy phạm thì sám hối,
nếu vị ấy không thấy phạm thì Tăng chúng cần hoan hỷ
cho thông qua.
Như nếu vị Tỷ-kheo bị phạm tội
nặng mà nói dối là chỉ phạm tội nhẹ, khi làm pháp Yết-ma
(Bạch tứ Yết-ma) xác định rõ ràng tội nặng thì vị Tỷ-kheo
phạm tội ấy trọn đời phải chịu ràng buộc tám điều:
không được độ người xuất gia, không được truyền Cụ
túc giới, không được cho Sa-di y chỉ, không được giáo giới
Tỷ-kheo-ni, không được nhờ các Tỷ-kheo khác giúp việc,
không được làm sứ giả cho Tăng chúng, không được thuyết
pháp và Luật cho Tỷ-kheo, và không được theo thứ tự thọ
thỉnh. Cho đến khi nào vị ấy tự mình thú tội thì chư
Tăng sẽ làm pháp giải tội cho vị Tỷ-kheo ấy thoát khỏi
tám điều ràng buộc trên.
Về luật Như thảo phủ địa (Tinnavatthàraka),
có nghĩa là như cỏ che khuất đất. Trường hợp Tăng chúng
chia rẽ thành hai nhóm hay nhiều nhóm chỉ trích lời của nhau
và bênh vực nhóm của mình. Cuộc tranh cãi trở thành loạn
đả, không thể đi đến một kết luận nào. Trong trường
hợp này tất cả được xem ai cũng có lỗi, tất cả đều
làm lẽ sám hối để đem lại hòa khí cho Tăng chúng, không
còn chỉ trích hay tranh cãi nữa. Như thế là giống với hình
ảnh trải cỏ ra để phủ kín các đất dơ. Pháp này gọi
là "Như thảo phủ địa".
Các trường hợp tranh cãi của Tăng
chúng đều rơi vào trong bảy trường hợp kể trên và đã
có sẵn bảy biện pháp như vừa trình bày để chấm dứt
các cuộc tranh cãi ấy. Chưa chấm dứt các cuộc tranh cãi
là chưa dập tắt các mầm mống đưa đến chia rẽ, rạn nứt,
đổ vỡ của hàng ngũ chư Tăng. Chấm dứt sớm các mầm mống
đưa đến suy sụp, đổ vỡ trong Tăng chúng là củng cố xây
dựng một Tăng chúng hưng thịnh để duy trì diệu pháp đem
lại nhiều an lạc, hạnh phúc cho chư Thiên và loài Người.
Pháp Yết-ma
(Kamma hay Karma):
Yết-ma là từ dịch âm chữ Karma
(Sanskrit) hay Kamma (Pàli), có nghĩa là làm, công việc làm. Ðây
là phương pháp tuyên cáo trong khi tiến hành các việc thọ
giới, tranh luận... của chư Tăng. Danh từ Yết-ma nói đủ
là Tăng-già Yết-ma (Sangha-kammam hay Sanghakarmam). Việc thực
hiện Yết-ma chỉ xảy ra trong một nhóm chư Tăng có ít nhất
là bốn vị thì pháp Yết-ma mới thành nghĩa. Số lượng chư
Tăng đòi hỏi tối thiểu cho công việc Bồ-tát là bốn vị,
cho công việc hành Tự tứ là năm vị, cho việc truyền thọ
Cụ túc giới là mười vị, và cho việc hành xử tội Tăng-già-bà-thi-sa
(Tăng tàn) là hai mươi vị. Số lượng và hình thức này đã
có từ thời Thế Tôn tại thế mà chúng ta có thể đọc thấy
trong các kinh của A-hàm và Nikàya. Nếu số lượng chư Tăng
nhiều hơn số lượng tối thiểu được ấn định ở trên
thì cũng được chấp nhận, pháp Yết-ma được thành nghĩa.
Khi pháp Yết-ma đã được làm xong,
có nghĩa là Tăng chúng đã hoàn toàn (100%) nhất trí quyết
định vấn đề đã được đưa ra thì tuyệt đối không một
vị Tỷ-kheo nào được phép phủ nhận hay phản đối. Nếu
vị nào còn bàn tán vào, ra về kết quả của pháp Yết-ma
trên thì sẽ bị xử tội theo luật định.
Pháp Yết-ma chỉ thực hiện riêng
biệt giữa Tăng, Ni: không được làm tập hợp Tăng và Ni.
Bên cạnh các pháp Yết-ma đúng
nghĩa trên, chư Tăng trong một số trường hợp đặc biệt
chỉ có từ một tới ba người thì vẫn làm Yết-ma mang tính
chất hình thức của Yết-ma. Như trường hợp một người
tự mình nói và làm theo thể thức Yết-ma, nhưng không có
người thứ hai đến nghe để làm chứng, trường hợp này
gọi là tâm niệm Yết-ma (tâm niệm Bố-tát và tâm niệm Tự
tứ).
Trường hợp việc làm trên xảy
ra giữa sự có mặt của hai hay ba Tỷ-kheo thì gọi là đối
thủ Yết-ma.
Pháp Yết-ma đúng nghĩa có ba loại:
đơn bạch, bạch nhị và bạch tứ.
Ðối với những công việc xảy
ra có tính thường xuyên không mang một tầm ý nghĩa đặc
biệt quan trọng, thì chỉ tuyên cáo cho chư Tăng biết một
lượt, không cần gạn hỏi; đây gọi là đơn bạch Yết-ma.
Với công việc có tầm mức khá quan trọng thì sau khi tuyên
cáo vấn đề giữa chúng Tăng cần phải hỏi lại một lần
nữa để tránh sự bất đồng ý kiến về sau, đây gọi là
bạch nhị Yết-ma. Với công việc có tầm quan trọng đặc
biệt, thì sau khi tuyên cáo, cần gạn hỏi lại ba lần nữa.
Sau khi toàn thể Tăng chúng có mặt đáp "thành" (hay chấp thuận)
thì pháp Yết-ma mới thành. Ðây gọi là bạch tứ Yết-ma.
Về tầm mức quan trọng của các
Tăng sự để thực hiện đơn bạch, bạch nhị hay bạch tứ,
có một số đối tượng để làm Yết-ma đã được quy định
làm điển hình. Về đơn bạch có bốn mươi bốn việc; về
bạch nhị có bảy mươi tám việc; về bạch tứ có ba mươi
chín việc (theo Yết-ma Chỉ Nam). Tuy nhiên, tùy theo điều kiện
xã hội, văn hóa và đoàn thể chư Tăng đang sinh hoạt mà
tầm mức quan trọng của các pháp Yết-ma vừa kể có thể
được định giả lại, và một số sự việc chưa được
liệt kê, có thể thêm vào, nếu chư Tăng xét thấy cần. Chính
sự việc xét về sự thay đổi giá trị của các tâm mức
quan trọng này, bản thân nó cũng cần được làm pháp Yết-ma
để quyết định.
Nguyên tắc của việc tiến hành
Yết-ma khác nhau ở các đối tượng Yết-ma khác nhau, như
Yết-ma của Bố-tát khác với Yết-ma của truyền thọ Cụ
túc giới, v.v... (Ở đây không đi sâu vào chi tiết).
Nghĩa là thành tựu của mỗi pháp
Yết-ma đòi hỏi đủ bốn nhân tố: nhân tố người, nhân
tố Tăng chúng, nhân tố giới trường, và sau hết là nhân
tố tiến trình Yết-ma.
Về nhân tố người, ví dụ về
Bố-tát thì đòi hỏi số lượng Tỷ-kheo ít nhất là năm
vị Tỷ-kheo. Có mặt đủ ít nhất là năm vị thì gọi là
nhân tố Tăng thành tựu.
Về nhân tố giới trường, là tiểu
giới trường hay đại giới trường đã được làm pháp Yết-ma
để ấn định đúng pháp. Khi pháp Yết-ma được tiến hành
đúng vị trí giới trường ấn định thì gọi là nhân tố
giới trường thành tựu.
Về nhân tố tiến trình Yết-ma,
khi các thủ tục, các giai đoạn Yết-ma được tiến hành
đúng thì gọi là nhân tố tiến trình Yết-ma thành tựu.
Nếu một pháp Yết-ma được tiến
hành, được thể hiện không đúng loại của nó (đơn bạch,
bạch nhị hay bạch tứ) và không đúng tiến trình của nó
thì được gọi là Yết-ma không thành tựu. Trường hợp này
còn được gọi là phi pháp.
Nếu một pháp Yết-ma được tiến
hành không đủ túc số nhân sự thì gọi là phi tỳ-ni.
Trên đây chỉ là một số nét chính
về pháp Yết-ma. Các phần chi tiết khác cần được tham khảo
ở sách Yết-ma Chỉ Nam./.
-oOo-