Chương
Hai - Pháp Bảo
Tiết XIV
Tứ Niệm Xứ
Trong ba mươi bảy
phẩm trợ đạo. Tứ niệm xứ được xếp ở đầu bảng.
Ở phần giáo lý thuộc Thiền định này, Bát Thánh đạo lại
được giới thiệu đầu. Sự xếp đặt này dựa vào ý nghĩa
nền tảng của Bát Thánh đạo trong Ðạo Thánh đế, như Thế
Tôn dạy:
"... Khéo tu tập Bát Thánh
đạo, làm sung mãn Bát Thánh đạo, thời Tứ niệm xứ được
tu tập đi đến viên mãn, Tứ như ý túc..., Ngũ căn..., Ngũ
lực..., Thất giác chi..., được tu tập đi đến viên mãn".
(Tương Ưng V, Sđd. tr. 49-50)
Người viết lại muốn trình bày Tứ
niệm xứ sau rốt của phần giáo lý Thiền định để có
một cái nhìn tổng quan và rõ ràng về pháp môn này, pháp
môn thường dễ bị ngộ nhận, như có nhà nghiên cứu Phật
học đã phát biểu rằng phần giáo lý của Phật giáo bị
hiểu lầm nhiều nhất chính là Thiền định (Walpola Rahula,
trong "What The Buddha Taught", Chương VII).
Qua phần giáo lý vừa trình bày,
có thể nói Ðạo đế là con đường Thiền định dẫn đến
giác ngộ tối thượng. Cho nên, xem Thiền định như là một
tông phái của Phật giáo là một ngộ nhận đáng tiếc. Xa
hơn nữa, xem Thiền định như là một pháp môn chỉ đáp ứng
thích hợp với một số căn cơ gọi là lợi căn là một ngộ
nhận đáng tiếc khác.
Lời phát biểu chính xác phải là:
Thiền định chính là Phật giáo và Phật giáo chính là
Thiền định. Chúng ta sẽ tuần tự khảo sát giáo lý
Thiền định hay Tứ niệm xứ này.
Các kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm
(€nàpanasatisuttam), Trung Bộ III - Hán tạng: Trị Ý Kinh, Ðại
I, 919, Kinh Thân Hành Niệm; Niệm Thân Kinh (Kàyaga-tàsatisuttam)
, Trung Bộ III - Trung A-hàm số 81, Ðại I, 554c; Kinh Niệm Xứ
(Satipathànasuttam), Trung Bộ I - Hán tạng: Niệm Xứ Kinh, Ðại
I, 582b, Trung A-hàm số 98; Kinh Song Tầm (Dvedhàvitakka-suttam),
Trung Bộ I - Hán Tạng: Niệm Kinh, Ðại I, 589d, Trung A-hàm số
102; Kinh An Trú Lâm (Vitakkasanthàba suttam), Trung Bộ I - Hán tạng:
Kinh Tăng Thượng Tâm, Ðại I, 158a, Trung A-hàm số 101, là các
kinh căn bản đề cập đến Tứ niệm xứ.
Những Lời
Dạy Tiêu Biểu Của Thế Tôn Về Tứ Niệm Xứ
Khi Thế Tôn vừa mới giác ngộ
vô thượng, tư tưởng này khởi lên nơi Thế Tôn:
"... Ðây là con đường độc nhất
khiến chúng sanh được thanh tịnh, giúp vượt qua sầu, bi,
chấm dứt khổ ưu, chứng đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn:
Tức là Tứ niệm xứ" (Trung Bộ I; Tương Ưng V).
Các lời dạy khác của Thế Tôn
về Tứ niệm xứ tiêu biểu nhất là:
- "Ðể đoạn trừ ba lậu hoặc
(dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu), Tứ niệm xứ cần được
tu tập". (Sđd. tr. 200)
- "Này các Tỷ-kheo, các Ông sống
hãy hộ trì giới bổn... Rồi y cứ trên giới, an trú trên
giới, hãy tu tập Tứ niệm xứ". (Sđd. tr. 197)
- "Này các Tỷ-kheo, khi nào các Ông
được giới khéo thanh tịnh và chánh tri kiến, các Ông hãy
y cứ trên giới, tu tập Tứ niệm xứ theo ba cách: nhiệt tâm,
chánh niệm tỉnh giác, nhiếp phục tham ưu ở đời". (Sđd.
tr. 148)
- "Ðịnh niệm hơi thở vô, hơi
thở ra là Thánh trú, là Phạm trú, là Như Lai trú". (Sđd. tr.
334-335)
- "Thế Tôn trong mùa mưa đã an trú
vào định niệm hơi thở vô, hơi thở ra. Các Tỷ-kheo hữu
học tu tập niệm hơi thở vô, hơi thở ra để đoạn tận
lậu hoặc, các bậc A-la-hán làm cho sung mãn niệm hơi thở
vô, hơi thở ra để được hiện tại lạc trú". (Tương ng
V, tr. 334-335).
Nội Dung Tứ
Niệm Xứ
Tứ niệm xứ là: thân niệm xứ,
thọ niệm xứ, tâm niệm xứ và pháp niệm xứ.
Thế Tôn dạy:
"Thế nào là Tứ niệm xứ? Này
các Tỷ-kheo, ở đây vị Tỷ-kheo sống quán thân nơi thân,
tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở
đời; sống quán thọ nơi các thọ, tinh cần, tỉnh giác, chánh
niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm nơi tâm,
tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở
đời; sống quán pháp nơi pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh
niệm để chế ngự tham ưu ở đời". (Trung Bộ I, tr. 57).
Thế Nào Là
Quán Thân ở Nơi Thân?
Có nhiều hình thức biểu hiện
của sự tu tập quán thân nơi thân.
- Hình thức thứ nhất: Ngồi kiết-già,
lưng thẳng, để niệm trước mặt, và theo dõi hơi thở vào,
hơi thở ra, hơi thở ra, vào dài ngắn thì biết là dài ngắn,
giữ niệm tỉnh giác, hành giả tập biết cảm giác toàn thân
khi thở vô, thở ra ("Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô...
vị ấy tập") và tập nhiếp cho thân an tịnh khi theo dõi hơi
thở vào, ra và giữ niệm giác tỉnh, hay quán tánh sanh khởi,
tánh đoạn diệt trên thân, giữ tâm không chấp thủ, an trú
chánh niệm.
Như vậy là một hình thức quán
thân nơi thân. (Theo Sđd., tr. 57)
- Hình thức thứ hai: Khi hành giả
đi, đứng, nằm ngồi, làm việc, hành giả biết mình đang
đi, đứng..., đang làm việc và giữ chánh niệm tỉnh giác,
không chấp trước bất cứ vật gì ở trên đời.
- Hoặc hành giả quán sát thân mình
từ lòng bàn chân lên đến tóc (gồm có ba mươi hai thứ sai
biệt), biết thân chỉ là một chiếc túi bất tịnh đựng
đủ ba mươi hai thứ bất tịnh, nhưng vẫn giữ chánh niệm
tỉnh giác, không nương tựa, chấp trước một vật gì ở
đời. Hoặc hành giả quán tánh sanh diệt trên thân và giữ
chánh niệm tỉnh giác. (Trung Bộ I, Sđd., tr. 58).
- Hoặc quán thân này do bốn đại
(địa, thủy, hỏa, phong) sanh, chỉ là do bốn đại cấu hợp
thành, hoặc quán tánh sanh diệt nơi thân, và giữ chánh niệm
tỉnh giác, không chấp thủ, nhiếp phục tham ưu.
- Hình thức thứ ba: Quán sát bất
tịnh nơi thân hoặc quán thi thể ở nghĩa địa với các tướng
sình, thối, dòi, vữa v.v... hoặc quán tánh sanh diệt nơi thân
và giữ chánh niệm tỉnh giác, nhiếp phục tham ưu, không nương
tựa, chấp trước một vật gì ở đời.
Như vậy là tu tập quán thân nơi
thân. (Theo Sđd., tr. 58).
Thế Nào Là
Quán Thọ ở Nơi Thọ?
Khi ở nơi thân và tâm khởi lên
cảm thọ lạc, khổ, hỷ, ưu, xả hay bất khổ bất lạc thì
hành giả biết là có cảm thọ khởi lên như vậy. Biết rằng
đó là cảm thọ thuộc vật chất hay không thuộc vật chất,
là cảm thọ ở trong hay ở ngoài, và giữ chánh niệm tỉnh
giác, quán tánh sanh diệt của các thọ mà không khởi niệm
chấp trước nương tựa bất cứ một vật gì trên đời.
Như vậy là sống quán thọ nơi
các thọ. (Theo Trung Bộ I, Sđd., tr. 59).
Thế Nào Là
Quán Tâm ở Nơi Tâm?
Hành giả theo dõi tâm mình, biết
rằng tâm có tham khi tham tâm khởi lên, biết rằng tâm có
sân khi tâm sân khởi, biết rằng tâm có si, v.v... hay là tâm
không có tham, không có sân, không có si, biết rằng tâm đang
quảng đại hay hẹp hòi, biết rằng tâm có định hay không,
hành giả quán sanh diệt của tâm và giữ chánh niệm tỉnh
giác, không chấp thủ một vật gì ở đời.
Như vậy là quán tâm ở nơi tâm.
(Sđd., tr. 59).
Thế Nào Là
Quán Pháp ở Nơi Các Pháp?
Hành giả theo dõi năm triền cái
để thấy rõ tâm mình đang vướng mắc ở triền cái nào.
Hoặc quán tánh sanh diệt của các triền cái. Hoặc quán pháp
ở nơi Ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), quán Ngũ
uẩn tập khởi, Ngũ uẩn đoạn diệt với chánh niệm, tỉnh
giác, nhiếp phục tham ưu, không chấp thủ.
Hoặc quán pháp trên Lục căn, Lục
trần, do duyên hợp của căn trần kiết sử (tham, sân) khởi,
hành giả biết các kiết sử khởi lên trong mình và giữ chánh
niệm tỉnh giác.
Hoặc quán pháp trên Thất giác chi,
xem trong thân mình hiện đang có giác chi nào (hoặc đã sanh,
hoặc chưa sanh...) và giữ chánh niệm, tỉnh giác.
Hoặc quán pháp trên Tứ Thánh đế:
đây là Khổ, đây là Khổ tập, đây là Khổ diệt, đây là
Khổ diệt đạo, quán tánh sanh diệt của các pháp và giữ
chánh niệm tỉnh giác, không chấp trước bất cứ vật gì
ở đời. Như thế là tu tập quán pháp ở nơi các pháp.
Hoặc Tứ niệm xứ có thể trình
bày bằng cách tu tập theo dõi hơi thở vào, hơi thở ra với
mười sáu đề mục:
Thân niệm xứ:
1. Hơi thở vào dài, tôi
rõ biết hơi thở vào dài,
Hơi thở ra dài, tôi rõ biết hơi
thở ra dài.
2. Hơi thở vào ngắn, tôi biết
rõ hơi thở vào ngắn,
Hơi thở ra ngắn, tôi biết rõ
hơi thở ra ngắn.
3. Cảm giác thân hành, tôi sẽ thở
vô,
Cảm giác thân hành, tôi sẽ thở
ra.
4. An tịnh thân hành, tôi sẽ thở
vô.
An tịnh thân hành, tôi sẽ thở
ra.
Thọ niệm xứ:
5. Cảm giác hỷ thọ, tôi
sẽ thở vô / ra,
6. Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở
vô / ra,
7. Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở
vô / ra,
8. An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở
vô / ra.
Tâm niệm xứ:
9. Cảm giác về tâm, tôi
sẽ thở vô / ra,
10. Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở
vô / ra,
11. Với tâm định tỉnh, tôi sẽ
thở vô / ra,
12. Với tâm giải thoát, tôi sẽ
thở vô / ra,
Pháp niệm xứ:
13. Quán vô thường, tôi
sẽ thở vô / ra,
14. Quán tan rã, tôi sẽ thở vô
/ ra,
15. Quán hoại diệt, tôi sẽ thở
vô / ra,
16. Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô
/ ra.
Tu Tập Tứ Niệm
Xứ
Phần nói về nội dung của Tứ
niệm xứ đã hàm chứa những chỉ dẫn cơ bản nhất cho hành
giả tu tập Thiền định. Phần này đi sâu vào thực hiện,
nên sẽ trình bày cụ thể hơn về những bước đi tu tập
Thiền định mà hành giả cần biết và hành.
Ðiều đơn giản thứ nhất
là thế ngồi kiết-già và sự điều hòa thân. Ngồi
kiết-già là ngồi xếp chéo chân theo thế hoa sen (có thể
đặt chân phải lên chân trái trước, hay ngược lại). Theo
kinh nghiệm truyền thừa của việc tu tập Thiền, thế để
tay tốt nhất là đặt bàn tay phải trên bàn tay trái, hai bàn
tay đặt lên lòng bàn chân (nói vậy thôi, chứ nếu bạn đặt
bàn tay trái trên bàn tay phải cũng được, trường hợp với
người cụt tay, không có một trong hai bàn tay thì vẫn hành
Thiền được và vẫn có kết quả như thường). Giữ lưng
thẳng đứng, đây là điều cần phải thực hiện. Miệng
khép kín, mắt thì khép nhẹ (có thể mở mắt, nhưng trong
trường hợp này ta rất dễ rơi vào tán loạn). Ta tập ngồi
như thế này và theo dõi hơi thở vào, ra cho đến khi nào ta
ngồi được chừng 60 phút đến 90 phút mà nghe thân nhiệt
điều hòa, thân không đau, không mệt mỏi, thì bấy giờ có
thể gọi bước tu tập thân điều hòa tạm ổn (cần nhớ
rằng khi ngồi, hai đầu gối của ta phải sát nền ngồi,
ta có thể dùng gối lót bàn tọa).
Ðiều đơn giản thứ hai là
điều hòa hơi thở. Ta vừa thở vào, ra vừa theo dõi
hơi thở ấy. Tập thế nào để hơi thở vào, ra rất là nhẹ
nhàng, không động thành tiếng và không ngạt (thở bằng mũi
mà không phải bằng bụng, và hít vào cho đến ngực hay sâu
hơn một ít). Khi nào hơi thở vào, ra nhẹ nhàng như có như
không trong suốt khoảng thời gian ngồi đề cập ở trên (chừng
sáu mươi phút đến chín mươi phút) thì bấy giờ hơi thở
tạm gọi là được điều hòa - khi nào hành giả nhập Tứ
Thiền thì hơi thở mới thực sự điều hòa (hơi thở ngưng).
Ðiều đơn giản thứ ba là
để niệm trước mặt. Ðể niệm trước mặt là không
để cho tâm, ý mình chạy tán loạn theo các đối tượng (ở
trong cũng như ở ngoài tâm) một cách vô định, nghĩa là chỉ
để tâm dừng lại ở một vùng trước mặt mình. Vùng để
tâm ấy là hơi thở vào ra, hoặc là ấn đường (ở giữa
hai chân mày), hoặc là nhân trung (ở dưới chót mũi), hoặc
ở đầu chót mũi, hoặc ở đơn điền, hoặc ở trong lòng
bàn tay của hành giả, hoặc một vùng diện tích nhỏ trước
mặt trong tầm nhìn của mắt xuyên qua đầu chót mũi.
Làm được thành thạo ba điều
giản đơn trên là ta mới chỉ đủ điều kiện thực hiện
được điều mà Thế Tôn dạy ở trong các Kinh là: "Vị Tỷ-kheo
đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến căn nhà
trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm
trước mặt".
(Ngày xưa, chư vị Tỷ-kheo hành
đạo ở trong các cánh rừng nhỏ của Ấn Ðộ nên mới đi
đến gốc cây, khu rừng, căn nhà trống. Ngày nay chúng ta có
thể đi vào Thiền đường, hoặc phòng Thiền ở tư thất,
hoặc ngay cả ở phòng nghỉ. Chúng ta không cần phải bận
tâm đến giờ khắc ngồi Thiền phải là Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu...
hay mặt hướng về phương Bắc, Ðông, Tây, v.v...).
Tiếp theo, bước tu tập này mới
thực sự là trọng điểm: đấy là bước điều hòa tâm.
Từ đây, hành giả hẳn nhiên đi vào tu tập Tứ niệm xứ.
* Về Thân Niệm
Xứ:
Theo dõi hơi thở vào, ra là tập
niệm lực và tập buộc tâm vào một đối tượng, việc theo
dõi này tương đối khá đơn giản. Nghe thân hành (đường
hơi thở và cả toàn thân) thì đòi hỏi sự theo dõi chăm
chú hơn, một sự ngưng tâm mạnh hơn. Công việc này cần
phải tập công phu hơn sự theo dõi hơi thở chút đỉnh...
Nhưng tập nhiếp tâm và thân để thân hành an tịnh, để
tất cả yếu tố động của thân (hơi thở động, thân nhiệt
nóng...) được nhiếp tịnh thì đòi hỏi nỗ lực nhiều hơn.
Nếu thân và hơi thở đã điều hòa thì hẳn nhiên thân hành
dễ an tịnh. Nói là an tịnh thân hành, nhưng khi tập thì tâm
cần phải được thu nhiếp lại, thân hành mới an tịnh, nếu
tâm trạo cử, dao động, hơi thở sẽ tức, thân dễ nóng
lên và như thế thân hành khó an tịnh. Do đó, ở đề mục
cảm giác thân hành và an tịnh thân hành có ghi thêm ba chữ
"vị ấy tập".
Ðiều quan trọng nhất khi thực
tập thân hành niệm ấy là hành giả cần vận dụng tâm tu
tập cho có kết quả ba điểm trọng yếu này: "Tinh cần,
chánh niệm tỉnh giác, và chế ngự tham ưu ở đời".
Tinh cần sẽ xua đi khỏi tâm thức
những tâm lý mệt mỏi, thụ động, xua tan một phần hôn
trầm. Chánh niệm tỉnh giác là giữ tâm lý không rơi vào
tham, không rơi vào sân, mà cũng không rơi vào vô ký, tâm an
trú trong sự thức tỉnh rằng các pháp là Vô ngã, Vô thường
và Khổ đau. Nhờ giác tỉnh Vô ngã mà tâm hành giả ngăn
được các tham ưu đã sanh, khiến chúng ngưng khởi, ngăn được
các tham ưu chưa sanh sẽ không sanh. Nhờ giác tỉnh các pháp
hữu vi là Vô thường và đau khổ mà tâm sanh nhàm chán, ly
tham, nhờ đó mà các tham tâm và ưu tâm biến mất. Ðây là
tâm lý loại trừ Năm triền cái để đi vào Thiền định,
và đi sâu vào Thiền định. Cái gọi là Thiền định (hay
định) là chánh niệm tỉnh giác ấy, mà không phải là các
công phu ngồi hay thở. Chính từ sự khác biệt cạn, sâu của
mức độ giác tỉnh, ly tham mà xác định vị trí của hành
giả là phàm phu, hữu học hay vô học.
Do điểm quan trọng của hành Thiền
là ở chỗ nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, và
nhiếp phục tham ưu ở đời, mà không phải là do thế ngồi
hay cách thở, nên hành giả có thể hành Thiền trong khi đi,
đứng, nằm, ngồi, ăn cơm, làm việc, v.v... miễn rằng hành
giả giữ được chánh niệm tỉnh giác.
Có những lúc tâm ý chìm xuống,
khó phát khởi tinh tấn, hành giả cần nhìn sâu vào vô thường
của thân, tâm mình và của cuộc sống, nhớ kỹ đời người
chỉ sống qua hơi thở, mong manh như hơi thở thì tự khắc
tâm tinh tấn tu tập phát khởi.
Có những lúc tâm lý lại dao động,
tham tâm dấy khởi, dấy lên nhiều mơ ước cho tự thân thì
bấy giờ hành giả cần quán các bất tịnh của tự thân,
của tha nhân và của cuộc sống tham tâm sẽ chìm lãng, ly
dục tâm hưng khởi.
Có những lúc tâm thức nặng nề,
những ưu tư về tự thân trở nên dao động, bất an, bấy
giờ hành giả quán ba mươi hai thứ của thân (từ lòng bàn
chân lên đến tóc), quán thật kỹ, nhìn nhiều lần như thế
cho đến một lúc hành giả bỗng dưng nhận ra cái ý nghĩa
buồn cười của cái gọi là "tự ngã". Hành giả sẽ bừng
sáng luôn về cái vô nghĩa của những ưu tư cùng với những
giấc mộng xây dựng cho tự ngã hay xây dựng xung quanh tự
ngã. Tại đây, hành giả sẽ cảm thọ một cái gì hân hoan,
nhẹ nhàng, thanh thản của tâm lý vừa gỡ ra khỏi một số
vướng mắc.
Bình thường, hành giả cũng có
thể quán ba mươi hai vật bất tịnh của thân ấy, hoặc quán
Năm uẩn, hoặc Bốn đại (hay Sáu đại), những yếu tố giả
hợp nên cái gọi là tự ngã. Hành giả tư duy trên cơ sở
Mười hai nhân duyên để thấy rõ cái gọi là thân và tâm
của mình chỉ là giả tướng, chúng thực sự không phải
là mình, không phải là của mình và không phải là tự ngã
của mình. Do thấy như vậy mà rời khỏi các chấp trước
vào sự vật, ly tham, ly sân; nhờ ly tham mà giải thoát đến.
Ở vị trí phàm phu thì nhờ ly dục mà vào sơ Thiền; ở bốn
Thiền Sắc giới, nhờ ly tham, ly thủ mà đắc Thánh quả.
Ở vị trí hữu học nhờ ly tham, ly thủ mà lìa vô minh, tận
trừ các lậu hoặc. Hành giả nên nghiêng nặng về quán Nhân
duyên, Vô ngã, Vô thường nơi thân Bốn đại, Năm uẩn, Mười
hai xứ mà không nên đi sâu vào quán bất tịnh, bởi lẽ tâm
lý của người quán bất tịnh, do không quán thiện xảo, có
thể rơi vào chán nản, mệt mỏi mà gây ra nguy hiểm.
Một điều hành giả cần nhận
thức thật rõ trước khi đi sâu vào Thiền quán, hay đi sâu
vào tu tập Thân niệm xứ, là lời dạy của Thế Tôn không
bao giờ trống rỗng, luôn luôn trong đó có chuyên chở thực
tại. Ðừng có vì thấy hình thức trình bày các đề mục
của Tứ niệm xứ đơn giản mà ngờ vực hiệu quả của
pháp môn tu tập này. Hành giả hãy thực tập đúng lời Kinh
dạy, thực tập nhiều lần cho nhuần nhuyễn để chứng nghiệm
các cảnh giới Thiền và giải thoát theo công phu tu tập của
mình.
Hành giả đừng bao giờ chờ đợi
những sản phẩm tương tượng của tư duy, những ảo giác
của tu tập, ngoại trừ tâm lý ly tham, ly sân và ly si. Hành
giả cũng đừng mong đợi quá nhiều ở một vị Sư hướng
dẫn các phương pháp đối trị các vọng tưởng, các ảo
giác, bởi vì tự thân của pháp môn Tứ niệm xứ đã là
biện pháp đối trị đủ mọi thứ tâm bịnh rồi. Hành giả
chỉ giữ quyết tâm thực hành nghiêm túc Tứ niệm xứ, hay
niệm hơi thở vào, hơi thở ra, thì sớm hay muộn Thiền định
và giải thoát quyết định sẽ đến với hành giả.
Việc thực hành chỉ nghiêm túc
khi nào hành giả có cái nhìn ổn định về tự thân và cuộc
đời. Ðấy là chánh kiến thấy rằng ham muốn sắc, thanh,
hương, vị, xúc, ham muốn hiện hữu hay vô hữu là lửa phiền
não đốt cháy hạnh phúc an lạc của mình. Thấy rõ như vậy
hành giả mới xả bỏ ham muốn và mới an trú được trong
chánh niệm tỉnh giác. Chừng nào hành giả còn yêu ham muốn
ấy, còn ưa thích nó, thì chừng ấy lậu hoặc còn chảy mạnh
trong dòng tâm của hành giả và ngăn cản mọi thành tựu Thiền
định của hành giả. Chỉ có một ham muốn mà hành giả có
thể nắm giữ, đó là ham muốn đốt cháy hết các ham muốn
kể trên.
Phần lớn các rối loạn của Thiền
định như là trạo cử, hôn trầm, các sợ hãi làm dao động
tâm lý đều bắt nguồn từ lòng ham muốn các trần và các
cảm thọ. Cho đến khi nào hành giả thấy lòng ham muốn các
trần (và các cảm thọ) buông xuống như một bức màn rũ
xuống, thì cho đến khi ấy hành giả đầy hy vọng chờ đợi
các Thiền tâm. Nhưng cho đến khi nào lòng ham muốn ấy còn
được nuôi dưỡng, thì cho đến khi ấy hành giả dù có nỗ
lực thế nào cũng chỉ chờ đợi Thiền định đến trong
vô vọng.
* Về Thọ Niệm
Xứ:
Tương tự công phu tu tập Thân niệm
xứ, hành giả theo dõi các cảm thọ lạc, khổ, phi khổ phi
lạc khởi lên trong tự thân, nó khởi lên như thế nào thì
ghi nhận như thế ấy và không để cho tâm lý dao động vì
tham khởi, sân khởi hay si khởi. Biết và phân tích các cảm
thọ theo cái nhìn duyên sinh để giác tỉnh đi ra khỏi các
tham ái và chấp thủ.
Cảm thọ khởi lên là do các nhân
duyên sinh (do xúc mà có thọ), và diệt đi cũng do duyên diệt.
Nó là không thật. Nó sinh diệt ở ngoài sự kiểm soát của
hành giả nên không thể xem nó là của hành giả, là chính
hành giả hay là tự ngã của hành giả. Giác tỉnh như vậy
thì các tham ái và chấp thủ lắng dịu dần cho đến tắt
hẳn.
* Về Tâm Niệm
Xứ:
Mức độ lắng tâm của hành giả
theo dõi các tâm hành thì sâu hơn là mức độ lắng tâm theo
dõi các thân hành. Mức độ lắng lòng để theo dõi các tâm
niệm có tham, sân, si hay không có tham, sân, si lại tế nhị
hơn và trầm lắng hơn. Ở đây, trí tuệ (chánh kiến và chánh
tư duy) làm việc nhiều hơn và do đó phát triển mạnh hơn.
Giác tỉnh trước các diễn biến
của tâm lý bên trong chính là công việc hành xả, loại trừ
các chấp thủ trước về các sự vật ở bên trong cũng như
ở bên ngoài. Càng giác tỉnh, không chấp trước thì tâm càng
đi sâu vào định và tuệ. Ngược lại, càng nắm giữ, hay
phản ứng trước các sự kiện sinh diệt của tâm lý thì
lại càng làm cho tâm dao động, rời khỏi định xả, nhất
tâm. Ngay cả khi tâm lý trú trong các Thiền cảnh (định),
hành giả cũng chỉ ghi nhận là tâm thuộc định, và giác
tỉnh ngay rằng đây là pháp hữu vi, do duyên tu tập mà sinh,
và rời khỏi các chấp trước vào các Thiền cảnh ấy. Tâm
giác tỉnh này nổi bật sắc thái tuệ giác và giải thoát.
* Về Pháp Niệm
Xứ:
Hành giả phân tích, quán sát Năm
triền cái đang sinh diệt ở trong mình: chúng do duyên sinh và
do duyên diệt. Do nhân duyên nào mà các triền cái sinh thì
cũng do nhân duyên ấy mà đoạn diệt các triền cái. Hoặc
quán thân Năm uẩn này: Năm uẩn tập khởi, Năm uẩn đoạn
diệt và con đường đưa đến Năm uẩn đoạn diệt. Thấy
Năm uẩn là giả tướng, không phải là của ta, không phải
là ta, không phải là tự ngã của ta để lìa chấp thủ ngã
và pháp. Ðây là thấy trong Thiền quán, theo dõi các quá trình
tâm và vật lý, mà không phải thấy từ sự phân tích của
tư duy.
Vì Năm uẩn là Vô ngã, nên khi lạc
thọ, khổ thọ đến, liền thấy Vô ngã tính, duyên sinh tính
của nó mà không chấp thủ khổ, lạc, không đắm lạc và
không ưu về khổ.
Tương tự, nhìn sâu Sáu xúc xứ
hay Mười hai xứ để thấy rằng Sáu nội xứ và Sáu ngoại
xứ không phải là kiết sử, chúng không trói buộc hành giả,
mà chỉ có tham hay sân là kiết sử. Mắt và sắc không phải
là kiết sử, nhưng khi mắt tiếp xúc với sắc trần thì tham
ái khởi lên, tham ái mới là cái trói buộc hành giả trong
khổ đau sinh tử. Hành giả liền giác tỉnh đi ra khỏi tham
ái, hoặc phải tác quán tưởng bất tịnh nơi sắc và mắt,
hoặc phải thấy giả tướng của sắc và mắt để khởi
lên giác tỉnh.
Hoặc quán pháp qua Thất giác chi,
xem trong tâm hành giả hiện đang có hay chưa có giác chi nào.
Giác chi nào đã có thì tiếp tục làm cho sung mãn, nhuần nhuyễn;
giác chi nào chưa có thì tu tập, làm cho phát khởi. Căn bản
là hành giả vẫn giữ chánh niệm tỉnh giác. Từ chánh niệm
tỉnh giác mà các giác chi kia phát khởi và khi các giác chi
phát khởi, hành giả vẫn trú chánh niệm tỉnh giác. Thành
thử, khi các Thiền tâm (hỷ, khinh an, xả, định) xuất hiện
thì tuệ giác có mặt ở đó như là "linh hồn" của các Thiền
tâm, và như là chính chánh niệm tỉnh giác đó (tuệ giác
chính là nội dung của chánh niệm tỉnh giác).
Hoặc quán pháp qua Tứ Thánh đế,
hành giả thấy rõ Khổ, thấy rõ Khổ tập, Khổ diệt và
Khổ diệt đạo, thấy rõ tánh sinh và diệt của các pháp,
trong khi quán như vậy, hành giả giữ chánh niệm, tỉnh giác.
* * *
Ðến đây, hành giả đã thấy rõ,
trên suốt lộ trình tu tập của Ðạo đế hay là trên con
đường Thiền định, chánh niệm tỉnh giác là yếu tố tâm
thức trọng yếu nhất; nó có mặt từ bước đi đầu tiên
cho đến bước đi cuối cùng.
Về việc tu tập mười sáu đề
mục của niệm hơi thở vào hơi thở ra thì có nhiều cấp
độ, từ khởi đầu cho đến cao điểm.
Cấp độ một:
Hành giả chỉ nói thầm mười sáu
đề mục ấy và theo dõi hơi thở vào ra, thế nào để cho
câu nói thầm nhịp nhàng theo đoạn đường của hơi thở
ra vào ấy. Dĩ nhiên hành giả phải ngồi đúng theo thế kiết-già.
Hành giả có thể nói thầm mỗi đề mục hai, ba hay nhiều
hơn ba lần, tùy theo thời gian hành giả ngồi trong mỗi thời
tu tập. Một thời gia sau (có thể là một tuần, hai tuần,
một tháng hay hai tháng) cho đến khi hành giả tập thành thạo
như thế và cảm thấy vừa đủ, không muốn tập tiếp như
thế nữa, thì hành giả bước qua tập cấp độ hai.
Cấp độ hai:
Hành giả không phải nói thầm mười
sáu đề mục nữa, mà theo dõi thân và tâm theo nội dung của
mười sáu đề mục ấy, vừa theo dõi hơi thở vào ra. Trong
suốt thời gian ngồi tịnh này, hành giả luôn luôn cố giữ
niệm ở trong mười sáu đề mục, đừng để niệm chạy
lạc ra ngoài, cũng đừng để mình rơi vào hôn trầm, thụy
miên hoặc vô ký. Làm như vậy thì hành giả vừa nỗ lực
để loại bỏ hôn trầm, thụy miên, vừa loại bỏ trạo cử
và vừa ngăn không để cho các dục niệm, sân niệm, vọng
niệm khởi lên. Làm như vậy là hành giả tập lắng dần
tâm, kiểm soát tâm và làm chủ tâm. Hành giả tập cho đến
độ tương đối thuần thục, cho đến khi vừa thuần thục,
vừa không muốn đi xa thêm về lối tập này nữa thì hành
giả bước qua thực tập cấp độ ba.
Cấp độ ba:
Ở cấp độ này, hành giả cần
đạt đến độ hơi thở tương đối điều hòa đã, rồi
mới đi vào. Hành giả vẫn tiếp tục theo dõi hơi thở, xem
hơi thở như là đối tượng chính để buộc tâm, vừa theo
dõi thân hành, biết rõ đường hơi thở vào ra và cảm giác
của toàn thân, chỉ biết rõ và giữ chánh niệm tỉnh giác.
Ở đề mục thứ tư (an tịnh thân hành), hành giả có thể
thực tập dừng lại ở đó với thời gian lâu hơn thời gian
của đề mục số một, hai và ba. Tại đây hành giả khởi
tâm tinh cần, nỗ lực để nhiếp an thân hành. Từ đề mục
số năm (cảm giác hỷ thọ...) cho đến đề mục số mười
hai (với tâm giải thoát...) hành giả cũng hành nhiếp tâm
tương tự thế nào để hướng đến nội dung của các đề
mục này. Với đề mục số mười ba, mười bốn, mười lăm,
và mười sáu, trong cấp độ ba này, hành giả chỉ khởi tưởng
mà thôi, chưa vội khởi quán. Nếu hành giả cảm thấy muốn
nhiếp tâm nhiều hơn là theo dõi hơi thở, thì hành giả có
thể chỉ thỉnh thoảng theo dõi hơi thở vào ra để điều
hòa hơi thở mà thôi. Ðiểm thực hành quan trọng ở đây
vẫn là giữ chánh niệm tỉnh giác, nhiệt tâm tinh cần và
nhiếp phục tham ưu.
Tất cả nỗ lực theo dõi hơi thở
và nhiếp tâm ở cả ba cấp độ này (một, hai và ba) đều
là nỗ lực tu tập niệm lực, hành Thiền chỉ.
Cấp độ bốn:
Hành giả tập buộc niệm vào đối
tượng tu sâu hơn, tập khởi niệm (hay làm cho mạnh) nhiệt
tâm tinh cần bằng nhiều cách, chẳng hạn nghĩ đến vô thường
của thân, tâm mình và của mọi hiện tượng của cuộc sống
để khởi niệm tinh cần, nhiệt tâm. Sự nhiệt tâm tu, và
sức mạnh tinh cần, tinh cần lực mạnh sẽ giúp hành giả
đối trị hôn trầm và trạo cử (đặc biệt là đối trị
hôn trầm) hữu hiệu hơn. Bấy giờ là lúc hành giả đang
tu tập định lực hành Thiền chỉ.
Cấp độ năm:
Hành giả vẫn tiếp tục hành trì
ở cấp độ bốn, ở khoảng thời gian đầu của thời ngồi
Thiền (chừng ba mươi phút đầu hay bốn mươi phút đầu).
Tiếp theo hành giả tập hành Thiền quán để trực tiếp đối
trị Năm triền cái (trạo cử, hôn trầm, dục, sân và nghi).
Phần tác quán như thế nào để đối trị Năm triền cái
này sẽ được trình bày riêng ở phần tiếp theo, trong tiết
này.
Cấp độ sáu:
Hành giả thực tập cho nhuần nhuyễn
về khởi quán và trú quán trong nghĩa vô thường tan rã, hoại
diệt, và từ bỏ (đề mục mười ba, mười bốn, mười lăm
và mười sáu). Ðây là bước đầu tập Thiền quán. Ở cấp
độ sáu này, hành giả tập xen kẻ Thiền chỉ và Thiền quán,
tùy theo tâm lý thích ứng của hành giả từng thời, ngồi
Thiền thích hợp với chỉ hay quán. Hễ tâm nghiêng về trạo
cử thì hành Thiền chỉ, hễ tâm rơi vào thụ động thì hành
Thiền quán. Ðiểm chủ yếu ở đây không phải là chỉ hay
quán, mà là đối trị hữu hiệu hôn trầm và trạo cử, giữ
tâm quân bình ở chánh niệm tỉnh giác.
* * *
Trong sáu cấp độ này, hành giả
cần nhận thức thật rõ các điểm dưới đây:
1. Tuy là phương tiện trình bày
làm sáu cấp độ trên, nhưng trên thực tế không thể đánh
giá cấp độ nào là tu tập vào Thiền chỉ và Thiền quán
sâu hơn các cấp độ kia. Vào sâu Thiền chỉ và Thiền quán
là căn cứ vào hiệu quả mà hành giả đạt được ở tinh
cần lực, ở mức độ chánh niệm tỉnh giác và ở mức độ
nhiếp phục các tham ưu ở đời. Sau khi thực hành đến cấp
độ sáu, hành giả có thể trở lại hành từng cấp độ,
từ cấp độ một đến cấp độ năm (hoặc gồm cả cấp
độ sáu), nhưng bấy giờ hành giả hành với kinh nghiệm mới,
với tư thế của tâm thức mình với mức độ chánh niệm
tỉnh giác sâu hơn, bền hơn, vững hơn, và dĩ nhiên hành giả
sẽ đạt được kết quả mới, khả quan hơn công phu tu tập
trước.
2. Nếu tâm lý, căn cơ của hành
giả ít thích hợp, hay khó thích hợp với Thiền quán, thì
hành giả chỉ cần hành chuyên cấp độ một hoặc cấp độ
hai mà thôi. Ðiểm trọng yếu ở đây vẫn là ở nhiệt tâm
tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, và nhiếp phục tham ưu ở
đời.
3. Về các cảm thọ hỷ, cảm thọ
lạc, hân hoan tâm khởi lên không phải do hành giả phải làm
gì khác để cho chúng khởi lên, cũng không phải hành giả
phải thở như thế nào và ngồi tịnh trong thời gian bao lâu
đó để chúng khởi lên, cũng không phải hành ở cấp độ
nào đó chúng mới khởi lên, mà chúng khởi lên là khởi lên
từ niệm lực, từ chánh niệm tỉnh giác của hành giả. Quan
trọng là tu tập xây dựng niệm lực này. Hành giả cần biết
kiên nhẫn chờ đợi bắt đầu từ khi nhận ra con đường
mình đang thực tập Tứ niệm xứ này là đúng, tin tưởng
vào pháp môn này và có thể quyết tâm tu tập pháp môn này.
Chỉ cần hành nhiều lần cho thật nhuần nhuyễn, và chờ
đợi.
4. Hành giả hành Thiền quán, khi
chưa đắc định chỉ có tác dụng là để quân bình tâm lý,
để đối trị với các tâm lý thụ động và để đối trị
dục tâm, sân tâm và si tâm ở cấp độ thô thiển. Nếu hành
giả nặng về Quán thì dễ rơi vào trạo cử; nếu nặng về
Chỉ thì dễ rơi vào hôn trầm. Hẳn là trong lúc Thiền quán,
tâm thức của hành giả có thể khởi tín, hỷ, hân hoan và
cả lạc, nhưng thường thì hành giả khó trú lâu trong hỷ
và lạc này, nghĩa là vẫn khó đắc định cho đến khi Năm
triền cái thực sự bị đẩy lui hẳn.
Khi hành giả đã đắc định rồi,
tối thiểu là Sơ thiền, thì hành giả có thể hành quán như
mình muốn. Bây giờ, hành giả dễ nhận ra mình phải làm
gì khi ngồi Thiền. Thế Tôn dạy, cho đến Tứ thiền thì
việc hành Thiền quán mới thực sự hữu hiệu trong việc
đoạn trừ các lậu hoặc. Ngoài các căn cơ đặc biệt có
trí tuệ bén, các căn cơ khác chỉ nên hành Thiền quán có
giới hạn để đi vào Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền.
Dù hành chỉ hay hành quán thì cơ sở trú tâm của hành giả
vẫn là chánh niệm tỉnh giác.
5. Pháp môn Tứ niệm xứ hay niệm
hơi thở vào, hơi thở ra là pháp môn tu tập trên căn bản
niệm lực nên phù hợp với mọi căn cơ trong mọi thời, hành
giả đừng khởi nghi tâm. Mọi căn cơ đều có thể hành niệm
hơi thở vào, hơi thở ra theo mười sáu đề mục trên, trên
căn bản nhiệt tâm tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, và nhiếp
phục tham ưu ở đời, và đều có thể đi vào định sớm
hay muộn.
6. Hành giả cần biết rõ ràng khi
cảm giác hỷ thọ chưa khởi lên thì cần tu tập nhiếp phục
các triền cái để hỷ thọ khởi lên, nhưng khi các triền
cái lắng xuống thì bấy giờ hỷ tâm trở thành yếu tố
động gây nên trạo cử. Hành giả cần nhiếp tâm chánh niệm
tỉnh giác để một mặt ngăn trạo cử, một mặt nhiếp niệm
để đi vào lạc thọ. Khi hỷ thọ chìm lắng để lại lạc
thọ một mình thì bấy giờ lạc thọ trở nên động và đưa
tâm vào trạo cử (ở cấp độ nhẹ hơn), bấy giờ hành giả
cần chánh niệm tiếp tục nhiếp tâm an tịnh và trú xả.
Tâm hân hoan cũng thế, thoạt đầu
thì cần có tâm hân hoan để dễ vào định, nhưng sau khi hân
hoan khởi thì tâm lý ấy trở nên động ở một cấp độ
khác, bấy giờ cần phải nhiếp tâm tịnh chi. Khi trú tâm
ở tịnh chỉ lâu thì có thể đi vào tâm lý của hôn trầm
thụ động (ở cấp độ nhẹ khác), bấy giờ hành giả cần
giác tỉnh đi ra, và trú niệm ở xả, giải thoát.
Chúng ta có thể hình dung các điều
vừa trình bày ở điểm nhận thức thứ sáu này bằng ví
dụ mà trước đây đã đề cập:
Thầy giáo (hay cô giáo) dùng tiếng
gõ bảng để làm cho các tiếng ồn ào của học sinh trong
lớp lặng im, bởi vì đó là hiệu lệnh của thầy cô giáo
bảo im. Nhưng khi học sinh đã im lặng, các tiếng nói chuyện
ồn ào đã dứt, thì bấy giờ tiếng gõ bảng lại gây ồn
ào nếu thầy giáo, cô giáo tiếp tục gõ bảng. Tác dụng
của tiếng gõ bảng là để làm im lặng các tiếng ồn khác
trong lớp. Khi tiếng ồn đã lặng, thì tiếng gõ bảng cũng
cần dừng lại.
Cũng thế, khi làm cho tâm hân hoan
khởi (hay hỷ tâm, lạc tâm khởi) là để loại bỏ các tâm
lý thụ động, hôn trầm, sân hận. Khi các tâm lý thụ động,
hôn trầm, sân hận lắng rồi thì hành giả cần nhiếp niệm
ngay vào chánh niệm tỉnh giác để đối trị tham ái.
Các đề mục từ số năm đến
số mười hai nói lên cho chúng ta ý nghĩa đó. Hành như vậy
là hành Thiền một cách thiện xảo, sẽ có kết quả tốt.
7. Các vọng tâm, động tâm và cả
hôn trầm thụy miên, ngoài những gì đã tạo ra trước khi
tu, được sinh khởi do các nhân duyên, các nhân duyên này là
tất cả những gì ở đằng trước hành giả (cả trong và
ngoài thân tâm), chúng hoàn toàn mới mẻ, sẽ kết hợp với
nhau để làm dấy lên những vọng niệm. Do đó hành giả cần
hành Thiền chỉ, Thiền quán và chánh niệm tỉnh giác cho nhuần
nhuyễn, cần hành nhiều lần để chế ngự hữu hiệu các
vọng tâm ấy. Thường tỉnh giác đi ra (hay làm chủ) mọi
cảm thọ, mọi dục niệm. Ở đây Giới bổn sẽ giúp hành
giả ngăn chặn được nhiều vọng tâm và phiền não mới
chưa sinh.
Khi mà các tâm lý trói buộc cũ
chìm lặn, khi mà các tâm lý mới không có điều kiện để
dấy khởi, thì hành giả dễ đi sâu vào định. Tại đây
hiện rõ địa bàn hoạt động của hành giả là đương niệm.
Ðương niệm luôn luôn cần được chế ngự bởi chánh niệm
tỉnh giác, bởi tác ý như thật. Công việc theo dõi và làm
chủ đương niệm là công việc chánh của người tu Thiền
định, nó cần được thực hiện trong mọi oai nghi và trong
mọi thời. Nhận rõ điều này, hành giả sẽ thông suốt được
mọi cấp độ và hình thức tu tập.
8. Khi hành giả tu tập đến mức
độ thường giác tỉnh, đoạn trừ hoàn toàn lòng khát ái
và chấp thủ thì mọi vọng niệm không có lý do để tồn
tại hay để sinh khởi. Bấy giờ hành giả đã làm trọn hết
những gì cần phải làm, từ đây trở về sau không có gì
để làm nữa, hành giả được gọi là bậc vô học, đã
đoạn tận lậu hoặc, giải thoát xong ngay trong hiện tại.
Ðến đây, chúng ta thấy rõ rằng
tuy nói là hành Thiền định nhưng trên thực tế chúng ta kết
hợp nhuần nhuyễn giới, định và tuệ trong công phu tu tập
này.
Ðể công phu tu tập ấy có kết
quả tốt, chúng ta cần hiểu rõ các phương thức trừ Ngũ
cái và phương thức chọn đối tượng tu tập Thiền quán.
Phương Thức
Ðối Trị Ngũ Cái
Ngũ cái là năm thứ ngăn che tâm
hành giả, cản trở hành giả đi vào Thiền định. Ðó là
trạo cử, hôn trầm, dục, sân và nghi.
- Về trạo cử:
Khi hành giả không thể dừng tâm
vào một đối tượng đã chọn, các niệm tưởng cứ chạy
dài từ đối tượng này qua đối tượng khác, thì đó là
trạng thái tâm lý trạo cử. Mỗi khi rơi vào trạo cử, hành
giả cần phải có những việc cần phải làm để đối trị:
- Cần dừng lại tư duy,
đem niệm về theo dõi hơi thở vào, hơi thở ra cho đến khi
tâm lýù an tịnh vừa đủ.
- Hoặc đem niệm về trú trên một
điểm thích hợp như để niệm ở đơn điền, ở lòng bàn
tay v.v... để niệm trước một hình ảnh Thế Tôn, hình ảnh
Tổ sư, v.v... cho đến lúc lòng lắng tỉnh vừa đủ (hình
ảnh hiện ra trong tâm tưởng).
- Hoặc giữ niệm trú ở giác tỉnh,
chánh niệm.
Trạo cử có nhiều mức độ thô,
tế khác nhau. Cách đối trị trạo cử vừa trình bày là để
đối trị các trạo cử thô. Trạo cử tế là các trạo cử
của các bậc hữu học, là lòng lo lắng, dao động vì mong
đoạn trừ các kiết sư còn lại. Ðối với các trạo cử
tế nhị này, Thế Tôn dạy cần hành Thất giác chi nhiều
lượt cho nhuần nhuyễn để đối trị.
- Về hôn trầm, thụy miên:
Trạng thái tâm lý mê mê, buồn
ngủ, hay ngủ khi ngồi Thiền gọi là hôn trầm thụy miên.
Ðể đối trị với hôn trầm thụy miên, hành giả cần áp
dụng một số biện pháp:
- Với trạng thái mê ngủ,
hành giả cần ngưng lại sự theo dõi hơi thở hay tư duy, và
để tâm trên đỉnh đầu một chốc cho đến khi tỉnh ngủ
hẳn. Ðây là biện pháp thông thường đối với cơn hôn trầm
nhẹ.
- Một số biện pháp đối trị
hôn trầm tiếp theo đây là những biện pháp Thế Tôn dạy
Tôn giả Mục-kiền-liên, tám ngày trước khi Tôn giả đắc
A-la-hán quả (Tăng Chi IV, tr. 67-68);
1. Khi trú có tưởng và thụy
miên xâm nhập thì chớ có tác ý đến tưởng ấy, chớ có
tưởng nhiều đến tưởng ấy. Do làm như vậy thụy miên
được loại bỏ.
2. Nếu làm như vậy mà thụy miên
không được đoạn diệt, thì tư duy quán các pháp như đã
được nghe, đã được học thuộc lòng, thụy miên sẽ tan
đi.
3. Nếu làm như vậy mà không có
kết quả, thì đọc tụng pháp như đã được nghe, được
học thuộc lòng, thụy miên sẽ mất.
4. Nếu làm như vậy mà không dứt
được thụy miên, thì hãy kéo hai lỗ tai và lấy tay xoa bóp
tay chân, thụy miên sẽ bị đoạn trừ.
5. Nếu làm như vậy mà không tiêu
diệt được thụy miên, thì hãy rời khỏi tư thế ngồi Thiền,
đứng dậy lấy nước chùi mắt, nhìn về phía chân trời
và nhìn lên các vì sao lấp lánh, thụy miên sẽ tiêu tan.
6. Nếu làm như vậy mà không có
kết quả, thì hãy tác ý tưởng ánh sáng và trú tâm vào tưởng
ban ngày. Như vậy, với tâm mở rộng, không hạn chế, tu tập
cho tâm được chói sáng, thụy miên sẽ được đoạn trừ.
7. Nếu làm như vậy mà không loại
trừ được thụy miên, thì hãy để tâm trên chỗ kinh hành,
các tưởng trước mặt và sau lưng với các căn hướng nội,
ý không hướng ngoại, thụy miên sẽ bị loại trừ.
8. Làm cho đến như vậy mà nếu
không loại trừ được thụy miên, thì hãy nằm theo dáng nằm
con sư tử, nghiêng về phía hông bên phải, hai chân gác lên
nhau, chánh niệm tỉnh giác tác ý tưởng thức dậy, và tưởng
thức dậy thật mau, đừng chú tâm đến các lạc của nằm
ngủ, thụy miên sẽ đi đến chỗ bị đoạn trừ.
- Về dục triền cái:
Dục triền cái ở đây nhấn mạnh
đến lòng dục về các sắc, thanh, hương, vị và xúc. Ðể
đối trị dục này, hành giả làm một trong ba (hay cả ba)
việc sau đây:
- Thường quán Vô thường
và Vô ngã trong các pháp (Năm uẩn), do giác tỉnh Vô thường
mà ly dục. Nếu nhận ra rằng tự thân mình có thể chết
bất cứ lúc nào, vì bất cứ lý do nào, có thể mắc trọng
bệnh vì bất cứ lý do nào, bất cứ lúc nào; tình đời,
tình người mong manh vô thường, v.v... thì lòng dục sẽ dịu
vơi đi hoặc có thể được buông xả.
- Hoặc quán cái nguy hiểm của đối
tượng dục, nó có thể đem lại những khổ đau nhức nhối
trong hiện tại và tương lai; từ Thiền quán này tâm có thể
rời xa ngũ dục lạc, có khi ly tham hoàn toàn.
- Hoặc nghĩ đến cái hạnh phúc
thanh thoát của Thiền định, do muốn đi vào Thiền định
mà buông xả dục ái.
- Về sân triền cái:
Ðấy là sự nóng giận, sân hận
mà hành giả cần làm lắng dịu lại, hay dập tắt đi.
- Ðể đối trị sân, cần
thực hành từ bi quán; khi tâm từ bi sinh thì sân diệt.
- Hoặc quán những khổ đau trong
bệnh viện và ở ngoài đời, từ tâm cũng xuất hiện; từ
tâm này sẽ dập tắt sân tâm.
- Hoặc quán những nguy hiểm của
sân tâm, những hậu quả do sân tâm đem lại như: sẽ bị
đọa vào súc sanh, sẽ tái sanh với dung sắc xấu xí, sẽ
bị các hoạn họa trong hiện tại, thân tướng hiện tại
sẽ xấu đi, v.v... thì sân cũng có thể bị đoạn trừ, hoặc
lắng dịu.
- Hoặc tư duy thế nào để hỷ
tâm sinh, hân hoan sinh thì sân cũng bị diệt (hỷ tâm và từ
tâm là tâm lý đối ngược với sân tâm).
- Về nghi triền cái:
Nghi tâm thường gây ra các tâm lý
bất ổn, thiếu quyết định, loạn động. Có nhiều vấn
đề của nghi mà hành giả cần ổn định trước khi tu tập
Thiền định.
Pháp môn Tứ niệm xứ, đặc biệt
là pháp niệm hơi thở vào, hơi thở ra (với Tứ niệm xứ
thì chỉ tránh quán bất tịnh) là pháp môn hiền thiện mà
Thế Tôn đã dạy. Pháp môn này không dẫn hành giả đến
điên loạn. Hành giả tu tập có nghĩa là tập điều hòa thân,
điều hòa hơi thở, điều hòa tâm, giữ chánh niệm tỉnh
giác, và chỉ hành với nỗ lực vừa phải, thì với tất
cả công việc đó xét ra không có tác động tai hại đến
hệ thống thần kinh gì cả, ngược lại còn tạo điều kiện
tốt cho toàn bộ thân thể làm việc. Hành giả cần dứt khoát
rằng Thiền định này không bao giờ gây ra tình trạng điên
loạn hay rối loạn.
Có người cho rằng Thiền định
là pháp môn tu tập chỉ dành cho căn cơ đặc biệt, nghĩa
là không phải dành cho mình, rồi không khởi quyết tâm tu
tập. Thực ra, Thiền định thích hợp với mọi căn cơ, không
trừ một ai. Có bốn mươi đối tượng tu Thiền dành cho sáu
hạng căn cơ của nhân loại, theo sự trình bày của Nikàya,
A-hàm và Bát-nhã. Ðiều này nói rõ là Thiền định thích
hợp với mọi người.
Có người nghi ngờ Thiền chỉ là
giáo lý của một bộ phái Phật giáo, chưa hẳn nó là giáo
lý chính truyền. Ta phải ổn định nhận thức rằng, Thiền
là con đường độc nhất đi đến giải thoát như Thế Tôn
dạy. Ðạo đế là con đường tu tập qua Thiền định như
đã được trình bày ở Tứ Thánh đế.
Hoặc giả, có người thấy Tứ
niệm xứ hay niệm hơi thở vào, hơi thở ra giản dị quá
mà đâm ra nghi ngờ khả năng dắt dẫn đến định và giải
thoát của pháp môn này. Thực tế, Thiền định không đòi
hỏi ta làm thêm điều gì ngoài nhiệt tâm tinh cần, chánh
niệm tỉnh giác, và nhiếp phục tham ưu ở đời. Qua
ba yêu cầu đó, theo dõi hơi thở vào, hơi thở ra đã là công
việc quá nhiều, bởi Thiền định chỉ đề nghị chúng ta
biết buông xả những tạp niệm, ác niệm, những tâm lý thụ
động, tháo động, những thứ có quá nhiều và quá thừa
ở trong thân tâm chúng ta. Thực hiện sự buông xả ấy là
thực hiện Thiền định.
Sau khi được định Sơ thiền, Nhị
thiền, Tam thiền, ta còn tiếp tục từ giả chúng để trú
tâm vào Tứ thiền. Ở Tứ thiền, hành giả còn phải giác
tỉnh để tiếp tục buông xa tận gốc các tham tâm, sân tâm
và si tâm nữa. Vấn đề không phải là thêm mà là bớt việc.
Chỉ cần một niệm lực từ sự tu tập giản dị ấy phát
sinh thì các sức mạnh tâm lý khác như tư duy, tinh tấn, hỷ,
lạc, định... sẽ từ niệm lực ấy dấy khởi. Bí mật và
khó khăn của việc hành Thiền định và cũng là bí mật của
cuộc đời và của giải thoát, là chính lòng dục của ta.
Nếu nhận thức rõ cái nguy hiểm tối thượng của lòng dục,
ta nhất tâm buông xả nó, thì đối với Thiền định ta sẽ
không còn có bao nhiêu công việc để làm nữa, ta sẽ nhận
ra ngay con đường tu tập giản dị ấy là kỳ diệu và độc
nhất.
Sau lòng dục ấy, trở ngại còn
lại sau cùng, chính là mối nghi ngờ trên của ta. Mối nghi
ngờ ấy là sản phẩm của tư duy quá phức tạp và thiếu
cơ sở thực tại của ta. Nếu ta quan niệm phải có những
khó khăn trong tu tập Thiền định mới hợp lý, thì việc
buông bỏ lòng dục kia, và sự chế ngự tư duy kia chính là
những khó khăn nhất mà ta đang mong chờ. Ðấy là hai thứ
gây nên vạn nỗi rối loạn, khổ đau cho con người. Tại
đây ta cần minh định rõ ràng với tự thân rằng, Thiền
định là loại bỏ dục vọng và mọi tà tư duy, mà không
bao giờ với dục vọng và với tà tư duy ấy ta có thể nỗ
lực đi đến Thiền định cả.
Nếu ổn định được tất cả
các nghi ngờ có thể có ở trên, thì ta có thể bắt đầu
đi vào tu tập Thiền với lòng đầy thanh thản, tin tưởng
và đầy hân hoan, ta sẽ có nhiều hy vọng hơn bao giờ cả
trong việc mở bung cánh cửa đi vào các cảnh giới Thiền.
Nếu ta không có nhận thức như
vậy và đi vào tu tập như vậy thì tất cả công phu tu tập
Thiền định của ta chỉ còn lại hơi thở, những ảo giác
và những mong chờ vô vọng.
(Xin xem tiếp đoạn kế)