Chương
Hai - Pháp Bảo
Tiết XII
Tứ như ý túc
Tứ như ý là dịch
âm từ chữ Iddhi (Pàli). Thế Tôn dạy: "Ở đây vị Tỷ-kheo
thực hiện nhiều loại thần thông, một thân hiện ra nhiều
thân, đi trên không..., đi trên nước, độn thổ..., với tay
sờ mặt trăng, mặt trời..., có thể tự thân bay đến cõi
Phạm Thiên, này các Tỷ-kheo, đây gọi là Như ý". (Tương
Ưng, V, Sđd. tr. 289)
- "Con đường nào, đạo lộ nào
đưa đến chứng được Như ý, này các Tỷ-kheo, đây gọi
là Như ý túc". (Sđd. tr. 289)
Tứ như ý túc là dục định, tinh
tấn định, tâm định và tư duy định.
Nếu hành giả nương vào dục mà
được định, được nhất tâm thì gọi là dục định.
Nếu hành giả nương vào tinh tấn được định, được nhất
tâm thì gọi là tinh tấn định. Nếu hành giả nương
vào tư duy được định, được nhất tâm, đây gọi là tâm
định, cũng gọi là tư duy định. (Sđd. tr. 209-210)
Tu tập Tứ
như ý túc
"Tu tập Như ý túc cùng với dục
định, tinh cần hành; tu tập Như ý túc cùng với tinh tấn
định, tinh cần hành; tu tập Như ý túc cùng với tâm định,
tinh cần hành; tu tập Như ý túc cùng với tư duy định, tinh
cần hành; đấy gọi là tu tập Như ý túc". (Sđd. tr. 280)
"Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người
tu tập Như ý túc cùng với dục định, tinh cần hành, với
ý nghĩ: như vậy, ý muốn ta sẽ không quá thụ động và không
quá hăng say, không co rút phía trong, sẽ không phân tán phía
ngoài, an trú với trước sau đồng đẳng, dưới thế nào
thì trên như vậy, trên thế nào thì dưới như vậy, ban ngày
thế nào thì ban đêm như vậy, ban đêm thế nào thì ban ngày
như vậy". (Sđd. tr. 276)
Dục (lòng ham muốn) thụ động
là dục đi đôi với biếng nhác; dục quá hăng say là dục
tương ứng với trạo cử. Dục co rút vào phía trong là dục
tương ứng với hôn trầm, thụy miên; dục phân tán ở phía
ngoài là dục tương ưng với năm dục công đức ở ngoài
(ngũ dục lạc).
Tưởng trước, sau đồng đẳng
là tưởng trước sau khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể
nhập với trí tuệ.
Dưới, trên... quán từ lòng bàn
chân đến tóc đều bất tịnh.
Ðêm, ngày... cùng hành một hành
tướng, nhân tướng.
Tương tự đối với tinh tấn định,
tâm định và tư duy định.
Về Tứ như ý túc, tu tập như trên
sẽ dẫn đến một số kết quả đặc biệt:
- "... Vị Tỷ-kheo chứng được
nhiều loại thần thông: một thân hiện ra nhiều thân...".
(Sđd. tr. 277)
- "Có thể chứng thiên nhĩ thông,
tha tâm thông, thiên nhãn thông, túc mệnh thông và lậu tận
thông". (Sđd. tr. 277)
- "Do tu tập làm sung mãn Tứ như
ý túc này, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc
chắn, thật bền vững, thiện xảo, thời nếu muốn, người
ấy có thể sống đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại".
(Sđd. tr. 272)
- "Do tu tập sung mãn Tứ như ý túc
này, Như Lai được gọ là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác".
(Sđd. tr. 271)
- "Có Tứ như ý túc, này các Tỷ-kheo,
được tu tập, được làm cho sung mãn, trở thành những Thánh
lãnh đạo, dẫn dắt những ai thực hiện đi đến chơn chánh
đoạn diệt khổ đau". (Sđd. tr. 269)
Một số nhận
định về Tứ như ý túc
- Ðiểm đặc biệt thứ nhất của
pháp môn Tứ như ý túc là các bậc Thánh tu tập nhuần nhuyễn
pháp môn này thường trở thành các bậc Thánh lãnh đạo.
Có lẽ sau khi đoạn tận lậu hoặc, nếu điêu luyện Tứ
như ý túc thì sẽ thêm nhiều khả năng giáo hóa, như trường
hợp Tôn giả Mục-kiền-liên là vị đệ nhứt chứng ngộ
Tứ như ý túc, Tôn giả trở thành vị đại đệ tử thứ
hai của Thế Tôn. Về mặt thần thông này thì chỉ có Tôn
giả Mục-kiền-liên là bằng Thế Tôn (tương tự, về mặt
tuệ giải thoát thì có Tôn giả Xá-lợi-phất bằng Thế Tôn).
Chư Thế Tôn đều thiện xảo, điêu luyện Tứ như ý túc.
- Ðiểm đặc biệt thứ hai của
Tứ như ý túc là vị Thánh đệ tử điêu luyện pháp môn
này có thể kéo dài mạng sống đến một tiểu kiếp hay phần
tiểu kiếp còn lại. Kinh Ðại Niết-bàn ghi Thế Tôn đã gợi
ý ba lần về điểm này để Tôn giả A-nan thỉnh Phật trú
thế nhưng Tôn giả không rõ ý Thế Tôn.
- Ðiểm đặc biệt thứ ba của
Tứ như ý là trong khi giáo lý Phật giáo chủ trương đoạn
trừ lòng dục (nơi nào có lòng dục thì nơi đó lòng dục
cần được đoạn trừ) nhưng ở Tứ như ý túc thì dục định
được tu tập.
Một lần (ở Tương ng V), Bà-la-môn
Unnàtha đã thắc mắc vấn đề dục định, sợ rằng không
phù hợp với mục tiêu của Phạm hạnh. Tôn giả A-nan đã
giải thích cho Unnàtha rằng:
"Do trước có lòng dục
thúc đẩy Ông đến đây...
Do trước có tinh tấn thúc đẩy
Ông đến đây...
Do trước có tâm thúc đẩy Ông
đến đây...
Do trước có tư duy thúc đẩy
Ông đến đây...
Sau khi đến đây rồi, dục, tinh
tấn, tâm tư duy của Ông được tịnh chỉ, cũng vậy, vị
A-la-hán thì lòng dục, tinh tấn, tâm, tư duy được tịnh chỉ".
Kinh Tạng Nikàya ít đề cập đến
Tứ như ý túc, thường chỉ đề cập đến thần túc thông.
Phẩm Tứ Pháp của Tăng Chi Bộ Kinh không đề cập đến Tứ
như ý túc. Chỉ có Tương Ưng Bộ Kinh V là đề cập rõ đủ
Ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Qua phần đề cập này, Bát
Thánh đạo là đạo lộ đưa đến tu tập Tứ như ý túc.
Cho nên phần tu tập của pháp môn này vẫn bao gồm đủ Giới,
Ðịnh và Tuệ uẩn. Bốn chi phần Như ý thực sự là dẫn
đến định. Tại đấy, tuệ giác được vận dụng để đoạn
trừ lậu hoặc. Khi chánh trí xuất hiện thì dục định, tinh
tấn định, tâm định và tư duy định được ngưng chỉ,
lặn mất. Tứ như ý túc cần được hiểu như là sức mạnh
tu tập giải thoát, là tất cả nỗ lực để chứng ngộ Niết-bàn.
Ở mặt ngôn ngữ, danh từ, dục
như ý túc nghe gần như bất ổn. Trong khi hành giả phải ly
dục, ly ái mới vào Sơ Thiền, thì ở Tứ như ý túc lại
do dục mà đưa đến Ðịnh. Ði vào nội dung cụ thể của
ly dục và dục định, chúng ta sẽ thấy không có mâu thuẫn
nào giữa hai cách diễn đạt ấy... Ly dục ở đây là rời
khỏi lòng ham muốn ngũ trần (sắc, thanh, hương, vị và xúc),
là những gì ngăn che Thiền định; dục định là lòng mong
muốn, là nhiệt tình, là khát khao loại bỏ mọi thứ ngăn
che Thiền định, mọi lòng dục về các trần để đi vào
Thiền định. Dục đưa đến Ðịnh là khát khao giải thoát
được soi sáng bởi chánh kiến và chánh tư duy. Cần phải
đi vào tu tập mới nhận rõ điểm này. Thí như tiếng gõ
bảng của thầy giáo, cô giáo, tuy cũng là một loại âm thanh
gây động, nhưng nó có tác dụng làm im hẳn đi những ồn
ào của học sinh và để lại sự yên tĩnh của lớp học.
Tiếng gõ bảng khởi lên để dập tắt tiếng ồn của học
sinh, khi tiếng ồn này im bặt, thì tiếng gõ bảng cũng lặn
theo.
Tóm lại, Tứ như ý túc cũng là
một ngõ vào Thiền định, nó thuộc Ðạo đế, nâng gót của
hành giả đi vào giải thoát và tri kiến giải thoát./.