Chương
Hai - Pháp Bảo
Tiết XI
Ngũ căn và Ngũ lực
- Năm căn là: Tín căn, Tấn căn,
Niệm căn, Ðịnh căn và Tuệ căn.
"Vị Thánh đệ tử có lòng tin,
đặt lòng tin ở sự giác ngộ của Như Lai: "Ðây là Thế
Tôn, Như Lai, ng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện
Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu,
Thiên Nhân Sư, Phật". (Tương Ưng V, Sđd. tr.211). Ðây là Tín
căn.
- "Dựa vào Tứ chánh cần, thu nhận
tinh tấn gì, này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tấn căn".
- "Dựa vào Tứ niệm xứ, thu nhận
niệm nào, này các Tỷ-kheo, đây gọi là Niệm căn".
(Sđd. tr. 211)
- "Vị Thánh đệ tử sau khi từ
bỏ pháp sở duyên, được định, được nhất tâm. Ðây gọi
là Ðịnh căn". (Sđd. tr. 211) Ðịnh căn tương đương
với Tứ sắc định.
- "Vị Thánh đệ tử có trí tuệ,
thành tựu trí tuệ về sanh diệt của các pháp, với trí tuệ,
các bậc Thánh thể nhập các pháp, đưa đến đoạn tận khổ
đau". (Sđd. tr. 211) Ðây gọi là Tuệ căn, tương đương
với tri kiến về Tứ đế.
Tu Tập Ngũ
Căn
Ðức Thế Tôn dạy:
- "Cần phải quán Tín căn
trong bốn Dự lưu phần (tín của bậc Thánh Tu-đà-hoàn)".
- "Cần phải quán Tấn căn trong
Tứ chánh cần".
- "Cần phải quán Niệm căn trong
Tứ niệm xứ".
- "Cần phải quán Ðịnh căn trong
Bốn sắc Thiền".
- "Cần phải quán Tuệ căn trong
Tứ Thánh đế". (Sđd. tr. 207)
Như vậy, tu tập Năm căn là đã tu
tập Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, đã hành sâu Thiền định,
đã có tuệ giác, có thể liễu ngộ khổ và diệt. Hay nói
cách khác, tu tập Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, hành sâu Thiền
định chính là tu tập Ngũ căn.
Tại đây, lại một lần nữa nói
lên điểm nhất quán trong các giáo lý tu tập của Thế Tôn:
Tất cả đều xây dựng trên Giới uẩn, Ðịnh uẩn và Tuệ
uẩn; tất cả đều nhắm đến đoạn tận tham ái, đoạn
tận khổ đau.
Với sự tu tập Ngũ căn, như vừa
trình bày, hành giả sẽ đi đến kết quả như sau:
- "Với sự toàn diện, này các Tỷ-kheo,
với sự viên mãn Năm căn này, là bậc A-la-hán. Yếu nhẹ
hơn là bậc Bất lai. Yếu nhẹ hơn là bậc Nhất lai. Yếu
nhẹ hơn là bậc Thất lai (Nhập lưu). Yếu nhẹ hơn là bậc
Tùy pháp hành. Yếu nhẹ hơn nữa là bậc Tùy tín hành". (Sđd.
tr. 212)
- "Sanh y lấy ái làm nhân, lấy ái
làm tập khởi, lấy ái làm tái sinh, lấy ái làm hiện hữu.
Do ái không có mặt, sanh y không hiện hữu. Vị ấy biết sanh
y, sanh y tập khởi, sanh y đoạn diệt. Do thực hành như vậy,
vị ấy được gọi là bậc Tùy pháp hành".
Tùy tín hành là vị học hỏi rồi
sau mới vào con đường thực hành của Tùy pháp hành.
- "Ðối với ai, này các Tỷ-kheo,
năm căn này toàn bộ và toàn diện không có, thì Ta nói rằng
người ấy là người đứng phía ngoài, là thuộc thành phần
phàm phu". (Sđd. tr. 215)
- "Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo,
Ta không như thật biết rõ sự tập khởi, sự chấm dứt,
vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm căn này,
cho đến khi ấy, Ta không có biết rõ về ý nghĩa về sự
chứng ngộ Vô Thượng Chánh Ðẳng Giác đối với thế giới
như Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng
Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người". (Sđd. tr. 216)
- "Khi nào vị đệ tử biết rõ
sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và
sự xuất ly của năm căn này, khi ấy, này các Tỷ-kheo, vị
Thánh đệ tử ấy được gọi là bậc Thánh Dự lưu". (Sđd.
tr. 148)
- "Khi nào vị đệ tử biết rõ
sự tập khởi (-nt-), giải thoát không có chấp thủ, khi ấy
vị Thánh đệ tử ấy được gọi là A-la-hán". (Sđd. tr. 218)
Qua các xác nhận trên của Thế
Tôn, Thế Tôn được hiểu như là một bậc A-la-hán tu tập
hoàn toàn viên mãn Ngũ căn.
Ðiểm đặc biệt của pháp môn
Ngũ căn là pháp môn này có thể tu tập dung thông với Tứ
niệm xứ và Tứ chánh cần, có thể đi thẳng vào mục tiêu
đoạn diệt khổ, đắc Niết-bàn ngay trong hiện tại.
Tại đây, cũng như ở Bát Thánh
đạo và Thất giác chi, nói lên thật rõ ràng Ðạo đế (hay
37 phẩm trợ đạo) là pháp tu dẫn đến kết quả chứng ngộ
quả vị tối thượng. Tứ Thánh đế là pháp tối thượng
mà không phải là pháp Thanh văn, Tiểu thừa như một số nhà
nghiên cứu quan niệm.
Sức mạnh của Ngũ căn được gọi
là Ngũ lực. Ðó là: Tín lực, Tấn lực, Niệm lực, Ðịnh
lực và Tuệ lực.
Hiểu rõ Ngũ căn ở trên là hiểu
rõ Ngũ lực.
Ðề cập đến Ngũ lực, Thế Tôn
dạy:
"Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng
thiên về phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về
phương Ðông, cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo tu tập
Ngũ lực, làm cho sung mãn Ngũ lực, thiên về Niết-bàn, hướng
về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn (Sđd. tr. 195)
"Vị Tỷ-kheo tu tập Tín lực liên
hệ đến viễn ly, ly tham, đoạn diệt, hướng đến từ bỏ
(tương tự đối với tấn, niệm, định và tuệ lực).
"Ðể thắng tri, liễu tri, đoạn
diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, năm lực
này cần phải tu tập". (Sđd. tr. 196)
Như thế, Ngũ căn và Ngũ lực là
pháp môn mà một bậc Thánh Bất lai cần phải tu tập viên
mãn để đoạn tận nhứt thiết hoặc, hoặc tận vô minh.
Tuệ căn và Tuệ lực luôn luôn cần đến sự hỗ trợ của
Ðịnh Căn và Ðịnh lực. Ðây là ý nghĩa Ðịnh uẩn hỗ
trợ cho sự thành tựu viên mãn của Tuệ uẩn./.