Chương
Ba - Tăng Bảo
Tiết I
Ðời sống của
chư tăng
Tăng hay Tăng-Già
là dịch âm từ chữ Sangha (của Pàli, Sanskrit), có nghĩa là
một nhóm người, một hội chúng sinh hoạt trong cùng một
mục đích, một quy luật chung. Về sau, khi đoàn thể đệ
tử của Thế Tôn ra đời, danh từ Tăng-già thường dùng để
chỉ hội chúng xuất gia của Thế Tôn, gồm Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni,
Thức-xoa-ma-na, Sa-di, và Sa-di-ni -- có khi chỉ gọi bốn chúng
xuất gia: Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Sa-di và Sa-di-ni. Do đó, Tăng
hay Tăng già còn được gọi là Tăng Bảo, ngôi báu thứ ba
trong ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng.
Chỉ có Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni là
thọ Cụ túc giới, đầy đủ giới của người xuất gia,
đúng danh xưng là Tăng-già, còn ba chúng xuất gia còn lại
thì ở vào giai đoạn sửa soạn, tu tập các phần căn bản
để thực sự trở thành thành viên của Tăng-già.
Ðược gọi là Tăng-già khi nào
một hội chúng tu sĩ Phật giáo có ít nhất là bốn vị. Dưới
bốn vị thì không thành nghĩa Tăng. Tùy theo hình thức nhóm
họp, sinh hoạt của chư Tăng, các nhóm tập hợp chư Tăng
có số lượng và tên gọi khác nhau. Chẳng hạn, hội chúng
Tỷ-kheo thì giữ hai trăm năm mươi giới cụ túc, hội chúng
Tỷ-kheo-ni giữ ba trăm năm giới cụ túc. Nhóm đi hoằng hóa
ở phương xa gọi là "Chiêu đề Tăng", nhóm ở lại một nơi
(Tăng xá, chùa) để học hỏi tu tập gọi là "Thường trụ
Tăng". Có những sinh hoạt chỉ cần có mặt bốn hay năm tu
sĩ, có những sinh hoạt giới hạn trong sự có mặt của mười
tu sĩ, cũng có những sinh hoạt giới hạn trong sự có mặt
của hai mươi tu sĩ hay nhiều hơn. Chúng ta sẽ đi vào từng
sinh hoạt cụ thể của các nhóm Tăng-già này trong các phần
trình bày tiếp theo.
Quá Trình Thành
Lập Giáo Hội Tăng Già Dưới Sự Lãnh Ðạo Của Thế Tôn
Ngay sau ngày thành Ðạo ở Ưu-lâu-tần-loa
(Uruvelà), Thế Tôn đi đến vườn Lộc Uyển (Migadàya), chỗ
"Chư Thiên đọa xứ" (Isipatana), tại Ba-la-nại (Bàranàsi),
thuyết pháp độ năm pháp hữu cùng tu, nhóm của Tôn giả
Kiều-trần-như (Kondanna). Sau thời pháp đầu tiên giảng về
Tứ Thánh đế, Thế Tôn chấp nhận cho năm Tôn giả ấy xuất
gia. Bấy giờ chỉ có Tôn giả Kiều-trần-như đắc quả Tu-đà-hoàn,
bốn vị còn lại cảm thấy hân hoan trong Pháp nhưng chưa đắc
pháp nhãn thanh tịnh vô trần ly cấu.
Tại vườn Lộc Uyển, ngay sau thời
chuyển Pháp luân này, giáo hội Tăng-già đầu tiên ra đời
gồm có Thế Tôn và năm vị đệ tử. Ngôi Tam Bảo cũng được
hình thành từ đây: Thế Tôn và Phật Bảo; Tứ Thánh đế
và Pháp Bảo và năm vị đệ tử đầu tiên ấy là Tăng Bảo.
Thế Tôn tiếp tục thuyết giảng
vô ngã qua sự phân tích Năm uẩn, bốn ngày tiếp theo ngày
Sơ Chuyển Pháp luân thì năm anh em cùng tu của Tôn giả Kiều-trần-như
đều đắc A-la-hán quả. Thế là, Giáo hội Tăng già đầu
tiên gồm có sáu vị A-la-hán đầu tiên, mà Thế Tôn là bậc
lãnh đạo.
Ở Ba-la-nại, Thế Tôn tiếp tục
thuyết pháp độ Tôn giả Da-xá (Yasa) cùng bốn người của
Tôn giả này là Vimala (Tỳ-ma-la - Vô cấu), Subàhu (Tu-bà-hầu),
Punnaji (Phu-lan-na-ca) và Gavampati (Già-bà-đạt-đế); tất cả
đều đắc A-la-hán quả. Ðến đây, tại Ba-la-nại, đoàn
thể Tăng-già gồm tất cả mười một vị A-la-hán (gồm Thế
Tôn).
Trước khi tiếp tục lên đường
trở lại Ưu-lâu-tần-loa để độ vua Tần-bà-sa-la (Bimbissàra),
theo lời hứa với nhà vua lúc Thế Tôn đang trên đường tầm
đạo, Thế Tôn dạy mười vị A-la-hán kia đi về mười phương
hướng khác nhau, không được hai người cùng đi về một
hướng, để hoằng hóa. Tại đây, ý nghĩa nhóm "Chiêu đề
Tăng" xuất hiện đầu tiên.
Tại Ưu-lâu-tần-loa (Uravelà), Thế
Tôn độ Tôn giả Ca-diếp (Kassapa) và ngót một ngàn đệ tử
của Tôn giả; tất cả đều đắc A-la-hán quả. Cũng tại
đây, vua Tần-bà-sa-la (Bimbissàra) nghe Pháp và quy y với Thế
Tôn. Nhà vua dâng cúng Thế Tôn tịnh xá Trúc Lâm (Veluvana)
để Thế Tôn và một ngàn đệ tử chư Tăng an trú trong mùa
mưa. Nhà vua hộ trì bốn sự cúng dường (cơm nước, y phục,
sàng tọa và thuốc trị bệnh). Ðây là tịnh xá đầu tiên
của Giáo hội Tăng-già được thiết lập, và hội chúng chư
Tăng thường trú xuất hiện.
Bấy giờ là tháng Vesakhà của Ấn
Ðộ (nhằm giữa tháng 4 và tháng 5 Dương lịch), bắt đầu
mùa mưa, Thế Tôn quyết định an cư mùa mưa đầu tiên tại
tịnh xá Trúc Lâm này, mở đầu truyền thống an cư về sau
(nay chúng ta gọi là kiết hạ).
Hai tháng sau mùa an cư đầu tiên,
Thế Tôn đến Vương xá (Ràjagaha) độ Tôn giả Xá-lợi-phất
(Sàriputta), Mục-kiền-liên (Moggallàna) và ngót hai trăm năm
mươi môn đệ của ngoại đạo sư Sanjaya; tất cả đều đắc
A-la-hán quả. Tại thành Vương Xá này, kể từ đây, luôn
luôn có một ngàn hai trăm năm mươi đệ tử A-la-hán theo sau
Thế Tôn trên đường hoằng hóa.
Tôn giả Xá-lợi-phất đắc Tu-đà-hoàn
quả khi nghe Tôn giả Thuyết Thị (có nơi dịch là Mã Thắng
- Assaji) nói tóm tắt về Duyên khởi, trước khi đến yết
kiến Thế Tôn. Tôn giả ở bên cạnh Thế Tôn nghe Pháp và
tu tập đến bốn tuần lễ sau mới đắc A-la-hán quả thuần
thục, đắc đại tuệ, thể nhập nhuần nhuyễn pháp giới
tánh. Về mặt tuệ giải thoát này, Tôn giả được Thế Tôn
tán thán và xác nhận ngang bằng với Thế Tôn; Tôn giả có
thể trả lời, phân tích rõ ràng tất cả các câu hỏi về
pháp giới. Thế Tôn đã tuyên bố trước Thánh chúng về sự
chứng đắc này và tuyên bố chọn Tôn giả Xá-lợi-phất
làm Trưởng tử, bậc Tướng quân của Chánh pháp.
Tôn giả Mục-kiền-liên đắc Tu-đà-hoàn
quả khi nghe Tôn giả Xá-lợi-phất giới thiệu phần tóm tắt
của Duyên khởi trước khi đến hầu Thế Tôn. Sau khi được
Thế Tôn tế độ, Tôn giả đến ngồi tu tại làng Kallavàlla
ở Ma-kiệt-đà (Màgadha). Tuần đầu ngồi Thiền, Tôn giả
bị rơi vào hôn trầm; Tôn giả tiếp tục nỗ lực Thiền
quán, tám ngày sau đó thì đắc Ðại A-la-hán, nhuần nhuyễn
lục thông, với thần túc thông là tối thắng. Thế là chỉ
mười lăm ngày tu tập, Tôn giả đã chứng đắc các quả
vị tối thượng. Ngày Tôn giả Xá-lợi-phất đắc quả tối
thượng thì Tôn giả Mục-kiền-liên trở về yết kiến Thế
Tôn trước hội chúng Tỷ-kheo và được Thế Tôn tán thán
về sự chứng đắc của Tôn giả với thần túc thông ngang
bằng Thế Tôn. Thế Tôn đã tuyên bố chọn Tôn giả Mục-kiền-liên
là đệ tử thứ nhì của Thế Tôn trước Thánh chúng.
Sau đó, một số vị trong Tăng chúng
bàn tán về quyết định trên của Thế Tôn và Tôn giả Xá-lợi-phất
và Mục-kiền-liên, thắc mắc: Tại sao Trưởng tử lại không
phải là một trong năm Tôn giả Kiều-trần-như? Tại sao không
phải là Da-xá (Yasa)? Hay là bốn người bạn của Tôn giả
Da-xá? Hay không phải Tôn giả Ca-diếp? Tại sao Tôn giả Mục-kiền-liên
đắc A-la-hán quả trước Tôn giả Xá-lợi-phất lại làm
đệ tử thứ hai? v.v... Thế Tôn bèn họp Tăng chúng và giải
thích lý do. Thế Tôn dạy rằng, hai Tôn giả Xá-lợi-phất
và Mục-kiền-liên đã chứng đắc cao nhất và có nguyện
vọng làm Trưởng tử Thế Tôn từ nhiều đời trước. Thế
Tôn đã chọn lựa thể theo sự chứng đắc và nguyện vọng
của hai Tôn giả ấy. Còn Tôn giả Kiều-trần-như trước
đây chỉ có nguyện vọng trở thành đệ tử đầu tiên của
Thế Tôn và đắc A-la-hán quả đầu tiên; nay nguyện vọng
đó của Tôn giả đã thành tựu (Theo lời chú giải trong Etavagga,
phần chú giải của Tăng Chi Bộ Kinh - Anguttara Nikàya).
Về trường hợp giữa hai Tôn giả
Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên thì tuy không thấy rõ lời
giải thích trực tiếp trong các kinh, nhưng chúng ta cũng có
thể hiểu đây là nhân duyên (hay nguyện vọng tiền kiếp
của hai Tôn giả) -- theo Kinh Ðại Bổn, Trường Bộ Kinh III,
và cụ thể là do quả chứng giải thoát của Tôn giả Xá-lợi-phất
là nhuần nhuyễn nhất trong hàng Thánh đệ tử Vô học của
Thế Tôn mà không căn cứ vào tuổi đời, tuổi đạo hay sự
đắc quả trước, sau (như đã được đề cập ở chương
Phật Bảo). Như chúng ta cũng thấy trong các định nghĩa về
Trưởng lão, Sa-môn, Ba-la-môn trong các kinh và trong Pháp Cú,
cái gọi là Trưởng lão, Sa-môn và Bà-la-môn là ở chỗ chứng
đắc, giải thoát, chứ không phải ở tuổi tác. Chính trên
cơ sở giá trị này mà Thế Tôn chọn lựa hai vị đại đệ
tử.
Ðến mùa đông năm sau, Thế Tôn
cùng một ngàn hai trăn năm mươi vị đệ tử A-la-hán đi đến
Ma-kiệt-đà. Vua Tịnh Phạn đã ba lần thỉnh mời Thế Tôn
về thăm Hoàng cung (hai lần đầu, mỗi lần một phái đoàn
gồm một ngàn người, lần thứ hai do Tôn giả Ka-lưu-đà-di
đến thỉnh). Tất cả đều xuất gia và đắc A-la-hán quả
sau đó. Bấy giờ Tôn giả Ka-lưu-đà-di (Kàludàyi) mới trình
lên Thế Tôn lời thỉnh mời của đức vua Tịnh Phạn. Thế
Tôn nhận lời. Trong chuyến viếng thăm này, Thế Tôn độ
các Hoàng thân (như đã được trình bày ở chương I). Tôn
giả Ưu-ba-ly (Upàli), thợ hớt tóc của các Hoàng thân, được
độ trong dịp này và được Thế Tôn lưu ở bên cạnh Thế
Tôn. Thế Tôn thân hành dạy Luật tạng cho Tôn giả.
Năm năm sau ngày thành Ðạo, Thế
Tôn cho phép thành lập Ni chúng theo lời thỉnh cầu của Di
mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề, đồng thời Thế Tôn chế Bát kỉnh
pháp tức tám điều cung kính đối với chư Tăng mà chư Ni
phải tuân giữ. Từ đây, Ni chúng được thành lập.
Do sự phát triển Giáo hội Tăng-già
nhanh chóng và mạnh mẽ, Thế Tôn bắt đầu thiết lập nên
một số luật tắc kể từ năm thứ sáu. Cho đến năm thứ
mười ba, Luật tạng bắt đầu hình thành, do Tôn giả Ưu-ba-ni
đặc trách.
Các vị tân Tỷ-kheo hoặc được
Thế Tôn tế độ hoặc được các đệ tử A-la-hán của Thế
Tôn tế độ. Tất cả sinh hoạt thành nhiều nhóm ở nhiều
tịnh xá và khu rừng, làng mạc khác nhau, nhưng tất cả đều
giữ gìn chung một Giới bổn.
Các Tỷ-kheo-ni hoặc được Thế
Tôn tế độ, hoặc được các Trưởng lão Tăng tế độ,
hoặc được các Trưởng lão Ni tế độ, đều chịu sự hướng
dẫn lãnh đạo của các Trưởng lão Ni khác. Tất cả Ni chúng
tu tập chung một Giới bổn dành riêng cho Ni và ở trong các
trú xứ riêng.
Giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa
(Sk: Praktimoksa; Pàli: Patimokkha).
Về ý nghĩa, lý do thành lập Giới
bổn, nội dung tổng quát của Giới bổn, và tính chất về
nền tảng của Giới bổn đã được bàn đến ở tiết VIII
(Giới học). Ở đây cũng không trình bày chi tiết từng giới
điều mà chỉ lược qua một số nét chính.
Giới bổn của Tỷ-kheo, cho đến
nay, gồm có hai trăm năm mươi giới và chia thành bảy tụ:
Ba-la-di, Tăng-già-bà-thi-sa; Bất định; Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề;
Ba-la-đề-đề-xá-ni; Chúng học và Diệt tránh.
Về Ba-la-di, có bốn pháp;
dâm, trộm, sát sinh và nói dối. Phạm một trong bốn giới
này thì vị Tỷ-kheo đánh mất bản chất của người Tỷ-kheo,
không còn được chấp nhận ở trong hàng ngũ Tỷ-kheo.
Về Tăng-già-bà-thi-sa, có
mười ba pháp (không liệt kê ở đây). Phạm một trong mười
ba giới này, vị Tỷ-kheo có thể làm pháp sám hối, nhưng
phải biệt trú trong một thời gian, không được sinh hoạt
chung với chúng Tăng (thời gian biệt trú kéo dài bằng thời
gian từ khi phạm cho đến khi phát lồ). Sau thời gian biệt
trú thì được cư trú chung với chúng Tăng trong sáu ngày đêm,
tỏ ra ân hận việc mình đã phạm để chúng Tăng hoan hỷ.
Sau đó phải đảnh lễ thỉnh cầu cho đủ số hai mươi đại
Tăng (thanh tịnh) để làm lễ sám hối xuất tội.
Về pháp Bất định có hai.
Khi phạm hai pháp bất định này thì phải chờ chúng Tăng
xét xử chính xác là vị Tỷ-kheo ấy thực sự phạm tội
nào, với sự y theo lời xác nhận tội của một vị nữ cư
sĩ thành tín. Nếu là tội Tăng-già-bà-thi-sa thì xử trị
như trên, nếu là Ba-dật-đề thì sẽ xử lý theo như phần
dưới đây.
Về Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề,
có ba mươi pháp. Pháp này còn được gọi là xả đọa, có
nghĩa là nếu không xả các y bát, vật dụng thừa cho chúng
Tăng thì phạm. Sau khi phạm, phải xả xong mới sám hối. Nếu
không thực hành như thế thì có thể đọa địa ngục.
Về Ba-dật-đề, có chín mươi
pháp. Nếu phạm thì chỉ cần sám hối trước chúng Tăng.
Về pháp Chúng học,
có một trăm pháp. Ðây là những điều nặng về cung cách,
oai nghi của vị Tỷ-kheo. Chỉ là những khinh pháp.
Về Diệt tránh, có bảy pháp.
Ðây là bảy phương pháp để dập tắt các vụ tranh chấp
trong chúng Tăng.
Về giới bổn Tỷ-kheo-ni, có điểm
khác với Giới bổn của Tỷ-kheo. Chẳng hạn, Ba-la-di của
Tỷ-kheo chỉ có bốn, nhưng Tỷ-kheo-ni nhiều hơn, có đến
tám giới; Tăng-già-bà-thi-sa có đến mười bảy giới; về
hai loại Ba-dật-đề của Tỷ-kheo chỉ có một trăm hai mươi
giới, của Tỷ-kheo-ni có đến hai trăm lẻ tám giới; về
Ba-la-đề-đề-xá-ni của Tỷ-kheo chỉ có bốn giới, của
Tỷ-kheo-ni có đến tám giới; riêng về Ðột-kiết-la của
Tỷ-kheo có tất cả một trăm lẻ chín giới, thì Tỷ-kheo-ni
chỉ có một trăm lẻ bảy giới (bớt hai giới bất định).
Do đó Giới bổn của Tỷ-kheo-ni lên đến ba trăm năm mươi
giới.
Về giới bổn Tỷ-kheo, Tăng Chi
Bộ Kinh I, tr. 267 (bản dịch của Hòa thượng Minh Châu, 1980)
ghi rõ bản giới bổn của chư Tăng tụng đọc mỗi nửa tháng
một lần chỉ gồm có một trăm năm mươi học giới mà không
liệt kê danh sách các học giới ấy. Có lẽ không có một
trăm chúng học là những pháp được thêm về sau. Ví dụ,
điển hình pháp chúng học từ số sáu mươi đến tám mươi
lăm là đề cập liên hệ đến tháp Phật. Lúc Phật còn tại
thế thì chưa có tháp, vì thế chúng ta biết rằng các giới
ấy được thiết lập về sau.
Về Giới bổn Tỷ-kheo-ni, trường
hợp các pháp chúng học cũng tương tự. Dựa theo kinh tạng,
có thể xác định rằng ngay thời Thế Tôn tại thế, đã
thiết lập hai bản Giới bổn Tăng và Ni khác nhau. Trong đề
mục Ni giáo giới (Tăng Chi III-A, tr. 252-253; bản dịch của
Hòa thượng Thích Minh Châu, 1981), ghi rõ: "... Ðối với vị
giáo giới, hai Giới bổn Pàtimokkha được khéo trao truyền
lại một cách rộng rãi...".
Bên cạnh Giới bổn này, Tỷ-kheo-ni
còn lãnh thọ thêm "Bát kỉnh pháp", trọn đời cung kính,
tôn trọng, không được vượt qua. Nội dung của tám điều
cần tôn kính ấy là:
1. Dù cho thọ đại giới
một trăm năm, một Tỷ-kheo-ni đối với vị Tỷ-kheo thọ
giới trong một ngày, cũng phải đảnh lễ, đứng dậy, chắp
tay, xử sự đúng pháp.
2. Tỷ-kheo-ni không có thể an cư
tại chỗ không có Tỷ-kheo.
3. Nửa tháng một lần, Tỷ-kheo-ni
cần phải thỉnh chúng Tỷ-kheo đến để thuyết giới.
4. Sau khi an cư mùa mưa xong, Tỷ-kheo-ni
cần làm lễ "Tự tứ" trước hai Tăng chúng.
5. Tỷ-kheo-ni phạm trọng tội phải
làm pháp ý hỷ cho đến nửa tháng.
6. Sau thời gian hành các pháp Sa-di-ni
hai năm, phải xin thọ cụ túc giới trước hai Tăng chúng.
7. Không vì bất cứ lý do gì, Tỷ-kheo-ni
có thể chỉ trích một Tỷ-kheo.
8. Chỉ có sự giáo giới phê bình
giữa các Tỷ-kheo về các Tỷ-kheo-ni, mà không có sự giáo
giới phê bình giữa các Tỷ-kheo-ni về các Tỷ-kheo (Tăng Chi
III-A, tr. 250).
Thế Tôn đã giải thích lý do tại
sao Ngài ban hành "Bát kỉnh Pháp" này rằng:
"Này A-nan, ví như một người vì
nghĩ đến tương lai, xây dựng bờ đê cho một hồ nước
lớn để nước không thể chảy qua; cũng vậy này A-nan, vì
nghĩ đến tương lai, Ta mới ban hành "Bát kỉnh pháp"
này cho các Tỷ-kheo-ni cho đến trọn đời, không được vượt
qua" (Tăng Chi III-A, tr. 252).
Thế Tôn cũng đã nói cho Tôn giả
A-nan biết rằng nếu Tăng-già không có mặt Ni chúng thì Phạm
hạnh sẽ tồn tại lâu dài, diệu pháp sẽ tồn tại đến
một ngàn năm. Nhưng, nếu có Ni chúng thì Phạm hạnh sẽ không
được tồn tại lâu dài, nay diệu pháp sẽ tồn tại năm
trăm năm (Theo Tăng Chi III-A, tr. 251).
Giải thích về lý do diệu pháp
bị rút ngắn thời gian tồn tại, Thế Tôn đã ví một gia
đình có nhiều phụ nữ và ít đàn ông thì dễ bị đạo
tặc đánh trộm. Trường hợp Giáo hội Tăng-già xuất hiện
Ni chúng thì cũng như thế.
Vì các lý do đó mà Thế Tôn ban
hành "Bát kỉnh pháp", chứ không phải vì lý do phân biệt
nam, nữ, kỳ thị phái tính.
Nhưng về mặt trí tuệ và giải
thoát, thì Thế Tôn xác nhận trong Chánh pháp do Thế Tôn giảng
dạy, nữ giới xuất gia vẫn chứng đắc bốn quả vị Sa-môn
(từ Tu-đà-hoàn cho đến A-la-hán quả) như chư Tăng (Tăng
Chi III-A, tr. 249).
Tại đây, chúng ta hiểu được
ý nghĩa Thế Tôn thành lập Giới bổn không ngoài những lý
do đã được trình bày ở Tiết VIII. Căn bản nhất mà nói,
đấy là vì lòng từ bi thương tưởng cuộc đời, muốn cho
diệu pháp được tồn tại lâu dài.
Những điều kiện của một vị
Trì luật lý tưởng và Giáo giới lý tưởng.
Một vị Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni là
vị Trì luật lý tưởng nếu vị ấy có hội đủ các điều
kiện sau:
- "Biết vi phạm, biết không vi phạm;
biết phạm nhẹ, nặng; có giới luật, sống chế ngự với
sự chế ngự của Giới bổn; đầy đủ oai nghi chánh hạnh,
biết sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt; chấp nhận và học
tập trong các học pháp; có được dễ dàng tăng thượng pháp
và hiện tại lạc trú; do đoạn trừ lậu hoặc, tự mình
ngay trong hiện tại với thắng trí chứng đạt, chứng nhập
vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát". (Tăng Chi III-A, tr.
138).
- "... (tương tự như trên...; thêm
vào: cả hai Giới bổn được khéo truyền lại một cách rộng
rãi...)" (Sđd., tr. 138).
Một vị giáo giới đúng nghĩa là
vị Tỷ-kheo có các điều kiện sau:
"... Vị Tỷ-kheo có giới đức,
sống chế ngự với sự chế ngự của Giới bổn, đủ oai
nghi chánh hạnh... Nghe nhiều, hiểu nhiều..., nghĩa, lý, văn
cụ túc..., khéo thể nhập chánh kiến; thông rõ hai Giới bổn;
giọng nói dễ nghe; lời tao nhã; giải thích nghĩa, lý xác
minh, có khả năng thuyết giảng..., được phần lớn các Tỷ-kheo-ni
ái mộ... được hai mươi tuổi an cư hay hơn hai mươi tuổi
an cư." (Theo Tăng Chi III-A, tr. 253).
Một Chúng Tỷ-Kheo
Hưng Thịnh Và Một Chúng Tỷ-Kheo Thối Ðọa.
Một chúng Tỷ-kheo hưng thịnh khi
nào chúng Tỷ-kheo ấy thể hiện được bảy điều:
1. Chúng Tỷ-kheo thường
hay tụ họp, và tụ họp đông đảo.
2. Tụ họp trong niệm đoàn kết,
giải tán trong niệm đoàn kết và làm việc Tăng trong niệm
đoàn kết.
3. Không ban hành những luật lệ
không được ban hành, không hủy bỏ các luật lệ đã được
ban hành, sống đúng các học giới.
4. Chúng Tỷ-kheo tôn trọng, đảnh
lễ, cúng dường các vị Tỷ-kheo Thượng toạ.
5. Chúng Tỷ-kheo không bị chi phối
bởi các tham ái.
6. Chúng Tỷ-kheo thích sống chỗ
nhàn tịnh.
7. An trú chánh niệm khiến các bạn
đồng tu cảm mến. (Sđd., tr. 28).
Có thể có bảy điều khác để một
chúng Tỷ-kheo hưng thịnh:
1. Không ưa thích làm thế
sự, không hoan hỷ làm thế sự.
2. Không ưa thích phiếm luận.
3. Không ưa thích ngủ nghỉ.
4. Không ưa thích quần tụ.
5. Không có các dục vọng, không
bị chi phối bởi các dục.
6. Không kết bạn với các dục
vọng, không thân thích với các dục.
7. Không dừng lại nửa chừng giữa
quả vị thấp kém và những quả vị thù thắng. (Sđd., tr.
29-30)
Có thể có bảy điều khác để một
chúng Tỷ-kheo hưng thịnh:
1. Có tín tâm.
2. Có tàm.
3. Có quý.
4. Có nghe nhiều.
5. Có tinh tấn.
6. Có chánh niệm.
7. Có trí tuệ. (Sđd., tr. 30).
Có thể có bảy điều khác khiến
chúng Tỷ-kheo hưng thịnh:
1. Tu tập vô thường tưởng.
2. Tu tập vô ngã tưởng.
3. Tu tập bất tịnh tưởng.
4. Tu tập nguy hại tưởng.
5. Tu tập đoạn diệt tưởng.
6. Tu tập tan rã tưởng.
7. Tu tập diệt tưởng. (Sđd., tr.
31).
Một chúng Tỷ-kheo tu tập Thất giác
chi cũng sẽ đi đến hưng thịnh (Sđd., tr. 31).
Ngược lại các điều trên thì
chúng Tỷ-kheo đi đến suy tàn.
Có rất nhiều pháp Thế Tôn dạy,
nếu thực hành, chúng Tỷ-kheo sẽ cường thịnh. Hầu như
các pháp tu của Ba mươi bảy phẩm trợ đạo và Giới bổn
nếu được giữ gìn tu tập thì mỗi Tỷ-kheo sẽ rời xa các
bất thiện tâm, sẽ hoàn bị các thiện tâm và làm cho Tăng
chúng hưng thịnh. Pháp là một trong những chỗ y chỉ vững
chắc có tính truyền thống. Sau đây là những chỗ nương
tựa căn bản của chư vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni mà Thế Tôn
dạy:
"Lành thay, lành thay, này Sàriputta!
Này Sàriputta, Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng, sống nương tựa
Ðạo sư, có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện. Này Sàriputta,
Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng, sống nương tựa Pháp... Chúng
Tăng... học pháp... Ðịnh ... Không phóng dật... Này Sàriputta,
Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng, sống nương tựa, tiếp đón
thân tình, có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện". (Sđd.,
tr. 120).
Thành Phần
Chư Tăng Và Giáo Phẩm.
Giáo Pháp của Thế Tôn dành cho
những ai muốn tu. Ðiều này được lập lại nhiều lần trong
các kinh và nói lên rằng con người ở mọi giai cấp, trình
độ, tuổi tác, đều có thể xuất gia tu hành; không có một
sự phân biệt, kỳ thị nào xảy ra trong Giáo hội Tăng-già
dưới sự lãnh đạo của Thế Tôn.
Các Hoàng thân, vua chúa đều được
chấp nhận vào hàng ngũ Tăng-già như trường hợp bà Ma-ha-ba-xà-ba-đề,
vương phi Da-du-đà-la, các hoàng thân A-nan, A-nậu-lâu-đà,
Bạt-đề, Ðề-bà-đạt-đa... các cung nữ, các quan...; như
trường hợp hoàng hậu Khemà (vợ vua Tần-bà-sa-la). Tất cả
đều chứng quả vị A-la-hán.
Các thứ dân thì có rất nhiều,
điển hình là Tôn giả Ưu-ba-ly, vốn là thợ hớt tóc của
các Hoàng thân, đã đắc A-la-hán quả và đã chủ trì Luật
tạng của Giáo hội; Tôn ni Pàtacarà (người không khố) điên
cuồng vì đau khổ, sau khi đến với Thế Tôn và Tăng chúng,
đã đắc A-la-hán quả, trở thành một vị thuyết pháp giỏi
có tác dụng lớn, độ được hơn năm trăm tôn Ni khác đắc
A-la-hán.
Các kỹ nữ như Vimalà và Ambapalì
(xem Trưởng Lão Ni Kệ) đều được Thế Tôn cho xuất gia
và đều chứng đắc quả vị tối thượng.
Kẻ đã một thời làm tướng cướp
như trường hợp Tôn giả Angulimalà (Vô Não) - hay người đeo
vòng hoa kết bằng các ngón tay - cũng được Thế Tôn tế
độ và đã trở thành một A-la-hán không bao lâu sau.
Già như Subbadha, một tu sĩ ngoại
đạo, cũng được Thế Tôn tế độ sau cùng trước ngày Ngài
thị tịch. Nhiều ngoại đạo sư khác đã được Thế Tôn
chấp nhận cho xuất gia ngay từ sau ngày ngài thành Ðạo.
Riêng về hàng ngoại đạo, thông
lệ trước khi chính thức xuất gia phải trải qua một thời
gian bốn tháng sống biệt chúng. Tuy nhiên, Thế Tôn linh động
giải quyết theo từng trường hợp có thể cho nhập đạo
liền tại chỗ. Tất cả đều chứng đắc Vô lậu quả.
Các vị có gia đình rồi vẫn được
chấp nhận cho xuất gia, như trường hợp ông Visakha, bà Dhammadinna
và nhiều trường hợp khác nói lên ở Trưởng Lão Tăng Kệ
và Trưởng Lão Ni Kệ. Tôn giả ấy đều chứng đắc A-la-hán.
Các trẻ em cũng được cho vào hàng
ngũ Tăng-già, như trường hợp thị giả của Tôn giả Anurudha,
thị giả của Tôn giả Xá-lợi-phất, v.v... thường thì ít
tuổi, họ là những Sa-di tập sự; nhưng không hẳn thế, nếu
các Sa-di chứng đắc A-la-hán, Thế Tôn đặc miễn tuổi cho
thọ Cụ túc giới liền, như trường hợp thị giả của Tôn
giả Xá-lợi-phất.
Tập thể Tăng-già là một tập
thể mở rộng, được thành lập và sinh hoạt trên căn bản
tinh thần bình đẳng, dân chủ và không kỳ thị màu da, giai
cấp hay phái tính. Ðây là tập thể cấp tiến nhất và ra
đời sớm nhất trong lịch sử nhân loại.
Tại hàng ngũ Tăng-già, tất cả
được đối xử bình đẳng về mọi mặt; giới luật, học
pháp, tu tập giải thoát và các quyền lợi vật chất (ăn,
mặc, ở và thuốc men).
Về sự phân biệt thứ tự, có
tính cách biểu hiện sự hiểu biết và tôn kính thì có hai
điểm:
- Ðiểm thứ nhất, căn cứ
vào tuổi an cư kiết hạ để phân biệt chỗ ngồi trước
sau, khi nghe đọc Giới bổn.
- Ðiểm thứ hai, căn cứ vào quả
vị chứng đắc. Ðiểm phân biệt này mới là yếu tố quyết
định chỗ ngồi sai biệt giữa Tăng chúng. Ðáng tôn kính
là những ai đã chứng đắc sâu xa các quả vị giải thoát,
dù còn trẻ tuổi.
Chỉ có hai danh xưng để phân biệt
giữa các vị Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni trong Tăng chúng: danh xưng
"Tôn giả" (Bhante) dành cho các bậc Trưởng lão
đã chứng đắc giải thoát; khi một vị Tỷ-kheo ít tuổi
đạo thưa chuyện với một Tỷ-kheo lâu năm (thường thì đều
có chứng đắc) thì luôn luôn bạch "Thưa Tôn giả". Ngược
lại, vị Tỷ-kheo trưởng lão gọi Tỷ-kheo nhỏ tuổi bằng
"Thưa Hiền giả". Các Tỷ-kheo đồng hàng nhỏ
tuổi thì gọi nhau bằng "Hiền giả"; các vị Trưởng
lão chỉ xưng hô với nhau bằng từ "Tôn giả".
Ngoài sự phân biệt căn bản trên, chư Tăng, Ni thường gọi
là vị Ðại Trưởng lão đáng tôn kính nhất trong Giáo hội
bằng "Ðại Trưởng lão" hay "Ðại Tôn giả"
(Thera: Trưởng lão, Mahàthera: Ðại Trưởng lão).
Từ xưng hô "Hiền giả" có thể
được xem tương đương từ "Ðại đức" ngày nay; từ "Tôn
giả" thì tương đương với "Thượng tọa"; từ "Ðại Trưởng
lão" thì tương đương với "Hòa thượng".
Hình thức tổ chức và xưng hô
như thế của Tăng-già, đã nói lên một cái nhìn giá trị
đặc biệt, nổi bật nét rất là nhân bản và rất là trí
tuệ.
Nếp sống của
chư Tăng.
Gọi là Tỷ-kheo đối với những
vị nào xuất gia có tuổi đời từ hai mươi tuổi trở lên
và được thọ Cụ túc giới (Ni thì phải có hai mươi hai
tuổi đời), các vị dưới hai mươi tuổi thì phải hành đạo
trong một thời gian cho đến tuổi hai mươi. Trong thời gian
này, các vị này chỉ thọ Sa-di giới (cho Tăng) và Sa-di-ni,
Thức-xoa-ma-na giới (cho Ni). Các vị Sa-di thường y chỉ, nương
tựa vào các bậc Trưởng lão hay Thượng tọa, hoặc làm thị
giả riêng cho quý vị Trưởng lão, Thượng tọa, và chịu
trực tiếp sự hướng dẫn, giáo dục của quý vị này. Trong
trường hợp chứng đắc A-la-hán quả, dù chỉ dưới mười
tuổi, các Sa-di được Thế Tôn cho thọ Cụ túc giới và tuyên
bố giữa Tăng chúng để chư Tăng biết mà cung kính đối
xử.
Các vị Tỷ-kheo mới thọ giới
Cụ túc hay mới nhập đạo, thường chịu sự hướng dẫn,
giáo dục trực tiếp của hai Tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên,
đặc biệt là Tôn giả Xá-lợi-phất. Thế Tôn dạy Tôn giả
Xá-lợi-phất hướng dẫn chư Tăng cho đến quả vị Tu-đà-hoàn,
và Tôn giả Mục-kiền-liên hướng dẫn từ quả vị Tu-đà-hoàn
cho đến A-la-hán.
Tất cả chư Tăng trong đoàn thể
Giáo hội sinh hoạt giữ cùng chung một Giới bổn, mỗi nửa
tháng đọc tụng một lần vào ngày 15 và 30 Âm lịch (theo
lịch Tàu). Trong những năm đầu, Thế Tôn thân hành tụng
Giới bổn cho đến khi trong Chúng có người phạm trọng giới.
Ðây là truyền thống của chư Thế Tôn. Từ khi có Tỷ-kheo
phạm trọng giới, Thế Tôn giao lại việc tụng đọc Giới
bổn cho Tôn giả Ưu-ba-ly. Tôn giả Ưu-ba-ly thường phụ trách
việc tụng đọc Giới bổn từ đó cho đến mãi về sau. (Xem
Tăng Chi III-A, tr. 135).
Hằng năm, chư Tăng, Ni an cư vào
mùa mưa. Tất cả trở về sống chung trong các tịnh xá lớn
và các trú xứ nhỏ hơn. Trong thời gian này, chư Tăng không
đi khất thực, đã có thiện nam, tín nữ, đến tại trú xứ
"để bát" và lo tứ sự cúng dường. Cứ đến
ngày Bồ-tát (Uposatha), tụng đọc Giới bổn, thì tất cả
đều quy tụ về quanh Thế Tôn. Chư Ni thì có đại diện đến
xin lãnh giới ở chư Tăng và trở về trú xứ riêng của Ni
để tụng đọc Giới bổn Ni.
Vào ngày Tự tứ, ngày kết thúc
của mỗi mùa an cư, Thế Tôn và chư Tăng làm lễ Tự tứ.
Lễ này được cử hành rất trang nghiêm, nhưng rất đơn giản,
được tổ chức ngay giữa trời, hay trong một khu rừng.
Trong ba tháng an cư mùa mưa, chư
Tăng chuyên học hỏi Phật pháp và hành trì Thiền định dưới
sự hướng dẫn của Thế Tôn và chư vị Trưởng lão.
Ngoài ba tháng an cư, chư Tăng đi
vào một sinh hoạt mới, được mở rộng. Chư Tăng được
tung ra khắp các phương hướng, đi đến các trú xứ khác
nhau, trong các quốc độ, vừa khất thực để độ nhật,
vừa thuyết pháp độ sinh, và vừa nỗ lực tinh cần tiếp
tục hành Thiền để đoạn trừ các lậu hoặc.
Thông thường, chư Tăng ở các trú
xứ chung quanh Thế Tôn thì có một số sinh hoạt nhất định
trong mỗi ngày. Sáng thì đi khất thực khắp các nẻo đường,
thứ tự từng nhà, không phân biệt; khất thực xong, các vị
trở về trú xứ riêng hay đến dưới gốc cây trong các khu
rừng để độ ngọ (ăn trưa). Sau bữa ăn, các vị rửa bát,
xếp gọn các y, ngơi nghỉ trong chốc lát, liền lại đến
một gốc cây hay căn nhà trống, ngồi kiết-già lưng thẳng,
để niệm trước mặt và hành Tứ niệm xứ hay niệm hơi
thở vào, hơi thở ra.
Vào xế chiều (sau khi chỉ tịnh,
chư Tăng hoàn toàn không ngủ trưa), Thế Tôn hay Tôn giả Xá-lợi-phất
thuyết pháp. Thỉnh thoảng có các thời pháp do các Tôn giả
khác phụ trách. Thời gian có thể kéo dài. Sau thời pháp,
chư Tăng nghỉ ngơi bằng cách đi bách bộ, luôn luôn giữ
mình trong phương châm "Nói năng như Chánh pháp và im lặng
như Chánh pháp". Ðiều này có nghĩa là hoặc bàn luận Phật
pháp (nói năng), hoặc ngồi Thiền định (im lặng).
Suốt năm canh của một đêm, chư
Tăng ngồi Thiền và đi bách bộ vào canh một; ngủ nghỉ canh
hai; ngồi Thiền và bách bộ vào canh ba; ngủ nghỉ canh tư;
và lại ngồi Thiền và bách bộ ở canh năm. Chư Tỷ-kheo luôn
luôn giữ mình trong nếp sinh hoạt đều đặn. Mọi việc tương
hệ, sinh hoạt nhỏ khác thì căn cứ vào Giới bổn để xử
lý.
Phần y phục, chỗ nghỉ (sàng tọa)
và thuốc men thì đã có cư sĩ Cấp Cô Ðộc, nữ cư sĩ Lộc
Mẫu (Visakhà) cùng với các thiện nam, tín nữ khác lo.
Thường ngày, vẫn thường có các
thí chủ, trai chủ đến cung thỉnh Thế Tôn và chư Tăng đi
thọ trai. Chư Tỷ-kheo được phép thọ biệt thỉnh, nghĩa
là được mời dùng cơm riêng ở các tư gia. Sau mỗi bữa
cơm trưa cúng dường, Thế Tôn hay một đại Tôn giả thường
ban một thời pháp ngắn như là một thời kinh tùy hỷ và
chúc lành.
Thế Tôn cũng đi khất thực và
cũng thọ trai theo thể thức biệt thỉnh, tùy theo nguyện vọng
của các thí chủ, trai chủ.
Việc nhận lời thọ trai không phân
biệt sang hèn, có uy quyền hay không của các trai chủ: trai
chủ nào thỉnh trước thì được Thế Tôn nhận lời trước,
như trường hợp một kỹ nữ, cô gái vườn xoài, thỉnh được
Thế Tôn và Tăng chúng, trong khi các hoàng tử đến muộn hơn
nên không được Thế Tôn nhận lời thọ trai trong cùng ngày.
Sau lời tác bạch cầu thỉnh thọ trai của trai chủ, Thế
Tôn thường yên lặng nhận lời, nếu chưa có người thỉnh
trước. Ðây là thái độ có tính truyền thống của chư Thế
Tôn: yên lặng là tỏ sự đồng ý.
Trong chín tháng sau mùa mưa, chư
Tăng được phép độc cư Thiền định trong các khu rừng.
Việc nói Pháp của chư Tôn giả
hoàn toàn thuần túy giáo lý giải thoát, và được trình bày
một cách rất xác thực, cụ thể, minh bạch và đúng pháp.
Chư Tăng không được phép biểu dương các Thần túc thông
(các phép mầu), Thiên nhĩ thông hay Tha tâm thông. Chư Tăng
vận dụng thân giáo và khẩu giáo. Phần ý giáo chính là công
việc giảng dạy và học tập thường kỳ của chư Tăng và
cư sĩ. Thế Tôn luôn luôn nhấn mạnh đến Giáo hóa thần
thông. Ngài nhàm chán và ghê tởm các pháp thuật, thần thông.
Chuyện kể, một lần ngoại đạo
sư biểu diễn thần thông đi lướt nổi trên mặt sông Hằng,
từ bờ này qua bờ kia, và thách thức Thế Tôn làm như vậy.
Thế Tôn ôn tồn hỏi ngoại đạo sư do tu tập bao lâu mà
được kết quả thần thông ấy. Ngoại đạo sư ấy đáp
là ba mươi năm. Thế Tôn mỉm cười nói: "Ta chỉ cần có
ba xu là qua được bên kia sông Hằng" (nghĩa là đi đò).
Câu chuyện nói lên rõ thái độ
sống rất thực, rất tự nhiên và rất người của Thế Tôn,
vừa nó rõ thái độ coi nhẹ các thần thông của Thế Tôn.
Thế Tôn xây dựng việc tu tập
và việc nói Pháp của chư Tăng trên căn bản Giới bổn, Thiền
định và Trí tuệ, tuyệt đối không đi ra ngoài các sinh hoạt
đó. Về các nghi thức tế lễ, Thế Tôn dạy giới đàn tế
lễ tốt là cúng hoa trái; tốt hơn nữa là bố thí; tốt hơn
nữa là trì giới; tốt hơn nữa là hành Thiền định; và
tốt hơn nữa là hành Trí tuệ để đoạn trừ các lậu hoặc.
Thế Tôn hoàn toàn không khích lệ chư Tăng sống dựa vào
mong cầu, cầu nguyện hay vọng ngoại mà chỉ có chú tâm tỉnh
giác, chánh niệm tu tập. Mỗi lần, Thế Tôn hỏi một số
Tỷ-kheo đang theo Thế Tôn đi dọc bờ sông Hằng rằng: "Nếu
có một đám dầu nổi trên mặt nước, và có các lễ sư
thông thạo trong việc cúng lễ cầu nguyện ngồi ở trên bờ,
các lễ sư cầu nguyện cho đám dầu chìm xuống, có được
không?" - "Bạch Thế Tôn, không", chư Tăng đáp. "Nếu có một
viên đá chìm xuống lòng sông, các lễ sư ấy cầu nguyện
cho viên đá nổi lên được không?" - "Bạch Thế Tôn, không",
chư Tăng đáp. Thế Tôn dạy: "Ðúng vậy", và tiếp tục cuộc
hành trình.
Câu chuyện này nói lên rõ ràng
không phải là việc tế lễ đoạn trừ các nghiệp, các lậu
hoặc; mà là việc tu tập để đoạn trừ các nghiệp, các
lậu hoặc.
Trên mọi nẻo đường khất thực
và hoằng hóa, Thế Tôn và chư Tăng luôn luôn đi chân không
và đi bộ với bình bát trên tay. Giản dị chỉ có thế, chư
vị không dùng xe cộ và các thần thông. Hình ảnh nổi bật
nhất là cho đến khi nghe Thế Tôn vừa nhập diệt ở Kusinàra,
bấy giờ Tôn giả Mahà Kassapa (Ðại Ca-diếp) đang trên đường
về từ Pàva đến Kusinàra, Tôn giả tiếp tục đi bộ về,
tuyệt đối tôn trọng hành trì lời dạy của Thế Tôn, không
sử dụng thần thông ngay cả thời điểm tối quan trọng này.
Hẳn nhiên, Thế Tôn vẫn rất tế
nhị và rất kín đáo, dùng thần thông xuất hiện trước
các Hội chúng để giáo hóa. Bấy giờ Thế Tôn dùng thần
thông để đóng vai trò hệt một người trong hội chúng, nhưng
tuyệt nhiên nội dung giáo hóa vẫn là Giới, Ðịnh, Tuệ qua
thân giáo và khẩu giáo.
Lịch sử ghi lại, chỉ có Tôn giả
Mục-kiền-liên là có dùng thần thông, thi thố để hàng phục
một số các ngoại đạo sư manh động và kiêu mạn. Trường
hợp này Thế Tôn có quở trách. Tuy vậy, chúng ta cũng nhận
ra được bối cảnh truyền đạo, hành đạo quá khó khăn
và phức tạp thời đó đòi hỏi sự có mặt của Tôn giả
Mục-kiền-liên với sự sử dụng các đại thần thông của
Tôn giả.
Cho đến đây, chúng ta thấy nếp
sống của chư Tăng thật là giản dị, rất gần gũi với
thiên nhiên; cho đến cuối đời vẫn nhẹ nhàng và giản dị.
Ðiển hình là chính Thế Tôn, là
bậc Thiên Nhân Sư, vô thượng ở đời, Ngài vẫn dung dị
trong tấm y vàng; có những lúc chỉ mặc y phấn tảo, đi chân
không, dùng tấm lót ngồi (tọa cụ) đan bằng cỏ khô; có
những lúc Ngài trú mưa qua một đêm trong chái nhà lá của
thợ làm đồ gốm một mình. Ngài sinh ra dưới cội cây, xuất
gia tu tập dưới cội cây, thành đạo dưới cội cây và nhập
Niết-bàn cũng dưới cội cây, chỉ đơn giản nằm nghiêng
trên chiếc võng dây treo giữa hai cây tàla. Cuộc sống ấy
dung dị nhưng thơ mộng biết bao! Ðẹp đẽ biết bao! Xúc
cảm biết bao! Chính những hình ảnh, những nét vẻ dung dị
đó là những hào quang tối thượng và kỳ diệu nhất để
cho đời chiêm ngưỡng. Ôi! Thật là tuyệt diệu! Ðấy là
suối nguồn cảm hứng cho những bức danh họa, cho những vần
thơ kỳ ảo, cho những bản nhạc tuyệt vời và là cho cuộc
đời những ý sống dạt dào.
Xúc cảm về nếp sống đó của
chư Tăng, đời sau đã có sáng tác bốn câu kệ mô tả:
"Nhứt bát thiên gia phạn,
Cô thân vạn lý du.
Kỳ vị sanh tử sự,
Thuyết pháp độ xuân thu".
Tạm dịch:
"Một bát cơm ngàn nhà,
Một thân vạn dặm xa,
Chỉ vì chuyện sanh tử,
Nói Pháp độ người qua".
Trong tập "Thiền Ðạo Tu Tập", bản
dịch của Như Hạnh, đã thi hóa bốn câu kệ trên như sau:
"Một bát cơm ngàn nhà,
Thân chơi muôn dặm xa,
Mắt xanh xem trần thế,
Mây trắng hỏi đường qua".
"Cô thân" trong bài kệ không nên hiểu
là chỉ một mình theo nghĩa thông thường, mà phải hiểu là
một mình theo nghĩa Thế Tôn dạy ở Tương Ưng Bộ Kinh III,
tr. 11-12, rằng: "Thế nào là kẻ du hành một mình?" - "Ðấy
là người ly hoàn toàn tham ái và chấp thủ". Nếu còn tham
ái, chấp thủ thì gọi là du hành hai mình hay du hành có gia
đình.
(Xin xem tiếp đoạn kế)